Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Quá trình đấu tranh xóa bỏ chế độ Apartheid ở Nam Phi (1948 - 1994)" do nghiên cứu sinh Tăng Thị Thủy thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Đỗ Thanh Bình, bảo vệ năm 2018 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (chuyên ngành Lịch sử thế giới, mã số 9.11).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng năm 1948, cộng đồng thiểu số người da trắng tại Nam Phi đã thiết lập chế độ Apartheid – hệ thống phân biệt chủng tộc mang tính độc trị và hà khắc, tước đoạt các quyền kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của cộng đồng người da đen và da màu. Cuộc đấu tranh nhằm giải thể chế độ này diễn ra trường kỳ, phong phú về hình thức và giữ vai trò quan trọng trong lịch sử thế giới hiện đại. Về mặt khoa học, tại Việt Nam trước thời điểm luận án hoàn thành, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về toàn bộ tiến trình đấu tranh chống Apartheid trong suốt giai đoạn 1948 - 1994, nhất là các khía cạnh về nhận thức xã hội, hình thức đấu tranh vũ trang, đặc điểm, tác động và hạn chế của phong trào. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để phục vụ việc tìm hiểu đối tác Nam Phi – một trong năm đối tác trọng điểm của Việt Nam tại châu Phi theo Đề án tăng cường quan hệ hợp tác với khu vực Trung Đông - Châu Phi giai đoạn 2016 – 2025.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ sự vận động của quá trình đấu tranh xóa bỏ chế độ Apartheid ở Nam Phi từ năm 1948 đến năm 1994, qua đó đánh giá tác động của tiến trình này đối với Nam Phi, khu vực châu Phi và thế giới. Ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định gồm:

  1. Phân tích những nhân tố tác động đến quá trình đấu tranh xóa bỏ chế độ Apartheid ở Nam Phi giai đoạn từ năm 1948 đến năm 1994;
  2. Khôi phục lại một cách hệ thống và toàn diện quá trình đấu tranh xóa bỏ chế độ Apartheid ở Nam Phi từ năm 1948 đến năm 1994;
  3. Phân tích các kết quả của quá trình đấu tranh, từ đó rút ra đặc điểm và luận giải các tác động của quá trình đấu tranh xóa bỏ chế độ Apartheid ở Nam Phi từ năm 1948 đến năm 1994.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình đấu tranh xóa bỏ chế độ Apartheid ở Nam Phi từ năm 1948 đến năm 1994.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Trọng tâm là lãnh thổ quốc gia Nam Phi; đồng thời mở rộng ra một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới khi phân tích nội dung đấu tranh vũ trang và phong trào quốc tế chống Apartheid.
  • Phạm vi thời gian: Giới hạn từ năm 1948 (thời điểm Đảng Quốc gia giành thắng lợi bầu cử và chính thức thiết lập hệ thống luật pháp Apartheid) đến năm 1994 (thời điểm tổ chức cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu ngày 27 tháng 4 năm 1994, Nelson Mandela đắc cử Tổng thống, chấm dứt chế độ Apartheid). Luận án mở rộng nghiên cứu giai đoạn trước năm 1948 nhằm làm rõ nguồn gốc lịch sử và kéo dài đến năm 1996 để phân tích việc ban hành Hiến pháp Cộng hòa Nam Phi năm 1996 – văn kiện thể chế hóa thành quả đấu tranh dân chủ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân chia tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài thành ba nhóm vấn đề chính:

Thứ nhất, nhóm nghiên cứu về chế độ Apartheid, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, thực trạng, mâu thuẫn và đời sống người dân:

  • Các học giả Việt Nam: Đỗ Đức Thịnh với Lịch sử châu Phi giản yếu (2006); Đỗ Đức Định (chủ biên) với Nam Phi con đường dẫn tới dân chủ công bằng và thịnh vượng (2008); cùng các bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông của Phạm Kim Huế (2007), Nguyễn Thanh Hiền (2007), Trần Thị Lan Hương (2010, 2015), Cao Văn Liên (2015), nhóm tác giả Đỗ Đức Định, Nguyễn Thanh Hiền và Nguyễn Thị Huế (2017).
  • Các học giả quốc tế: Christian P. Potholm với Four African political systems (1970); Ghille May với Black and White in South Africa (1971); Harold D. Nelson (chủ biên) với South Africa a country study; Mark A. Uhlig (biên tập) với Apartheid in crisis (1986); Kurt M. Campbell với Soviet policy towards South Africa (1987); Anthony Butler với Democracy and Apartheid (1998); Sebastian Mallaby với After Apartheid (1992); William Beinart với Segregation and Apartheid in Twentieth Century South Africa (1995, tập hợp nghiên cứu của Martin Legassick, Harold Wolpe, Shula Marks, Saul Dubow, Colin Murray); Robert Harvey với The fall of Apartheid (2001); John Allen với Apartheid South Africa an inside’s Overview of the origin and effects of separate development (2005); Barry van Wyk với The balance of power and the transition to democracy in South Africa (2005); Liz Sonneborn với The End of Apartheid in South Africa (2010); Michael Morris với Apartheid (2012); Leonard Thompson với A history of South Africa (2014); Nancy L. Clark và William H. Worger với The rise and fall of Apartheid (2016).

Thứ hai, nhóm nghiên cứu về các hoạt động đấu tranh chống chế độ Apartheid ở Nam Phi và quốc tế:

  • Tại Việt Nam: Đỗ Thanh Bình trong Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX một cách tiếp cận (2006); Đỗ Đức Định (chủ biên, 2008).
  • Trên thế giới: Shanti Sadiq Ali với Indian’s role in the fight against Apartheid (1978); David Mermelstein (biên tập) với Anti Apartheid reader (1987); Stephen Ellis với Comrades against Apartheid: ANC and the South African Communist Party in exile (1992); M. Saleem Badat với Black student politics, higher education and Apartheid: From SASO to SANSCO 1968 - 1990 (1999); Maren Saeboe với A state of exile: The ANC and Umkhonto We Sizwe in Angola, 1976 - 1989 (2002); Rob Skinner với The Foundations of Anti-Apartheid Liberal Humanitarians and Transnational Activists in Britain and the United States, 1919 - 1964 (2010); Ben Turok với The ANC and the turn to armed struggle (2010); Tổ chức Giáo dục dân quyền ở Nam Phi với bộ sách The Road to Democracy in South Africa (các tập 1, 2, 3 xuất bản các năm 2007, 2008, 2010); André Odendaal với The founders: the origins of the ANC and the struggle for democracy in South Africa (2012); Thula Simpson với The ANC and the Liberation Struggle in South Africa (2017).

Thứ ba, nhóm nghiên cứu về vai trò của những cá nhân tiêu biểu trong phong trào:

  • Tim J. Juckes với Opposition in South Africa (1995, nghiên cứu về Z.K. Matthews, Nelson Mandela, Stephen Biko); Richard Stengel với Mandela's Way: Lessons on Life, Love, and Courage (2010); Diane Dakers với Nelson Mandela: South Africa’s anti Apartheid revolutionary (2014).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận từng mặt cắt riêng rẽ (chính sách của chính quyền da trắng, các sự kiện đấu tranh đơn lẻ, hoạt động đối ngoại hoặc vai trò cá nhân). Luận án định vị là công trình đầu tiên tại Việt Nam khôi phục tiến trình đấu tranh một cách hoàn chỉnh từ khởi đầu bất bạo động, chuyển sang đấu tranh vũ trang đến đàm phán chính trị (1948 - 1994), phân tích sự chuyển biến nhận thức của các giai tầng và đánh giá toàn diện các đặc điểm, tác động cùng hạn chế lịch sử của phong tràu.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết và phương pháp luận, luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc, chủng tộc, giai cấp, công bằng, bình đẳng xã hội và quyền con người. Đây là nền tảng chỉ đạo quá trình phân tích bản chất của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và động lực của phong trào giải phóng dân tộc.

Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, do thuộc chuyên ngành Lịch sử thế giới, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Phân tích sự kiện theo trình tự thời gian (lịch đại) và trong mối liên hệ với bối cảnh khu vực, quốc tế thế kỷ XX (đồng đại) nhằm phục dựng quá trình vận động khách quan của phong trào.
  • Phương pháp lôgíc: Khái quát hóa, xâu chuỗi các sự kiện lịch sử để làm rõ nguyên nhân, bản chất, quy luật vận động từ đấu tranh hòa bình sang vũ trang và kết thúc bằng giải pháp hòa đàm.
  • Phương pháp nghiên cứu tư liệu: Sưu tầm, chọn lọc, phân loại, phê phán và đối chiếu các nguồn sử liệu.
  • Các phương pháp bổ trợ: Phân tích, tổng hợp, so sánh lịch sử để rút ra đặc điểm và đánh giá tác động.

Nguồn tư liệu thực tế của luận án bao gồm:

  1. Nguồn tư liệu gốc: Các văn kiện, tuyên bố, cương lĩnh, điều lệ của Đại hội Dân tộc Phi (ANC) như ấn phẩm African National Congress (2009), Apartheid and the International Community của Chủ tịch ANC Oliver Tambo (1991); hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Apartheid; Hiến pháp Nam Phi năm 1996; các nghị quyết, báo cáo của Liên Hợp Quốc và Văn phòng Lao động Quốc tế (ILO, 1993); các hồi ký, tự truyện của lãnh đạo phong trào (Long walk to freedom của Nelson Mandela do Trần Nhu dịch năm 1998; Conversations with Myself do Nguyễn Hằng dịch năm 2013).
  2. Nguồn tài liệu tham khảo: Các công trình chuyên khảo lịch sử Nam Phi, lịch sử châu Phi của các học giả trong và ngoài nước (Leonard Thompson, David Mermelstein, André Odendaal, Barry van Wyk, Đỗ Thanh Bình, Đỗ Đức Định...).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung lớn: nghiên cứu về bản chất, chính sách và mâu thuẫn xã hội dưới chế độ Apartheid; nghiên cứu về các hình thức đấu tranh trong nước và phong trào quốc tế; nghiên cứu về các nhân vật tiêu biểu (đặc biệt là Nelson Mandela). Trên cơ sở đó, tác giả chỉ rõ những kết quả nghiên cứu có thể kế thừa và xác lập khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết: tái hiện một cách hệ thống tiến trình đấu tranh từ năm 1948 đến năm 1994, phân tích nhận thức xã hội, phương thức đấu tranh vũ trang và đánh giá toàn diện đặc điểm, tác động cùng những hạn chế của phong trào.

Chương 2: Những nhân tố tác động tới quá trình đấu tranh xóa bỏ chế độ Apartheid ở Nam Phi (1948 - 1994)

Chương 2 làm rõ sáu nhân tố chi phối quá trình đấu tranh:

  1. Bản chất và mâu thuẫn nội tại của chế độ Apartheid: Khái niệm "Apartheid" xuất hiện năm 1917 từ diễn văn của Jan Christiaan Smuts. Sau khi Đảng Quốc gia (NP) lên nắm quyền năm 1948, hệ thống luật pháp phân biệt chủng tộc được thiết lập thông qua Luật Cấm hôn nhân hỗn hợp (1949), Luật Đăng ký nhân khẩu (1950), Luật Các Khu vực Nhóm người (1950), Luật Di trú (Pass Act). Chế độ này tạo ra sự phân hóa xã hội sâu sắc:
Chỉ số kinh tế - xã hội Nhóm người da trắng Nhóm người da đen / da màu
Tỷ lệ dân số đạt mức thu nhập 360.000 Rand/năm (~50.000 USD/năm) vào năm 1994 Chiếm đa số trong nhóm 2,2% dân số đạt mức này Rất thấp, đại bộ phận sống dưới mức nghèo khổ
Tỷ lệ tiêu dùng thu nhập quốc dân Tiêu dùng 60% tổng thu nhập Tiêu dùng phần còn lại
Tỷ lệ sở hữu đất đai toàn quốc Chiếm 95% diện tích Chỉ sở hữu 5% (phải sống trong các khu Bantustan)
Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh (năm 1978) 14,9 / 1.000 trẻ sinh ra Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cao gấp 13 lần da trắng

Bên cạnh đó, chính quyền Apartheid thi hành "Chiến lược Tổng thể" (1974), can thiệp quân sự và cấm vận kinh tế đối với Mozambique (buộc ANC rút khỏi Maputo), chiếm đóng và sáp nhập Namibia thành tỉnh thứ 5 (năm 1948), chia rẽ lãnh thổ này thành các Bantustan (năm 1964), gây bất ổn cho Zimbabwe, Botswana, Swaziland, Angola và Lesotho.

  1. Nhận thức của các tầng lớp xã hội Nam Phi về Apartheid: Nhận thức bắt nguồn từ tư tưởng nhân quyền Âu - Mỹ (John Stuart Mill, Henry David Thoreau, Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ 1776) và Chủ nghĩa dân tộc châu Phi. Quá trình nhận thức phát triển từ các trí thức thế hệ đầu như Tiyo Soga (phản bác quan niệm miệt thị người bản địa năm 1865), John Tengo Jabavu, báo Isigidimi Sama Xhosa (1870), Pixley Seme (bài phát biểu năm 1906 tại Đại học Columbia), John Dube (thành lập Quốc hội Bản địa Natal năm 1900, báo Ilanga Lase Natal năm 1903) đến thế hệ trí thức mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Cộng đồng người gốc Ấn chuyển từ đấu tranh cục bộ (thời kỳ Mahatma Gandhi thành lập Quốc hội Ấn Độ Natal 1894) sang liên minh chặt chẽ với người da đen sau phong trào phản đối Đạo luật Sở hữu đất đai châu Á năm 1946.
  2. Hoạt động đấu tranh chống phân biệt chủng tộc trước năm 1948: Tạo nền móng tổ chức và kinh nghiệm đấu tranh với sự ra đời của SANNC/ANC (1912), Liên đoàn Thanh niên ANC (1944).
  3. Vai trò của Nelson Mandela: Quá trình chuyển biến nhận thức từ Qunu, qua các trường Healdown, Fort Hare, Witwatersrand, làm việc thực tế tại các mỏ vàng Johannesburg, đến khi tham gia lãnh đạo ANC, sáng lập nhánh vũ trang MK (1961) và kiên trì định hướng đấu tranh qua 27 năm tù đày.
  4. Phong trào đấu tranh của người Mỹ gốc Phi: Cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đoàn kết chống áp bức chủng tộc.
  5. Phong trào quốc tế chống Apartheid (1948 - 1994): Sự ủng hộ của Liên Xô, phong trào thoái vốn tại Mỹ, các công ước và nghị quyết cấm vận của Liên Hợp Quốc và Tổ chức Thống nhất châu Phi (OAU).

Chương 3: Quá trình vận động của cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ Apartheid ở Nam Phi (1948 - 1994): từ công khai bất bạo động đến đấu tranh vũ trang và đàm phán

Chương 3 tái hiện toàn bộ tiến trình vận động qua ba giai đoạn và phương thức đấu tranh:

  • Đấu tranh công khai bất bạo động (1948 đến nửa đầu những năm 80): Triển khai các chiến dịch bất tuân dân sự đại chúng, đấu tranh của giới văn học - nghệ thuật, phong trào học sinh sinh viên dưới sự dẫn dắt của SASO, SANCO, phong trào "Ý thức đen" (Black Consciousness), các cuộc biểu tình tiêu biểu tại Sharpeville (1960) và Soweto (1976), việc công bố Hiến chương Tự do (1955).
  • Đấu tranh vũ trang (1961 - 1990): Sau thảm sát Sharpeville và lệnh cấm hoạt động đối với ANC, tổ chức vũ trang Umkhonto We Sizwe (MK) được thành lập năm 1961 do Nelson Mandela đứng đầu. Giai đoạn này bao gồm các hoạt động tác chiến du kích, xây dựng căn cứ và huấn luyện tại nước ngoài (như tại Angola sau Hội nghị Morogoro năm 1969), kết hợp chặt chẽ giữa ANC và Đảng Cộng sản Nam Phi (SACP).
  • Đấu tranh trên bàn đàm phán (1985 - 1994): Diễn ra trong bối cảnh chế độ Apartheid khủng hoảng toàn diện về kinh tế, chính trị và chịu sức ép cấm vận quốc tế. Các cuộc tiếp xúc bí mật và đàm phán chính thức giữa ANC và chính quyền De Klerk đã dẫn đến việc dỡ bỏ lệnh cấm đối với các tổ chức chính trị, trả tự do cho Nelson Mandela (1990) và thỏa thuận chấm dứt quyền lực thiểu số da trắng.

Chương 4: Một số nhận xét về quá trình đấu tranh xóa bỏ chế độ Apartheid ở Nam Phi (1948 - 1994)

Chương 4 tổng kết các vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn:

  • Kết quả: Đạt được thỏa thuận thông qua Hiến pháp lâm thời năm 1993, tổ chức thành công cuộc tổng tuyển cử dân chủ không phân biệt chủng tộc ngày 27/4/1994 và ban hành Hiến pháp chính thức năm 1996, xác lập chế độ dân chủ đa sắc tộc.
  • Đặc điểm: Cuộc đấu tranh kết hợp linh hoạt nhiều hình thức (bất bạo động, vũ trang, đàm phán); có sự liên minh rộng rãi giữa các nhóm sắc tộc (da đen, da màu, gốc Ấn và người da trắng tiến bộ); gắn liền với sự hỗ trợ của phong trào phản đối phân biệt chủng tộc trên phạm vi quốc tế.
  • Tác động:
    • Đối với Nam Phi: Giải phóng đại đa số người dân khỏi ách thống trị phân biệt chủng tộc, mở đường cho tiến trình hòa giải và tái thiết quốc gia.
    • Đối với khu vực và thế giới: Xóa bỏ nguồn gốc gây bất ổn quân sự tại miền Nam châu Phi, thúc đẩy nền độc lập của Namibia, đóng góp vào phong trào giải phóng con người và bảo vệ quyền công dân trên phạm vi toàn cầu.
  • Hạn chế: Quá trình chuyển đổi chính trị chưa thể giải quyết triệt để ngay các bất bình đẳng sâu sắc về kinh tế, sở hữu đất đai và các vấn đề an sinh xã hội tích tụ qua nhiều thế kỷ.

Kết quả và những đóng góp mới

Căn cứ vào công bố của tác giả, luận án đạt được những kết quả và đóng góp mới sau:

  1. Về mặt khoa học và lịch sử: Là công trình nghiên cứu có hệ thống đầu tiên ở Việt Nam về toàn bộ quá trình đấu tranh xóa bỏ chế độ Apartheid ở Nam Phi trong giai đoạn 1948 - 1994. Luận án đã hệ thống hóa sự phát triển của phong trào từ thấp đến cao, từ hình thức công khai bất bạo động đến kết hợp đấu tranh vũ trang và đàm phán hòa bình.
  2. Về mặt đánh giá và lý luận: Cung cấp sự phân tích toàn diện về các nhân tố tác động nội tại và bên ngoài, chỉ ra những đặc điểm riêng biệt của phong trào chống Apartheid so với các phong trào giải phóng dân tộc truyền thống, đồng thời luận giải khách quan các thành quả, tác động cũng như những hạn chế tồn đọng sau chuyển đổi.
  3. Về mặt tư liệu và thực tiễn: Bổ sung hệ thống tư liệu lịch sử chuyên khảo về Nam Phi cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử thế giới hiện đại tại Việt Nam; cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ việc nghiên cứu bối cảnh đối ngoại và thúc đẩy quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Nam Phi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, văn bản luận án xác định trọng tâm nghiên cứu vào quá trình đấu tranh chính trị, vũ trang và đàm phán xóa bỏ thể chế Apartheid (1948 - 1994), do đó chưa đi sâu phân tích toàn diện các diễn biến kinh tế - xã hội thời kỳ hậu Apartheid (sau năm 1996) cũng như tiến trình thực thi cụ thể các chính sách cải cách ruộng đất và phân phối lại tài sản trong thực tế đời sống Nam Phi đương đại.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở là việc khảo cứu sâu hơn về quá trình chuyển giao quyền lực kinh tế, quan hệ giữa đảng cầm quyền và bộ máy nhà nước trong tiến trình xây dựng thể chế dân chủ mới tại Cộng hòa Nam Phi giai đoạn sau năm 1996.


Giá trị tham khảo

Luận án là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Lịch sử, Quan hệ quốc tế, Châu Phi học: Có thể tham khảo hệ thống tư liệu chuyên sâu, phương pháp phục dựng tiến trình lịch sử và khung phân tích các phong trào dân quyền, giải phóng dân tộc thế kỷ XX.
  • Giảng viên các trường đại học, cao đẳng: Sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy các chuyên đề Lịch sử thế giới hiện đại, Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc châu Phi.
  • Cán bộ nghiên cứu đối ngoại và hoạch định chính sách: Tham khảo các phân tích về bối cảnh lịch sử, thể chế chính trị và xã hội Nam Phi nhằm phục vụ việc triển khai các chương trình hợp tác song phương giữa Việt Nam và Nam Phi trong khuôn khổ các đề án hợp tác khu vực Trung Đông - Châu Phi.

Phần đáng chú ý để tham khảo là Chương 2 và Chương 3, nơi tập hợp các tư liệu gốc về hệ thống luật pháp Apartheid, các văn kiện của ANC và tiến trình đàm phán giải thể chế độ.


Câu hỏi thường gặp

1. Thuật ngữ "Apartheid" xuất hiện lần đầu khi nào và bản chất của chế độ này là gì?
Thuật ngữ "Apartheid" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1917 trong một bài diễn văn của Jan Christiaan Smuts (Thủ tướng Liên bang Nam Phi năm 1919). Từ này được ghép từ "apart" (tách biệt) và "heid" (bầy/chủng), biểu thị hệ thống phân biệt chủng tộc độc trị tại Nam Phi dựa trên quan điểm chia tách nơi sống và tước đoạt quyền bình đẳng của các nhóm chủng tộc.

2. Đại hội Dân tộc Phi (ANC) thành lập tổ chức vũ trang nào và vào thời gian nào?
Năm 1961, ANC thành lập tổ chức vũ trang đầu tiên mang tên Umkhonto We Sizwe (viết tắt là MK) do Nelson Mandela trực tiếp lãnh đạo, chuyển hướng từ đấu tranh thuần túy bất bạo động sang kết hợp tác chiến vũ trang du kích sau thảm sát Sharpeville (1960).

3. Hiến chương Tự do (Freedom Charter) được ban hành vào năm nào và thể hiện nội dung gì?
Hiến chương Tự do được tổ chức ANC ban hành năm 1955. Văn kiện khẳng định Nam Phi thuộc về tất cả những người sinh sống trên lãnh thổ này (cả người da đen và da trắng) và không chính phủ nào có quyền lực chính đáng nếu không dựa trên ý chí của toàn thể nhân dân.

4. Hai văn kiện pháp lý nào đánh dấu việc xóa bỏ và thể chế hóa thành quả đấu tranh chống Apartheid tại Nam Phi?
Đó là bản Hiến pháp lâm thời năm 1993 (đặt nền tảng cho cuộc bầu cử dân chủ đa sắc tộc ngày 27/4/1994) và bản Hiến pháp Cộng hòa Nam Phi năm 1996 (văn kiện chính thức thể chế hóa nền dân chủ bình đẳng, xóa bỏ hoàn toàn tàn dư thể chế của Apartheid).


Kết luận

Luận án của tác giả Tăng Thị Thủy đã tái hiện một cách hệ thống và toàn diện quá trình đấu tranh xóa bỏ chế độ Apartheid ở Nam Phi từ năm 1948 đến năm 1994. Công trình làm rõ các nhân tố tác động, phân tích sự vận động qua các hình thức đấu tranh bất bạo động, vũ trang và đàm phán, đồng thời đánh giá khách quan kết quả, đặc điểm cùng tác động sâu sắc của phong trào đối với Nam Phi và trường quốc tế. Đây là công trình nghiên cứu lịch sử có giá trị khoa học và tư liệu cao, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử thế giới cũng như công tác đối ngoại tại Việt Nam.