CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH BẢO VỆ, CHĂM SÓC TRẺ EM Ở VIỆT NAM 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Trẻ em Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người. Đó là những người chưa trưởng thành, còn non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời.
Tuân theo nguyên lý phát triển của chủ nghĩa duy vật, sự phát triển của con người cũng trải qua nhiều giai đoạn đó là những giai đoạn lứa tuổi. Tính chất đặc thù của mỗi giai đoạn là cơ sở để xác định ranh giới giữa trẻ em và người lớn, các quốc gia trên thế giới đều căn cứ vào tiêu chí duy nhất là độ tuổi. Tuy nhiên, độ tuổi được xác định là trẻ em ở mỗi quốc gia lại có sự khác nhau vì còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia. Theo Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (CRC) năm 1989 định nghĩa trẻ em là những người dưới 18 tuổi.
Ở Việt Nam, theo Luật BVCSGDTE năm 2004 xác định “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Theo quy định này, những trẻ em dưới mưới sáu tuổi và là công dân Việt Nam mới được hưởng đầy đủ các quyền và bổn phận của trẻ em. Luật Trẻ em năm 2016 quy định: "Trẻ em là người dưới 16 tuổi". Qua khái niệm này, chúng ta thấy có sự thay đổi so với trước đây, đó là tất cả trẻ em dưới mười sáu tuổi, không phân biệt là công dân Việt Nam hay người có quốc tịch, người không có quốc tịch ở lãnh thổ Việt Nam đều được bảo vệ, chăm sóc giáo dục như nhau.
Bảo vệ trẻ em BVTE là trách nhiệm của nhà nước, gia đình và mọi công dân trong xã hội đối với việc đảm bảo an toàn cho trẻ em khỏi bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng, bao gồm cả việc loại bỏ những nguy cơ gây tổn hại và ngăn chặn các yếu tố đang gây tổn hại cho trẻ. BVTE là những dịch vụ được cung cấp bởi các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp hướng tới việc can thiệp khẩn cấp và giúp đỡ các em đang có nguy cơ hoặc đã bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng nhằm ngăn chặn, giúp phục hồi và tái hòa nhập cho trẻ em [6]. Luật Trẻ em năm 2016 đưa ra định nghĩa về BVTE như sau: "Bảo vệ trẻ em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có HCĐB" [21]. Như vậy, với cách tiếp cận về BVTE theo từng cấp độ cụ thể từ bảo đảm môi trường sống an toàn cho trẻ em đến việc phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi xâm hại trẻ em và trợ giúp khi trẻ em rơi vào HCĐB, Luật Trẻ em đã đưa ra được khái niệm khá toàn diện về BVTE.Trẻ em không phân biệt gái, trai, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội …đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền lợi theo quy định của pháp luật.
Chăm sóc trẻ em Chăm sóc trẻ em là sự đáp ứng nhu cầu phát triển tâm, sinh lý của trẻ em; cụ thể hơn là đáp ứng nhu cầu phát triển thể chất, tâm lý, tình cảm, đạo đức và xã hội của trẻ; Hiểu một cách đơn giản Chăm sóc trẻ em là hoạt động nuôi dưỡng, giáo dục, theo dõi quá trình phát triển của trẻ nhỏ. Bất cứ một trẻ em nào, từ khi mới lọt lòng mẹ đến tuổi trưởng thành đều cần sự chăm sóc về thể chất, tâm lý, tình cảm, đạo đức và xã hội. Chính sách công 13 Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị nhằm vạch ra những đường hướng hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lý với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc đẩy và quản lí sự phát triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước. Khái niệm chính sách công được diễn đạt khái quát như sau: “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của Đảng chính trị cầm quyền” [13].
Chính sách bảo vệ trẻ em, chăm sóc trẻ em Từ quan niệm về “chính sách công” và “bảo vệ, chăm sóc trẻ em” nêu trên chúng ta có thể định nghĩa về chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em như sau: Chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em là tập hợp các quyết định có liên quan tới việc lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em theo mục tiêu nhà nước đã xác định. Việc thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em là việc thực hiện hóa cácquyết định chính trị về bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Đây là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Nó có nhiệm vụ hiện thực hóa các chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em của nhà nước vào cuộc sống.
Thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em Là một khâu hợp thành chu trình chính sách, thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em có vị trí rất quan trọng. Chu trình chính sách nếu khuyết thiếu công đoạn này thì sẽ bị đứt gãy, không thể tồn tại vì thực hiện chính sách có vai trò trung tâm, kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống hoàn chỉnh. Tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em để từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung. Mục tiêu của chính sách 14 bảo vệ, chăm sóc trẻ em có liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội.
Thực tế, trong quá trình thực hiện chính sách này cho thấy muốn đạt được mục tiêu của chính sách thì phải thông qua việc thực hiện chính sách, và các mục tiêu của chính sách thì cần phải có quan hệ với nhau và ảnh hưởng đến các mục tiêu chung. Thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em còn để khẳng định được tính đúng đắn, tính hợp lý của chính sách. Chính sách này khi triển khai rộng rãi sẽ tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, và khi chính sách được xã hội chấp nhận thì cho thấy tính xác thực, tính đúng đắn của chính sách. Như chúng ta đều biết chính sách là do sự góp sức của một tập thể và do tập thể đó hoạch định mà nên.
Tuy vậy trong quá trình hoạch định chính sách chúng ta cũng không tránh khỏi những ý kiến, những góp ý mang tính chất chủ quan, điều đó sẽ làm ảnh hưởng tới hiệu quả chung trong quá trình thực hiện chính sách. Do vậy, khi chính sách được thực thi thì những người hoạch định chính sách cần nghiên cứu, xem xét và rút kinh nghiệm. Trên cơ sở đó, thực hiện chỉnh sửa để chính sách ngày một đúng đắn, hoàn thiện hơn. Quy trình thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em Luận văn vận dụng hướng tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội và vận dụng các phương pháp nghiên cứu từ lý thuyết chính sách công.
Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng chính sách, thực hiện và đánh giá chính sách có sự tham gia của các bên chủ thể chính sách, cụ thể việc thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em trải qua 07 bước sau: - Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em Tổ chức thực thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, 15 chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách một cách chủ động hoàn toàn. Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống. Các cơ quan triển khai thực thi chính sách từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện. Kế hoạch triển khai thực thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em bao gồm những nội dung cơ bảnsau: Thứ nhất, lập kế hoạch tổ chức điều hành cần đảm bảo những dự kiến về hệ thống các cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách; số lượng và chất lượng nhân sự tham gia tổ chức thực thi; những dự kiến về cơ chế trách nhiệm của cán bộ quản lí và công chức thực thi; cơ chế tác động giữa các cấp thực thi chính sách.
Thứ hai, xác định kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực gồm dự kiến về các cơ sở kiến trúc, trang thiết bị kĩ thuật phục vụ cho tổ chức thực thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em; các nguồn lực tài chính. Thứ ba, kế hoạch thời gian triển khai thực hiện đó là kiến về thời gian duy trì chính sách; dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính sách đến tổng kết rút kinh nghiệm. Mỗi bước đều có mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện mục tiêu. Thứ tư, kế hoạch kiểm tra thực thi chính sách là những dự kiến về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ chức thực thi chính sách.
Thứ năm, dự kiến những nội quy, quy chế trong thực thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em bao gồm nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em. - Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em Sau khi bản kế hoạch thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em 16 được thông qua, các cơ quan trong bộ máy nhà nước tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch.