Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bệnh lý van động mạch chủ là một trong những bệnh lý van tim ngoại khoa phổ biến, có tần suất mắc phải đứng thứ hai sau bệnh lý van hai lá. Nếu không được can thiệp phẫu thuật kịp thời, bệnh lý van động mạch chủ sẽ dẫn đến các biến chứng suy tim nặng, giảm chất lượng sống và đột tử. Bệnh van động mạch chủ cũng tạo ra gánh nặng kinh tế - y tế đáng kể; theo số liệu thống kê năm 2016 của Matt Moore tại Hoa Kỳ, chi phí y tế hàng năm dành cho các dịch vụ liên quan đến bệnh lý van động mạch chủ lên tới 10,2 tỉ USD.
Hiện nay, can thiệp ngoại khoa điều trị bệnh lý van động mạch chủ gồm hai hướng tiếp cận chính: phẫu thuật thay van động mạch chủ và phẫu thuật tạo hình van động mạch chủ. Phẫu thuật thay van động mạch chủ bằng van nhân tạo (cơ học hoặc sinh học) là phương pháp kinh điển, áp dụng được cho hầu hết các thương tổn nhưng còn tồn tại các nhược điểm chưa thể khắc phục triệt để. Van cơ học đòi hỏi bệnh nhân phải sử dụng thuốc chống đông kháng vitamin K suốt đời với nguy cơ xuất huyết hoặc kẹt van, trong khi van sinh học có nguy cơ thoái hóa mô theo thời gian, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân trẻ tuổi. Các kỹ thuật sửa van động mạch chủ và mở rộng lá van truyền thống tuy bảo tồn được mô van tự nhiên và huyết động qua gốc động mạch chủ nhưng có chỉ định hẹp, chỉ thực hiện được khi tổn thương van còn nhẹ và cấu trúc van chưa bị phá hủy nghiêm trọng.
Phẫu thuật tạo hình toàn bộ 3 lá van động mạch chủ bằng màng ngoài tim tự thân theo phương pháp Shigeyuki Ozaki (được công bố và phát triển từ năm 2007) đã mở ra hướng tiếp cận mới: sử dụng màng ngoài tim tự thân đã xử lý bằng dung dịch Glutaraldehyde để tái tạo độc lập 3 lá van. Kỹ thuật này giúp bảo tồn giải phẫu và sinh lý động học của gốc động mạch chủ, loại bỏ nhu cầu sử dụng thuốc chống đông lâu dài, đồng thời áp dụng được cho đa dạng các dạng thương tổn van. Tại Việt Nam, kỹ thuật Ozaki bắt đầu được triển khai từ năm 2013 tại Bệnh viện E và tiếp đó là Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng với xu hướng phát triển của phẫu thuật tim ít xâm lấn, việc kết hợp phẫu thuật Ozaki với các đường mổ ít xâm lấn nhằm giảm thiểu sang chấn phẫu thuật là một hướng đi cần được tổng kết, đánh giá bài bản. Do đó, luận án tiến hành nghiên cứu nhằm giải quyết khoảng trống về dữ liệu đặc điểm lâm sàng, tỷ lệ thành công kỹ thuật, kết quả chu phẫu và theo dõi trung hạn của phẫu thuật Ozaki qua đường mở toàn bộ xương ức và đường mở ít xâm lấn tại Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả các đặc điểm tổn thương van động mạch chủ và chỉ định phẫu thuật ở nhóm bệnh nhân tạo hình van động mạch chủ theo phương pháp Ozaki.
- Đánh giá kết quả sớm và trung hạn của phẫu thuật tạo hình van động mạch chủ theo phương pháp Ozaki.
