Luận văn thạc sĩ về đặc điểm lâm sàng và điều trị bệnh nhân đái ra dưỡng chấp tại Bệnh viện E Hà Nội

Luận văn thạc sĩ phân tích đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân đái ra dưỡng chấp tại bệnh viện E Hà Nội.

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ y học

2018

86
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIẢI PHẪU, SINH LÝ HỆ TIẾT NIỆU VÀ HỆ THỐNG BẠCH HUYẾT

1.1. Giải phẫu, sinh lý hệ tiết niệu

1.2. Giải phẫu, sinh lý hệ thống bạch huyết

1.3. Bệnh đái ra dưỡng chấp

1.3.1. Khái niệm bệnh đái ra dưỡng chấp

1.3.2. Cơ chế bệnh sinh đái ra dưỡng chấp

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh đái ra dưỡng chấp tại Bệnh viện E Hà Nội

Bệnh đái ra dưỡng chấp (ĐRDC) là một bệnh lý hiếm gặp nhưng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh. Tại Bệnh viện E Hà Nội, bệnh nhân ĐRDC thường gặp phải các triệu chứng như nước tiểu có màu trắng như sữa hoặc đỏ đục như máu. Bệnh lý này chủ yếu do sự rò rỉ dịch bạch huyết từ hệ tiêu hóa vào hệ tiết niệu. Việc hiểu rõ về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh là rất cần thiết để có phương pháp điều trị hiệu quả.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh đái ra dưỡng chấp

Bệnh nhân ĐRDC thường có triệu chứng điển hình như nước tiểu có màu sắc bất thường. Các triệu chứng khác bao gồm đau vùng thắt lưng, đái buốt và đái rắt. Những triệu chứng này có thể gây ra tâm lý lo lắng cho bệnh nhân và gia đình.

1.2. Nguyên nhân gây bệnh đái ra dưỡng chấp

Nguyên nhân chính gây ra ĐRDC thường là do nhiễm ký sinh trùng, chấn thương hoặc bẩm sinh. Trong đó, nhiễm ký sinh trùng chiếm tỷ lệ cao nhất, đặc biệt là ở các nước nhiệt đới như Việt Nam.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị bệnh đái ra dưỡng chấp

Điều trị bệnh ĐRDC gặp nhiều thách thức do tính chất bệnh lý phức tạp. Bệnh nhân thường đến khám khi đã có triệu chứng nặng, dẫn đến việc điều trị trở nên khó khăn hơn. Hơn nữa, việc chẩn đoán chính xác và kịp thời là rất quan trọng để có phương pháp điều trị phù hợp.

2.1. Thách thức trong chẩn đoán bệnh đái ra dưỡng chấp

Chẩn đoán ĐRDC thường gặp khó khăn do triệu chứng không đặc hiệu. Việc phân biệt với các bệnh lý khác cần thiết phải thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng như chụp UPR và xét nghiệm dưỡng chấp niệu.

2.2. Khó khăn trong điều trị bệnh đái ra dưỡng chấp

Điều trị ĐRDC chủ yếu là nội khoa, nhưng một số bệnh nhân vẫn cần can thiệp ngoại khoa. Việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp với từng bệnh nhân là một thách thức lớn cho các bác sĩ.

III. Phương pháp điều trị bệnh đái ra dưỡng chấp hiệu quả

Tại Bệnh viện E Hà Nội, các phương pháp điều trị ĐRDC được áp dụng bao gồm điều trị nội khoa và ngoại khoa. Điều trị nội khoa thường là lựa chọn đầu tiên, với các biện pháp như bơm nitrat bạc và chống nhiễm khuẩn. Nếu không hiệu quả, bệnh nhân sẽ được xem xét điều trị ngoại khoa.

3.1. Phương pháp điều trị nội khoa bệnh đái ra dưỡng chấp

Điều trị nội khoa bao gồm việc sử dụng thuốc chống nhiễm khuẩn và các biện pháp hỗ trợ khác. Kết quả điều trị nội khoa thường khả quan, giúp bệnh nhân hồi phục nhanh chóng.

