Chương 1. Giải phẫu, sinh lý hệ tiết niệu và hệ thống bạch huyết 1. Giải phẫu, sinh lý hệ tiết niệu Hệ tiết niệu gồm có hai thận, hai niệu quản, một bàng quang và một niệu đạo. Thận là cơ quan lọc máu và tạo nên nước tiểu.
Nước tiểu từ thận đi xuống qua niệu quản được tích lại ở bàng quang trước khi được đẩy ra ngoài qua niệu đạo [9],[11],[12],[15]. * Thận: Chức năng chính của thận là sản xuất nước tiểu. Thận nằm sau ngoài ổ phúc mạc, hai bên đốt sống thắt lưng, trong góc tạo bởi xương sườn XI và cột sống, thận phải thấp hơn thận trái 2 cm. Thận hình hạt đậu, màu đỏ nâu, mật độ chắc nhưng dễ vỡ do chứa đầy máu và nước tiểu.
* Niệu quản Niệu quản là ống dẫn nước tiểu từ bể thận hướng xuống dưới, ra trước vào trong tới bàng quang, niệu quản dài 25 cm , đường kính 3 - 5 mm, nằm sau phúc mạc sát vào thành bụng sau. Niệu quản có 3 chỗ thắt hẹp: chỗ nối với bể thận, chỗ bắt chéo động mạch chậu và chỗ đổ vào bàng quang. Niệu quản được chia làm 2 đọan: Niệu quản đoạn bụng đi từ chỗ nối bể thận – niệu quản đến đường cung xương chậu. Niệu quản đoạn chậu đi từ đường cung xương chậu đến chỗ nối niệu quản – bàng quang.
Ở nam, niệu quản đi ở mặt sau bàng quang và bắt chéo với ống dẫn tinh (niệu quản nằm phía sau ống dẫn tinh) → lưu ý khi thắt ống dẫn tinh có thể thắt nhầm niệu quản. Ở nữ niệu quản chạy ở đáy dây chằng rộng cùng với động mạch tử cung rồi bắt chéo với động mạch tử cung ở chỗ cách cổ tử cung và thành bên âm đạo 0,8 - 1,5cm. Khi cắm vào mặt sau bàng quang, 2 niệu quản cách nhau 5cm. Bên trong thành bàng quang, chúng cắm chếch ra trước và vào trong nên 2 lỗ niệu quản ở mặt trong bàng quang chỉ cách nhau 2,5cm.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Bàng quang: Bàng quang nằm dưới và ngoài phúc mạc, trong chậu hông bé, sau khớp mu, trước các tạng sinh dục. Bàng quang là túi đựng nước tiểu, dung tích trung bình từ 250 – 300 ml. Khi bàng quang đầy: mặt trên bàng quang căng phồng lên trên khớp mu như một vòm cầu (gọi là cầu bàng quang). * Niệu đạo: Niệu đạo nam: vừa là đường dẫn tinh vừa là đường dẫn nước tiểu, dài 16 cm đi từ cổ bàng quang xuyên qua tuyến tiền liệt.
Niệu đạo nữ: là đường dẫn nước tiểu, dài 3-4 cm đi từ cổ bàng quang chếch xuống dưới và ra trước tới âm hộ thông ra ngòai bằng lỗ tiểu tiện. * Sinh lý tiết niệu Đường tiết niệu là đường quan trọng nhất để đào thải các chất bài tiết ra ngoài cơ thể, có thể duy trì sự ổn định của hằng số nội môi. Cơ chế tạo nước tiểu ở thận: Gồm 3 cơ chế + Cơ chế lọc ở cầu thận [8],[11]. + Cơ chế tái hấp thu ở ống thận: ống thận sẽ hấp thu lại 99% nước của nước tiểu đầu và một số chất để đưa vào máu, chỉ để lại 1,2 - 1,5 lít (1ml/1kg/1 giờ ) thành nước tiểu cuối vận chuyển các chất đào thải ra ngoài.
+ Cơ chế bài tiết ở ống thận: các ống quanh co như một tuyến bài tiết nên có các chức năng bài tiết tích cực các chất sau: Axit hippuric, NH3. Chức năng của thận: + Chức năng chính của thận là bài tiết nước tiểu. Bài tiết các chất độc và cặn bã: Urê, axit uric , creatinin, thuốc, chất màu. + Chức năng tổng hợp: Sản sinh ra NH3 để tham gia vào việc điều hòa PH của máu + Điều hòa các thành phần của máu + Điều hòa nước + Điều hòa nồng độ NaCl + Điều hòa PH 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Giải phẫu, sinh lý hệ thống bạch huyết Bạch huyết là dịch trong suốt bao bọc các mô của cơ thể, giữ cân bằng chất lỏng, và loại bỏ vi khuẩn khỏi các mô. Bạch huyết thâm nhập hệ tuần hoàn qua các mạch bạch huyết. Bạch huyết được vận chuyển từ các mô tới tĩnh mạch qua hệ thống mạch bạch huyết. Trong hệ thống đó, bạch huyết được lọc qua các cơ quan như lá lách, tuyến ức và các hạch bạch huyết.
Ở động vật có vú, bạch huyết được đẩy qua các mạch bạch huyết chủ yếu bởi hiệu ứng vận động của các cơ xung quanh mạch [9],[13],[15],[17]. Thành phần chủ yếu của bạch huyết là các bạch huyết bào và đại thực bào. Hệ miễn dịch sử dụng các tế bào này để chống lại sự thâm nhập của các vi sinh vật ngoại lai. Các đại thực bào là các tế bào có nhiệm vụ bao vây và ăn sinh vật ngoại lai.
Còn bạch huyết bào là các tế bào bạch cầu có nhiệm vụ trung hòa các vi sinh vật ngoại lai bằng hóa học. 1 Mao mạch bạch huyết trong không gian mô Các mao mạch bạch huyết khác với các mao mạch máu ở chỗ chúng không có lớp màng nền và các tế bào biểu mô đơn giản có hình vảy hơi chồng lên nhau và tế bào này đính vào tế bào kia một cách lỏng lẻo. Cấu trúc này làm cho mao mạch bạch huyết có tính thấm hơn rất nhiều so với mao mạch máu, và không có 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cái gì ở dịch kẽ lại không có ở các mao mạch bạch huyết. Biểu mô ở mao mạch bạch huyết hoạt động như một loạt van mở theo một hướng cho phép thể dịch vào được mao mạch bạch huyết mà không cho trôi ngược trở ra khoang dịch kẽ.
Ba cơ chế chính chịu trách nhiệm cho chuyển dịch của bạch huyết trong mạch [11]: (i) Sự co mạch bạch huyết: Ở nhiều bộ phận của cơ thể, mạch bạch huyết bơm bạch huyết đi. Các van một chiều chia các mạch bạch huyết ra thành các hốc, hoạt động như "các quả tim sơ khai". Bạch huyết di chuyển vào hốc, các cơ trơn ở thành hốc co và bạch huyết chảy đến hốc kế tiếp. Một số tế bào cơ trơn ở thành mạch bạch huyết là các tế bào tạo nhịp.
Các tế bào tạo nhịp tự động khử cực, gây sự co cơ theo chu kỳ của các mạch bạch huyết. (ii) Sự co của cơ xương: Khi tế bào cơ xung quanh co, mạch bạch huyết bị đè ép, làm cho bạch huyết chuyển động. (iii) Các thay đổi áp lực lồng ngực. Trong quá trình hít vào, áp lực ở khoang lồng ngực giảm, các mạch bạch huyết mở rộng và bạch huyết chảy vào đó.
Khi thở ra, áp lực khoang lồng ngực tăng, mạch bạch huyết bị đè ép, làm bạch huyết chảy đi. * Chức năng của hệ thống bạch huyết - Cân bằng thể dịch: Mỗi ngày có khoảng 30 lít dịch đi từ các mao mạch máu vào dịch kẽ, trong đó chỉ có 27 lít đi ngược trở lại. Nếu 3 lít còn lại vẫn ở lại dịch kẽ, sẻ gây phù làm tổn thương mô và cuối cùng là tử vong. Nhờ có hệ bạch huyết 3 lít dịch này được đi vào các mao mạch bạch huyết.
Các dịch này gọi là bạch huyết. Bạch huyết đi qua mạch bạch huyết rồi trở về máu. Cùng với nước, bạch huyết chứa các chất tan lấy từ hai nguồn: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (1) Các chất trong huyết tương, như các ion, các chất dinh dưỡng, các khí, và một số protein, đi từ mao mạch máu vào dịch kẽ và trở thành thành phần của bạch huyết. (2) Các chất lấy từ các tế bào như các hormone, các enzym và các chất thải, cũng được tìm thấy trong bạch huyết.
- Hấp thu chất béo: Hệ bạch huyết hấp thụ các chất béo và các chất khác từ đường tiêu hóa. Các mạch bạch huyết gọi là các bạch mạch – lacteal nằm ở lớp lót ruột non. Mỡ đi vào các lacteal và đi qua các mạch bạch huyết vào vòng tuần hoàn tĩnh mạch. Bạch huyết đi qua các mạch bạch huyết này, gọi là dưỡng chấp, có dạng sữa vì có chứa mỡ.
- Bảo vệ: Các vi thể và các dị vật đổ vào bạch huyết và máu từ các hạch bạch huyết và lá lách. Thêm nữa, các tế bào bạch huyết và các tế bào khác có khả năng tiêu hủy các vi thể và các dị vật này. Bệnh đái ra dưỡng chấp 1. Khái niệm bệnh đái ra dưỡng chấp Dưỡng chấp là một loại dịch sữa hay dịch cơ thể chứa bạch huyết và các chất béo được nhũ tương hoá hoặc các acid béo tự do.
Dưỡng chấp được hình thành ở ruột non trong quá trình tiêu hoá từ sự tiêu hoá các chất béo của thức ăn và được thu nhận bởi các bạch mạch là các mạch nhũ chấp ruột non một cách đặc biệt, khác với các thành khác của thức ăn được tiêu hoá rồi được chuyên chở bởi tĩnh mạch [50]. Các mạch nhũ chấp ruột non phù hợp hơn với sự vận chuyển các acid béo tự do ngay từ đường tiêu hoá. Các acid béo có thể là các phân tử khá lớn. Dưỡng chấp dễ dàng chảy vào các mạch nhũ chấp ruột non, các mạch này của hệ thống bạch huyết có áp lực thấp hơn áp lực trong các tĩnh mạch.
Dưỡng chấp là một chất chỉ có trong hệ thống bạch huyết mà thành phần chủ yếu là lipid, phân tích cụ thể là: Triglycerid: 92%, Phospho – lipid: 7% và vết cholesterol tự do: 1%. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dưỡng chấp niệu (chyluria) là sự rò rỉ chất dưỡng chấp (chyle) hay dịch bạch huyết từ đường tiêu hoá (intestinal lymph) vào hệ tiết niệu và xuất hiện trong nước tiểu [26] [32],[46],[48],[52]. Dưỡng chấp niệu thường được thấy ở vùng nông thôn của những nước nghèo. Nguyên nhân của dưỡng chấp niệu được phân loại thành loại do nhiễm ký sinh trùng và loại không do nhiễm ký sinh trùng.
Đái ra dưỡng chấp là bệnh lý của hệ tiết niệu do có sự xuất hiện dưỡng chấp hay dịch bạch huyết từ đường tiêu hóa trong nước tiểu, do có đường rò giữa hệ thống bạch huyết và hệ thống thận - tiết niệu [16],[36],[56],[57]. Bệnh có tính chất từng đợt xen kẽ những giai đoạn bình thường, kéo dài nhiều năm [38] ĐRDC tuy không phải là một bệnh cấp cứu, hoặc gây tử vong dễ dàng nhưng cần phải được điều trị tích cực vì: Do lượng dưỡng chấp thường xuyên bài tiết ra ngoài làm cho người bệnh dần dần bị suy kiệt và chết do xơ gan, lao phổi, suy dinh dưỡng… ảnh hưởng tới sức khỏe bệnh nhân. Hầu hết bệnh nhân ở trong lứa tuổi trẻ, đang lao động cho nên cần tích cực điều trị cần đạt kết quả tốt để người bệnh tiếp tục lao động bình thường [3] .