- Đánh giá khả năng áp dụng đường mở ngực ít xâm lấn trong phẫu thuật tạo hình van động mạch chủ theo phương pháp Ozaki.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các bệnh nhân mắc bệnh lý van động mạch chủ có chỉ định phẫu thuật, được thực hiện tạo hình van động mạch chủ bằng màng ngoài tim tự thân theo phương pháp Ozaki qua đường mở ngực cưa toàn bộ xương ức hoặc đường mở ngực ít xâm lấn nửa trên xương ức.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Phẫu thuật Tim mạch - Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Luận án tổng kết dữ liệu lâm sàng, phẫu thuật và theo dõi sau mổ, nghiệm thu và bảo vệ học vị Tiến sĩ Y học năm 2022.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại
Luận án đã tổng quan toàn diện các mốc phát triển và công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh lý van động mạch chủ và kỹ thuật ngoại khoa liên quan:
-
Phẫu thuật thay van động mạch chủ:
- Thay van sinh học: Nghiên cứu của Vincent Chan và cộng sự trên 3.152 bệnh nhân thay van sinh học cho thấy độ bền của van liên quan chặt chẽ đến độ tuổi phẫu thuật; tỷ lệ không thoái hóa van trên 15 năm đạt trên 90,0% ở bệnh nhân trên 65 tuổi nhưng giảm xuống 50,9 ± 5,8% ở nhóm dưới 40 tuổi.
- Mảnh ghép tự thân và đồng loài: Phẫu thuật Ross dùng gốc động mạch phổi tự thân bảo tồn sinh lý nhưng có tỷ lệ giãn gốc động mạch chủ và hở van theo thời gian. Mảnh ghép đồng loài được Joo Yeon Kim và cộng sự theo dõi từ 1995 đến 2015 cho thấy tỷ lệ sống còn 10 năm là 63,4 ± 9,5%, tuy nhiên nguồn tạng hiến rất khan hiếm.
- Thay van qua ống thông (TAVI): Các thử nghiệm lâm sàng PARTNER 1, PARTNER 2 và PARTNER 3 chứng minh hiệu quả của TAVI trên nhóm nguy cơ phẫu thuật cao, song việc áp dụng cho người trẻ, nguy cơ thấp vẫn cần thêm dữ liệu theo dõi dài hạn.
-
Kỹ thuật sửa van và tạo hình van động mạch chủ:
- Kỹ thuật vá lỗ thủng màng ngoài tim, gia cố bờ tự do, khâu gấp nếp lá van sa, sửa van hai mảnh và thu nhỏ vòng van của Alain Carpentier (2010) và Lawrence H. Cohn (2017).
- Kỹ thuật tái tạo gốc động mạch chủ (Remodeling) và cắm lại gốc động mạch chủ (Reimplantation) của Lansac (2013).
- Lịch sử tạo hình 3 lá van bằng màng ngoài tim: Carlos Duran (1995) tại Ả Rập Xê Út tạo hình 3 lá van màng ngoài tim dính liền nhau, tỷ lệ không thoái hóa sau 5 năm đạt 83,8 ± 8,6%. Zohair Al Halees (2005) theo dõi 16 năm trên 92 bệnh nhân dùng màng ngoài tim bò và màng ngoài tim tự thân. John Chan (2011) tại Bệnh viện Royal Brompton (Anh) báo cáo theo dõi 7,5 năm trên 11 ca tạo hình khối 3 lá van với tỷ lệ sống còn nội viện 100%.
-
Phát triển phương pháp Ozaki và các báo cáo quốc tế:
- Shigeyuki Ozaki (2010, 2014, 2018) đã chuẩn hóa phương pháp đo đạc độc lập từng xoang van và chế tạo bộ dưỡng định hình lá van. Báo cáo năm 2014 trên 404 ca ghi nhận tỷ lệ sống còn tích lũy 87,7% sau 53 tháng; báo cáo năm 2018 trên 850 ca ghi nhận chênh áp trung bình qua van sau 8 năm là 15,2 ± 6,3 mmHg, không có trường hợp nào bị vôi hóa van. Đến năm 2019, số ca mổ của riêng tác giả Ozaki đã vượt 1.100 ca.