3.2. Phương pháp điều trị ngoại khoa bệnh đái ra dưỡng chấp

Trong trường hợp điều trị nội khoa không hiệu quả, bệnh nhân có thể được chỉ định phẫu thuật. Phẫu thuật nhằm mục đích khắc phục rò rỉ bạch huyết và cải thiện tình trạng sức khỏe cho bệnh nhân.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn tại Bệnh viện E Hà Nội

Nghiên cứu tại Bệnh viện E cho thấy tỷ lệ thành công trong điều trị ĐRDC khá cao. Các phương pháp điều trị được áp dụng đã mang lại hiệu quả tích cực cho bệnh nhân. Việc theo dõi và đánh giá kết quả điều trị là rất quan trọng để cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe.

4.1. Kết quả điều trị bệnh đái ra dưỡng chấp

Kết quả điều trị cho thấy nhiều bệnh nhân đã hồi phục hoàn toàn sau khi áp dụng các phương pháp điều trị phù hợp. Tỷ lệ tái phát cũng được ghi nhận là thấp.

4.2. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu

Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về bệnh ĐRDC mà còn cung cấp thông tin quý giá cho các bác sĩ trong việc điều trị và chăm sóc bệnh nhân.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong điều trị bệnh đái ra dưỡng chấp

Bệnh đái ra dưỡng chấp là một bệnh lý cần được chú ý và điều trị kịp thời. Tại Bệnh viện E Hà Nội, các phương pháp điều trị hiện tại đã cho thấy hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện hơn nữa kết quả điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

5.1. Kết luận về bệnh đái ra dưỡng chấp

Bệnh ĐRDC là một bệnh lý phức tạp, nhưng với sự phát triển của y học hiện đại, việc điều trị đã đạt được nhiều thành công. Cần tiếp tục nâng cao nhận thức về bệnh để có thể phát hiện và điều trị sớm.

5.2. Triển vọng tương lai trong điều trị bệnh đái ra dưỡng chấp

Triển vọng trong điều trị ĐRDC sẽ được cải thiện nhờ vào các nghiên cứu mới và ứng dụng công nghệ hiện đại. Việc phát triển các phương pháp điều trị mới sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu biến chứng cho bệnh nhân.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân đái ra dưỡng chấp tại bệnh viện e hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Giải phẫu, sinh lý hệ tiết niệu và hệ thống bạch huyết 1. Giải phẫu, sinh lý hệ tiết niệu Hệ tiết niệu gồm có hai thận, hai niệu quản, một bàng quang và một niệu đạo. Thận là cơ quan lọc máu và tạo nên nước tiểu.

Nước tiểu từ thận đi xuống qua niệu quản được tích lại ở bàng quang trước khi được đẩy ra ngoài qua niệu đạo [9],[11],[12],[15]. * Thận: Chức năng chính của thận là sản xuất nước tiểu. Thận nằm sau ngoài ổ phúc mạc, hai bên đốt sống thắt lưng, trong góc tạo bởi xương sườn XI và cột sống, thận phải thấp hơn thận trái 2 cm. Thận hình hạt đậu, màu đỏ nâu, mật độ chắc nhưng dễ vỡ do chứa đầy máu và nước tiểu.

* Niệu quản Niệu quản là ống dẫn nước tiểu từ bể thận hướng xuống dưới, ra trước vào trong tới bàng quang, niệu quản dài 25 cm , đường kính 3 - 5 mm, nằm sau phúc mạc sát vào thành bụng sau. Niệu quản có 3 chỗ thắt hẹp: chỗ nối với bể thận, chỗ bắt chéo động mạch chậu và chỗ đổ vào bàng quang. Niệu quản được chia làm 2 đọan: Niệu quản đoạn bụng đi từ chỗ nối bể thận – niệu quản đến đường cung xương chậu. Niệu quản đoạn chậu đi từ đường cung xương chậu đến chỗ nối niệu quản – bàng quang.

Ở nam, niệu quản đi ở mặt sau bàng quang và bắt chéo với ống dẫn tinh (niệu quản nằm phía sau ống dẫn tinh) → lưu ý khi thắt ống dẫn tinh có thể thắt nhầm niệu quản. Ở nữ niệu quản chạy ở đáy dây chằng rộng cùng với động mạch tử cung rồi bắt chéo với động mạch tử cung ở chỗ cách cổ tử cung và thành bên âm đạo 0,8 - 1,5cm. Khi cắm vào mặt sau bàng quang, 2 niệu quản cách nhau 5cm. Bên trong thành bàng quang, chúng cắm chếch ra trước và vào trong nên 2 lỗ niệu quản ở mặt trong bàng quang chỉ cách nhau 2,5cm.

3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Bàng quang: Bàng quang nằm dưới và ngoài phúc mạc, trong chậu hông bé, sau khớp mu, trước các tạng sinh dục. Bàng quang là túi đựng nước tiểu, dung tích trung bình từ 250 – 300 ml. Khi bàng quang đầy: mặt trên bàng quang căng phồng lên trên khớp mu như một vòm cầu (gọi là cầu bàng quang). * Niệu đạo: Niệu đạo nam: vừa là đường dẫn tinh vừa là đường dẫn nước tiểu, dài 16 cm đi từ cổ bàng quang xuyên qua tuyến tiền liệt.

Niệu đạo nữ: là đường dẫn nước tiểu, dài 3-4 cm đi từ cổ bàng quang chếch xuống dưới và ra trước tới âm hộ thông ra ngòai bằng lỗ tiểu tiện. * Sinh lý tiết niệu Đường tiết niệu là đường quan trọng nhất để đào thải các chất bài tiết ra ngoài cơ thể, có thể duy trì sự ổn định của hằng số nội môi. Cơ chế tạo nước tiểu ở thận: Gồm 3 cơ chế + Cơ chế lọc ở cầu thận [8],[11]. + Cơ chế tái hấp thu ở ống thận: ống thận sẽ hấp thu lại 99% nước của nước tiểu đầu và một số chất để đưa vào máu, chỉ để lại 1,2 - 1,5 lít (1ml/1kg/1 giờ ) thành nước tiểu cuối vận chuyển các chất đào thải ra ngoài.

+ Cơ chế bài tiết ở ống thận: các ống quanh co như một tuyến bài tiết nên có các chức năng bài tiết tích cực các chất sau: Axit hippuric, NH3. Chức năng của thận: + Chức năng chính của thận là bài tiết nước tiểu. Bài tiết các chất độc và cặn bã: Urê, axit uric , creatinin, thuốc, chất màu. + Chức năng tổng hợp: Sản sinh ra NH3 để tham gia vào việc điều hòa PH của máu + Điều hòa các thành phần của máu + Điều hòa nước + Điều hòa nồng độ NaCl + Điều hòa PH 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Giải phẫu, sinh lý hệ thống bạch huyết Bạch huyết là dịch trong suốt bao bọc các mô của cơ thể, giữ cân bằng chất lỏng, và loại bỏ vi khuẩn khỏi các mô. Bạch huyết thâm nhập hệ tuần hoàn qua các mạch bạch huyết. Bạch huyết được vận chuyển từ các mô tới tĩnh mạch qua hệ thống mạch bạch huyết. Trong hệ thống đó, bạch huyết được lọc qua các cơ quan như lá lách, tuyến ức và các hạch bạch huyết.

Ở động vật có vú, bạch huyết được đẩy qua các mạch bạch huyết chủ yếu bởi hiệu ứng vận động của các cơ xung quanh mạch [9],[13],[15],[17]. Thành phần chủ yếu của bạch huyết là các bạch huyết bào và đại thực bào. Hệ miễn dịch sử dụng các tế bào này để chống lại sự thâm nhập của các vi sinh vật ngoại lai. Các đại thực bào là các tế bào có nhiệm vụ bao vây và ăn sinh vật ngoại lai.

Còn bạch huyết bào là các tế bào bạch cầu có nhiệm vụ trung hòa các vi sinh vật ngoại lai bằng hóa học. 1 Mao mạch bạch huyết trong không gian mô Các mao mạch bạch huyết khác với các mao mạch máu ở chỗ chúng không có lớp màng nền và các tế bào biểu mô đơn giản có hình vảy hơi chồng lên nhau và tế bào này đính vào tế bào kia một cách lỏng lẻo. Cấu trúc này làm cho mao mạch bạch huyết có tính thấm hơn rất nhiều so với mao mạch máu, và không có 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cái gì ở dịch kẽ lại không có ở các mao mạch bạch huyết. Biểu mô ở mao mạch bạch huyết hoạt động như một loạt van mở theo một hướng cho phép thể dịch vào được mao mạch bạch huyết mà không cho trôi ngược trở ra khoang dịch kẽ.

Ba cơ chế chính chịu trách nhiệm cho chuyển dịch của bạch huyết trong mạch [11]: (i) Sự co mạch bạch huyết: Ở nhiều bộ phận của cơ thể, mạch bạch huyết bơm bạch huyết đi. Các van một chiều chia các mạch bạch huyết ra thành các hốc, hoạt động như "các quả tim sơ khai". Bạch huyết di chuyển vào hốc, các cơ trơn ở thành hốc co và bạch huyết chảy đến hốc kế tiếp. Một số tế bào cơ trơn ở thành mạch bạch huyết là các tế bào tạo nhịp.

Các tế bào tạo nhịp tự động khử cực, gây sự co cơ theo chu kỳ của các mạch bạch huyết. (ii) Sự co của cơ xương: Khi tế bào cơ xung quanh co, mạch bạch huyết bị đè ép, làm cho bạch huyết chuyển động. (iii) Các thay đổi áp lực lồng ngực. Trong quá trình hít vào, áp lực ở khoang lồng ngực giảm, các mạch bạch huyết mở rộng và bạch huyết chảy vào đó.

Khi thở ra, áp lực khoang lồng ngực tăng, mạch bạch huyết bị đè ép, làm bạch huyết chảy đi. * Chức năng của hệ thống bạch huyết - Cân bằng thể dịch: Mỗi ngày có khoảng 30 lít dịch đi từ các mao mạch máu vào dịch kẽ, trong đó chỉ có 27 lít đi ngược trở lại. Nếu 3 lít còn lại vẫn ở lại dịch kẽ, sẻ gây phù làm tổn thương mô và cuối cùng là tử vong. Nhờ có hệ bạch huyết 3 lít dịch này được đi vào các mao mạch bạch huyết.

Các dịch này gọi là bạch huyết. Bạch huyết đi qua mạch bạch huyết rồi trở về máu. Cùng với nước, bạch huyết chứa các chất tan lấy từ hai nguồn: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (1) Các chất trong huyết tương, như các ion, các chất dinh dưỡng, các khí, và một số protein, đi từ mao mạch máu vào dịch kẽ và trở thành thành phần của bạch huyết. (2) Các chất lấy từ các tế bào như các hormone, các enzym và các chất thải, cũng được tìm thấy trong bạch huyết.

- Hấp thu chất béo: Hệ bạch huyết hấp thụ các chất béo và các chất khác từ đường tiêu hóa. Các mạch bạch huyết gọi là các bạch mạch – lacteal nằm ở lớp lót ruột non. Mỡ đi vào các lacteal và đi qua các mạch bạch huyết vào vòng tuần hoàn tĩnh mạch. Bạch huyết đi qua các mạch bạch huyết này, gọi là dưỡng chấp, có dạng sữa vì có chứa mỡ.

- Bảo vệ: Các vi thể và các dị vật đổ vào bạch huyết và máu từ các hạch bạch huyết và lá lách. Thêm nữa, các tế bào bạch huyết và các tế bào khác có khả năng tiêu hủy các vi thể và các dị vật này. Bệnh đái ra dưỡng chấp 1. Khái niệm bệnh đái ra dưỡng chấp Dưỡng chấp là một loại dịch sữa hay dịch cơ thể chứa bạch huyết và các chất béo được nhũ tương hoá hoặc các acid béo tự do.

