Chương 1 SỰ ĐẶC BIỆT CUA TO TUNG HÌNH SU DOI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LA NGƯỜI DƯỚI 18 TUOI 1. Sự can thiết phải quy định thủ tục tố tụng đặc biệt đối với bi can, bị cáo là người dưới 18 tuổi 1. Một số khái niệm về quyền của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi - Khái niệm quyên con người “Nhân quyền” là một từ Hán Việt, theo Đại Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì "Nhân quyền" là "quyền con người". Từ điển này mới chỉ giải trình đơn thuần nghĩa Hán-Việt của từ Nhân quyền, mà chưa đề cập đến khái niệm của vấn đề này theo nghĩa được khái quát hóa từ những đặc điểm, nội dung, tính chất đặc thù của nó.
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người, mỗi định nghĩa là một sự biểu hiện khác nhau về góc độ nhìn nhận về van đề nhân quyên. Tuy nhiên, tổng hợp lại các quan niệm đó được phân chia thành ba quan niệm chủ yếu, khác nhau về quyền con người như sau: - Quan niệm thứ nhất: Bắt nguồn từ chỗ coi con người là một thực thê tự nhiên, nên quyền con người phải là quyền "bam sinh", là "đặc quyền", nghĩa là quyền con người, quyên lợi của con người với tư cách là người, gan liền với cá nhân con người, không thể tách rời. Quan điểm này được các đại biểu tư tưởng của giai cấp tư sản ở thế kỷ XVII, XVIII như Crotius, Hobbes, Kant, Locke, Spinoza, Rousseau hoàn thiện và nêu ra trong học thuyết về pháp luật tự nhiên. Trường phái này cho rang, quyền tự nhiên, pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật nhà nước.
- Quan niệm thứ hai: Trải với quan niệm thứ nhất, quan niệm này lại chỉ đặt con người và quyền con người trong mỗi quan hệ xã hội. Quan niệm này cho rang, con người chi là một thực thê xã hội, nên quyên của nó chỉ được xác định trong mối tương quan với các thực thể xã hội khác và vì là quan hệ xã hội nên nó được chế độ nhà nước, pháp luật điều chỉnh bảo vệ. Quan niệm này có tính tích cực khi coi quyền con người là một khái niệm có tính lịch sử, đặt con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Vì con người là thực thé của xã hội, có mối quan hệ phổ biến với xã hội nên quyền con người cũng luôn gan liền với dau tranh giai cấp, đấu tranh chống áp bức bóc lột, đấu tranh chống bạo lực, chống bất công trong xã hội.
Cơ sở của quyền con người ở đây chính là trình độ phát triển của nền kinh tế, văn hóa, xã hội và do chế độ kinh tế, chế độ xã hội quyết định. - Quan niệm thứ ba: Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề quyền con người. Quan niệm này đã khắc phục được tính phiến diện, phản khoa học về con người, quyền con người ở các quan niệm trên. Xuất phát từ quan niệm coi con người vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội, con người mặc dù vẫn là một thực thé tự nhiên như các loài động vật khác, nhưng lại khác với loài động vật khác ở chỗ con người chỉ thực sự tồn tại với tư cách là một con người khi nó được tồn tại trong cộng đồng xã hội.
Hai mặt này tồn tại biện chứng trong một con người. Trong cái tự nhiên của con người có mặt xã hội và trong cái xã hội của con người có mặt tự nhiên. Mặt này trở thành tiền đề cho mặt kia trong moi quan hé chat chẽ không thé tách rời. Xuất phat từ quan niệm này về quyền con người nên chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng vấn đề quyền con người: "Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội".
Xét về mặt tự nhiên, C.Mác cho rằng, con người là "động vật xã hội" có A4 khả năng "tái sinh ra con người", con người là động vật cao cấp nhất trong quá trình tiến hóa. Do đó, về mặt nay, cũng như quan niệm thứ nhất, quyền con người trước hết là một thuộc tính tự nhiên. Quyền con người không phải là một "tặng vật", do giai cấp thống trị ban phát thông qua nhà nước mà quyền 10 con người trong hình thức lịch sử tự nhiên của nó mang bản chất tự nhiên, được thé hiện ở quyền được sống, quyền tự do, quyền được sáng tao, phát triển, quyền được đối xử như con người, xứng đáng với con người. Xét về mặt thứ hai của quan niệm này, con người mặc dù là động vật cao cấp nhất của tự nhiên, nhưng ngay khi tiến hóa trở thành động vật cao cấp, con người đã sống thành bầy đàn và trở thành sản phâm của lịch sử xã hội.