- Báo cáo triển khai kỹ thuật tại các trung tâm trên thế giới: Vagram Arutyunyan (Brazil, 170 ca), Yasunori Iida (Nhật Bản, 144 ca), Markus Krane (Đức, 103 ca), Fanar Mourad (Đức, 52 ca), Oliver Reuthebuch (Thụy Sĩ, 30 ca), Sho Akiyama (Nhật Bản, 34 ca vòng van nhỏ), Chivers (Anh, 5 ca dùng màng tim bò ở bệnh nhân nhỏ tuổi).
| Tác giả / Trung tâm |
Năm công bố |
Số ca (n) |
Tỷ lệ chuyển thay van (%) |
Tử vong sớm (%) |
| Shigeyuki Ozaki (Nhật Bản) |
2014 |
404 |
0,0 |
1,7 |
| Vagram Arutyunyan (Brazil) |
2020 |
170 |
0,0 |
2,9 |
| Yasunori Iida (Nhật Bản) |
2018 |
144 |
0,0 |
1,4 |
| Markus Krane (Munich, Đức) |
2020 |
103 |
2,9 |
0,97 |
| Fanar Mourad (Essen, Đức) |
2018 |
52 |
9,6 |
1,9 |
| Oliver Reuthebuch (Thụy Sĩ) |
2018 |
30 |
0,0 |
3,3 |
- Phẫu thuật ít xâm lấn và tình hình nghiên cứu tại Việt Nam:
- Nghiên cứu của Ram Sharony (2003) trên 189 bệnh nhân mổ van động mạch chủ ít xâm lấn và phân loại các đường mổ của Glauber (2015).
- Ứng dụng ít xâm lấn trong kỹ thuật Ozaki: Rosseikin (Nga, 30 ca ít xâm lấn).
- Tại Việt Nam: Nguyễn Công Hựu (2018) báo cáo ca mổ đầu tiên sau 4 năm theo dõi; Ngô Thành Hưng (Bệnh viện E) công bố loạt 21 ca (2018), 72 ca (2019), 7 ca ít xâm lấn và ca áp xe vòng van phức tạp (2020). Nhóm nghiên cứu Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM công bố loạt 30 ca đầu tiên (2019) và các báo cáo quốc tế về đường tiếp cận ít xâm lấn (2020), đồng thời tham gia hệ thống cơ sở dữ liệu quốc tế về Ozaki của Bệnh viện Nhi Boston.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án tập trung đánh giá có hệ thống các chỉ định lâm sàng, thương tổn giải phẫu thực tế, các yếu tố tiên lượng rủi ro chuyển thay van trong mổ, kết quả phục hồi huyết động sớm và trung hạn, cũng như tính khả thi và mức độ an toàn của đường mở ngực ít xâm lấn nửa trên xương ức đối với kỹ thuật tạo hình van Ozaki trong điều kiện phẫu thuật tim mạch tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Giải phẫu và huyết động học gốc động mạch chủ: Gốc động mạch chủ là phức hợp gồm 4 thành phần chính: vòng van động mạch chủ, các lá van động mạch chủ, các xoang Valsalva và chỗ nối xoang ống (STJ), cùng các tam giác sợi liên kết. Xoang Valsalva tạo ra dòng máu chảy xoáy cuộn (theo mô tả sinh lý từ thời Leonardo da Vinci), đóng vai trò quan trọng trong việc phân tán lực cơ học lên lá van và hỗ trợ đóng mở van tự nhiên vào đầu và cuối thì tâm thu.
- Mô học và cơ chế xử lý Glutaraldehyde: Mô màng ngoài tim tự thân có sự tương đồng cao với van động mạch chủ về cấu trúc tế bào mô kẽ và sợi collagen. Nghiên cứu của Yamashita (2012) chứng minh rằng màng ngoài tim tự thân sau khi ngâm cố định trong dung dịch Glutaraldehyde 0,6% trong 10 phút và rửa 3 lần bằng nước muối sinh lý sẽ đạt độ bền kéo đứt và mô đun đàn hồi gấp 4 lần so với lá van động mạch chủ bình thường, đồng thời triệt tiêu tính sinh kháng nguyên và ngăn ngừa thoái hóa sớm.
- Tiêu chuẩn phân loại tổn thương:
- Phân loại hẹp van động mạch chủ theo khuyến cáo của EACVI/ASE 2017.
- Phân loại van động mạch chủ hai mảnh theo Sievers (2007).
- Đánh giá mức độ vôi hóa van 4 mức độ theo Raphael Rosenhek.
- Phân loại cơ chế hở van động mạch chủ theo Carpentier (Type I: Ia, Ib, Ic, Id; Type II; Type III) và ASE 2017.
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng, kết hợp theo dõi dọc tiền cứu kết quả sớm (giai đoạn nội viện) và trung hạn (sau xuất viện đến 6 tháng và các mốc tiếp theo).
- Quy trình kỹ thuật thực hiện:
- Lấy và xử lý màng tim: Màng ngoài tim tự thân được bộc lộ trực tiếp qua mở xương ức hoặc nội soi ngực hỗ trợ, cắt kích thước tối thiểu 7 cm x 7 cm, làm sạch mỡ bề mặt, ngâm trong dung dịch Glutaraldehyde 0,6% đúng 10 phút, sau đó rửa 3 lần trong dung dịch NaCl 0,9% (mỗi lần 6 phút).
- Đo đạc và tạo hình lá van: Cắt bỏ toàn bộ các lá van bệnh lý và mảng vôi hóa; dùng bộ thước đo chuyên dụng Ozaki đo độc lập khoảng cách giữa các mép van tương ứng với từng xoang (xoang vành phải, xoang vành trái, xoang không vành); dùng bản mẫu chuẩn để vẽ và cắt 3 lá van riêng biệt từ màng tim đã xử lý. Màng tim dày vùng cơ hoành ưu tiên cho lá van kích thước lớn nhất, màng tim mỏng vùng đáy tim dành cho lá van nhỏ nhất.
- Kỹ thuật khâu van: Khâu các lá van mới vào vòng van động mạch chủ bằng các mũi chỉ liên tục hoặc mũi rời; tỷ lệ bước chỉ ở đáy lá van gấp 3 lần bước chỉ trên thành gốc động mạch chủ để tạo độ phồng dạng tổ chim; mép trên của các lá van được khâu cố định cao tạo diện áp rộng.
- Đường tiếp cận: Mở ngực cưa toàn bộ xương ức kinh điển hoặc mở ngực ít xâm lấn dọc nửa trên xương ức (từ hõm ức cưa ngang sang khoang liên sườn III hoặc IV).
- Thu thập và phân tích dữ liệu:
- Đánh giá lâm sàng (phân độ suy tim NYHA), thang điểm nguy cơ phẫu thuật EuroSCORE II và STS.
- Siêu âm tim qua thành ngực và qua thực quản: đo chênh áp trung bình/tối đa qua van, diện tích mở van, phân suất tống máu (EF), đường kính thất trái cuối tâm trương (LVIDd), mức độ và vị trí dòng hở, chiều cao diện áp.
- Chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT) đánh giá giải phẫu gốc động mạch chủ.
- Phân tích thống kê: Phân tích sống còn tích lũy và tỷ lệ không phải mổ lại theo biểu đồ Kaplan - Meier; so sánh biến liên tục và biến định danh giữa các nhóm bằng các kiểm định thống kê thích hợp (ANOVA, Chi-square, t-test); quản lý dữ liệu đồng bộ theo hệ thống cơ sở dữ liệu quốc tế. Nghiên cứu tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực về đạo đức y sinh học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ cơ sở lý luận, lịch sử can thiệp ngoại khoa van động mạch chủ và các dữ kiện khoa học liên quan:
- Trình bày diễn tiến lịch sử từ thay van cơ học, thay van sinh học có/không giá đỡ, ghép van đồng loài, phẫu thuật Ross cho đến can thiệp TAVI.
- Phân tích chi tiết giải phẫu chức năng gốc động mạch chủ, sinh lý dòng chảy xoắn ốc trong xoang Valsalva và đặc tính mô học của lá van tim so với màng ngoài tim tự thân.
- Tổng kết cơ sở hóa sinh của việc xử lý màng ngoài tim bằng Glutaraldehyde 0,6% trong 10 phút, giúp tối ưu hóa độ bền cơ học và tính đàn hồi.
- Điểm lại lịch sử các phẫu thuật tạo hình 3 lá van màng ngoài tim của Carlos Duran, Zohair Al Halees, John Chan; nêu bật sự cải tiến kỹ thuật mang tính quyết định của Shigeyuki Ozaki thông qua việc chuẩn hóa bộ dụng cụ đo - cắt độc lập từng lá van, khôi phục cấu trúc 3 mảnh và nâng cao diện áp.
- Trình bày cơ sở kỹ thuật, tiêu chuẩn giải phẫu trên MSCT và các tiêu chuẩn lựa chọn đường mổ ít xâm lấn nửa trên xương ức trong phẫu thuật van động mạch chủ.
- Tổng hợp các kết quả nghiên cứu lâm sàng của Ozaki và các trung tâm lớn trên thế giới (Nhật Bản, Đức, Nga, Brazil, Thụy Sĩ), cùng tình hình tiếp nhận, triển khai kỹ thuật này tại Việt Nam (Bệnh viện E và Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả tường minh phương pháp thực hiện đề tài:
- Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: Tất cả các bệnh nhân có bệnh lý van động mạch chủ (hẹp, hở, phối hợp, dị tật bẩm sinh 1, 2 hoặc 4 mảnh, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng) được chỉ định phẫu thuật tạo hình van theo Ozaki.
- Tiêu chuẩn loại trừ và các chống chỉ định đối với đường tiếp cận ít xâm lấn (biến dạng lồng ngực nặng, béo phì, phẫu thuật cấp cứu, mổ lại, dính màng phổi nặng, động mạch chủ sứ).
- Quy trình chuẩn bị dụng cụ, xử lý màng ngoài tim với dung dịch Glutaraldehyde 0,6%, thiết lập tuần hoàn ngoài cơ thể (CPB), bảo vệ cơ tim và bộc lộ van động mạch chủ.
- Mô tả chi tiết kỹ thuật đo kích thước khoảng cách mép van, kỹ thuật bù trừ số đo khi khoảng cách nằm giữa hai kích thước, kỹ thuật tạo mép van mới trong van 2 mảnh hoặc 1 mảnh, và các bước khâu lá van vào vòng van tự nhiên.
- Bộ chỉ số nghiên cứu chu phẫu và hậu phẫu; quy trình theo dõi siêu âm tim định kỳ; quy chuẩn xử lý số liệu thống kê và tuân thủ y đức nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các kết quả nghiên cứu cụ thể qua các bảng số liệu và biểu đồ:
- Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi, giới tính, BMI; lý do nhập viện; mức độ suy tim tiền phẫu theo thang điểm NYHA; tiền sử bệnh lý nội khoa đi kèm; mức độ nguy cơ phẫu thuật theo thang điểm EuroSCORE II và STS.
- Đặc điểm thương tổn và hình thái van: Tỷ lệ bệnh nhân theo nhóm bệnh lý van (hẹp van ĐMC, hở van ĐMC, bệnh kết hợp hẹp - hở); tỷ lệ các thể van ĐMC (van 3 mảnh, van 2 mảnh phân loại theo Sievers, van 1 mảnh, van 4 mảnh); mức độ vôi hóa van và vòng van theo thang điểm Raphael Rosenhek; tương quan vị trí gốc động mạch chủ so với bờ xương ức trên phim chụp cắt lớp.
- Thông số phẫu thuật và kích thước van: Thời gian chạy máy tuần hoàn ngoài cơ thể (CPB) và thời gian kẹp động mạch chủ; kích thước trung bình của các lá van màng tim được tạo hình (lá vành phải, lá vành trái, lá không vành); mức độ chênh lệch kích thước giữa các lá van mới; tỷ lệ các ca phẫu thuật phối hợp (bắc cầu mạch vành, phẫu thuật van hai lá, thay động mạch chủ lên...).