Dưỡng chấp được hình thành ở ruột non trong quá trình tiêu hoá từ sự tiêu hoá các chất béo của thức ăn và được thu nhận bởi các bạch mạch là các mạch nhũ chấp ruột non một cách đặc biệt, khác với các thành khác của thức ăn được tiêu hoá rồi được chuyên chở bởi tĩnh mạch [50]. Các mạch nhũ chấp ruột non phù hợp hơn với sự vận chuyển các acid béo tự do ngay từ đường tiêu hoá. Các acid béo có thể là các phân tử khá lớn. Dưỡng chấp dễ dàng chảy vào các mạch nhũ chấp ruột non, các mạch này của hệ thống bạch huyết có áp lực thấp hơn áp lực trong các tĩnh mạch.

Dưỡng chấp là một chất chỉ có trong hệ thống bạch huyết mà thành phần chủ yếu là lipid, phân tích cụ thể là: Triglycerid: 92%, Phospho – lipid: 7% và vết cholesterol tự do: 1%. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dưỡng chấp niệu (chyluria) là sự rò rỉ chất dưỡng chấp (chyle) hay dịch bạch huyết từ đường tiêu hoá (intestinal lymph) vào hệ tiết niệu và xuất hiện trong nước tiểu [26] [32],[46],[48],[52]. Dưỡng chấp niệu thường được thấy ở vùng nông thôn của những nước nghèo. Nguyên nhân của dưỡng chấp niệu được phân loại thành loại do nhiễm ký sinh trùng và loại không do nhiễm ký sinh trùng.

Đái ra dưỡng chấp là bệnh lý của hệ tiết niệu do có sự xuất hiện dưỡng chấp hay dịch bạch huyết từ đường tiêu hóa trong nước tiểu, do có đường rò giữa hệ thống bạch huyết và hệ thống thận - tiết niệu [16],[36],[56],[57]. Bệnh có tính chất từng đợt xen kẽ những giai đoạn bình thường, kéo dài nhiều năm [38] ĐRDC tuy không phải là một bệnh cấp cứu, hoặc gây tử vong dễ dàng nhưng cần phải được điều trị tích cực vì: Do lượng dưỡng chấp thường xuyên bài tiết ra ngoài làm cho người bệnh dần dần bị suy kiệt và chết do xơ gan, lao phổi, suy dinh dưỡng… ảnh hưởng tới sức khỏe bệnh nhân. Hầu hết bệnh nhân ở trong lứa tuổi trẻ, đang lao động cho nên cần tích cực điều trị cần đạt kết quả tốt để người bệnh tiếp tục lao động bình thường [3] .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Đặc điểm lâm sàng và điều trị bệnh đái ra dưỡng chấp tại Bệnh viện E Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các triệu chứng lâm sàng và phương pháp điều trị bệnh đái ra dưỡng chấp. Bài viết không chỉ nêu rõ các đặc điểm lâm sàng của bệnh mà còn phân tích các phương pháp điều trị hiệu quả, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tình trạng này và cách thức quản lý bệnh.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của áp xe quanh amidan", nơi cung cấp thông tin về một tình trạng lâm sàng khác có thể liên quan đến các triệu chứng tương tự. Ngoài ra, tài liệu "Khóa luận tốt nghiệp đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật rau cài răng lược tại bệnh viện phụ sản hà nội" cũng có thể cung cấp thêm thông tin về các phương pháp điều trị phẫu thuật trong lĩnh vực y tế. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và nhận xét một số yếu tố nguy cơ ung thư biểu mô khoang miệng tại bệnh viện k", để có cái nhìn tổng quát hơn về các yếu tố nguy cơ trong các bệnh lý liên quan đến khoang miệng.

Mỗi tài liệu này đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan, mở rộng kiến thức và hiểu biết của mình trong lĩnh vực y tế.