Trong luận cương thứ VỊ về Phoi-ơ-bắc, C.Mác cho rằng: “Trong tính hiện thực cua nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội". Như vậy, con người mặc dù vẫn là thực thê tự nhiên sinh học, là bộ phận của tự nhiên, nhưng bên cạnh đó, dé được gọi là người nó còn phải tổn tại trong cộng đồng xã hội, và biến đổi cùng với cộng đồng xã hội của mình. Bằng khả năng của mình, con người tác động vào tự nhiên, xã hội làm biến đổi tự nhiên và xã hội dé phục vụ nhu cầu tự tôn tai, phát triển của mình. Ngược lại, những biến đổi của tự nhiên, của xã hội do con người tạo ra cũng tác động chỉ phối trở lại con người, làm biến đổi con người.
Do đó xét về khía cạnh xã hội, thì "quyền con người, ngay từ khi có xã hội loài người, bên cạnh bản tính tự nhiên còn in đậm bản tính xã hội". Khi xã hội hình thành giai cấp, hình thành nhà nước đã tạo ra những chuyền biến có tính "bước ngoặt" trong sự biến đổi mối quan hệ tương quan giữa ban tính tự nhiên và bản tính xã hội của quyền con người. Di kèm xã hội có giai cấp là mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp; do đó, trong điều kiện xã hội có giai cấp thì bản tính xã hội trở thành bản tính giai cấp. Và ngay cả bản tính tự nhiên, những giá trị phô biến của quyền con người cũng tất yếu chịu sự chỉ phối của giai cấp thống trị xã hội.
Mặt khác, quyền con người, kể cả quyền tự nhiên, bẩm sinh còn bị ràng buộc, chi phối vào chính khả năng khám phá chinh phục tự nhiên của chính con người, nghĩa là phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện, phát triển của 11 con người, sự phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Con người càng có khả năng chế ngự, chinh phục thiên nhiên bao nhiêu thì tự do, quyền con người ngày càng được mở rộng, ngày càng được đảm bảo bấy nhiêu. Từ quan điểm trên cho thấy, về bản chất, quyền con người bao gồm cả quyền tự nhiên và quyền xã hội. Quyền tự nhiên phải được đặt trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội, chịu sự chi phối, ràng buộc của xã hội, gan liền với quá trình chính phục tự nhiên và xã hội.
Quyền con người chỉ được đặt ra khi nó tồn tại trong cộng đồng người. Khái niệm quyền con người chỉ xuất hiện khi con người bi những thực thể người khác xâm hại đến lợi ích của mình. Hoặc ngược lại, nếu con người ton tại độc lập, không có mối liên hệ cộng đồng, không bi các thực thé khác trong cộng đồng tác động xâm hại đến lợi ich của mình thì không thé làm xuất hiện khái niệm quyền con người. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền con người không phải chỉ là phép cộng đơn giản đối với hai quan niệm về quyền con người nêu trên, mà từ phân tích nêu trên cho thấy bản chất hai mặt tự nhiên và xã hội của quyền con người có những thuộc tính phức tạp và luôn có sự thống nhất giữa hai mặt đối lập.
Nhận thức khái niệm quyền con người với day đủ bản chất, thuộc tinh của nó cho thấy quyền con người là một phạm trù phức tạp. Vì vậy, cần thiết phải đưa ra định nghĩa về quyền con người. Tuy nhiên, nếu chỉ đưa ra định nghĩa quyền con người với tư cách là một phạm trù riêng biệt của chính trị học, kinh tế học, triết học, luật hoc sẽ là điều phiến diện, không day đủ, vì như thế nó mới chỉ thể hiện được quyền con người dưới góc độ khoa học, mà không thê hiện được bản chất cũng như tính đa diện của vấn đề này. Hay nói cách khác, nó mới chi thé hiện trạng thái tĩnh của quyền con người.
Jacques Mourgon (giáo sư đại học khoa học xã hội Toulouse) đưa ra định nghĩa: 12 "Quyền con người là những đặc quyền được các quy tắc điều khiển mà con người giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân và với chính quyền". Định nghĩa này chủ yếu đề cập đến quyền con người ở khía cạnh tự nhiên của nó. Một học giả Việt Nam cho rằng: Quyên con người là các khả năng của con người được đảm bảo bang pháp luật (luật quốc gia và luật quốc tế) về sử dung và chi phối các phúc lợi xã hội, các giá tri vật chat, văn hóa và tinh thần, sử dụng quyền tự do trong xã hội trong phạm vi luật định và quyền quyết định các hoạt động của mình và của người khác trên cơ sở pháp luật [29, tr. Định nghĩa này cũng mới chi đề cập đến quyền con người với tư cách là phạm trù luật học.
Có thé nói rằng, khái niệm quyền con người phải là một phạm trù tổng hợp, bao hàm cả bản chất và những thuộc tính đa diện - nhiều mặt của nó. Có một định nghĩa đang được sử dụng phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về nhân quyền ở nước ta hiện nay: Nhân quyền (hay quyền con người) là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thé chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Khái niệm này bắt nguồn từ khái niệm của C.Mác về quyền con người. Theo Mác: “Quyên con người là những đặc quyên chỉ có ở con người mới có, với tư cách là con người, là thành viên xã hội loài người” [51, tr.