- Tỷ lệ chuyển thay van và các yếu tố liên quan: Tỷ lệ các trường hợp phải chuyển sang thay van nhân tạo trong mổ và phân tích các yếu tố nguy cơ, nguyên nhân kỹ thuật dẫn đến chuyển thay van.
- So sánh đường mổ toàn bộ xương ức và đường mổ ít xâm lấn: Kết quả phân bố các hình thái mở nửa trên xương ức; so sánh thời gian thở máy, thời gian lưu lại khoa hồi sức tích cực (ICU), thời gian nằm viện sau mổ và tỷ lệ mất máu giữa hai nhóm tiếp cận.
- Kết quả phục hồi chức năng và huyết động:
- Tỷ lệ biến chứng chu phẫu trong thời gian nằm viện (chảy máu, nhiễm trùng, rối loạn nhịp, đột quỵ).
- So sánh các thông số huyết động trên siêu âm tim tại các thời điểm: trước phẫu thuật, trước khi xuất viện và sau 6 tháng theo dõi (chênh áp trung bình qua van, phân suất tống máu EF, đường kính LVIDd).
- Đánh giá độ kín của van sau tạo hình: tỷ lệ hở van tồn lưu, số lượng dòng hở, vị trí dòng hở (chủ yếu là dòng hở nhẹ tại mép van), mối tương quan giữa chiều cao diện áp lá van với mức độ kín của van.
- Phân tích đường cong Kaplan - Meier về tỷ lệ sống còn tích lũy và tỷ lệ bệnh nhân không phải phẫu thuật lại trong giai đoạn theo dõi trung hạn.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 phân tích, so sánh các phát hiện nghiên cứu với y văn quốc tế:
- Chỉ định và đặc điểm thương tổn: Bàn luận về tính khả thi của kỹ thuật Ozaki trên nhiều dạng thương tổn phức tạp (van hai mảnh, van vôi hóa nặng, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng) tại Việt Nam so với các loạt ca của Ozaki, Krane hay Arutyunyan.
- Kết quả phẫu thuật và thời gian mổ: Phân tích thời gian kẹp động mạch chủ và chạy máy CPB trong giai đoạn làm quen kỹ thuật (learning curve) và khi đã thành thạo; bàn luận về các ca chuyển thay van nhân tạo và kinh nghiệm kiểm soát kỹ thuật đo - cắt lá van.
- Hiệu quả cải thiện huyết động: Phân tích sự sụt giảm có ý nghĩa của chênh áp qua van, diện tích mở van hiệu dụng lớn, sự cải thiện chức năng co bóp thất trái (EF) và kích thước buồng tim; so sánh huyết động của van tạo hình Ozaki với van sinh học có giá đỡ và van cơ học.
- Giá trị của đường mổ ít xâm lấn: Phân tích lợi ích giảm đau, giảm thời gian thở máy và nằm viện của đường mở ngực nửa trên xương ức mà không làm gia tăng biến chứng hay kéo dài quá mức thời gian kẹp động mạch chủ; khẳng định tính an toàn và khả thi của việc phối hợp kỹ thuật Ozaki với phẫu thuật ít xâm lấn.
- Biến chứng và độ bền trung hạn của van: Đánh giá nguy cơ viêm nội tâm mạc nhiễm trùng trên van màng tim tự thân, phân tích nguyên nhân tái hở van và khẳng định tính ổn định của màng tim tự thân xử lý Glutaraldehyde trong thời gian theo dõi trung hạn.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Hệ thống hóa cơ sở khoa học của kỹ thuật Ozaki tại Việt Nam: Luận án cung cấp bức tranh khoa học toàn diện về mối liên hệ giữa sinh lý huyết động gốc động mạch chủ, cơ chế phân tán lực cơ học của xoang Valsalva và đặc tính mô học của màng ngoài tim tự thân xử lý Glutaraldehyde 0,6% trong việc thay thế van động mạch chủ.
- Chuẩn hóa quy trình đánh giá tổn thương và huyết động: Áp dụng đồng bộ các thang điểm phân loại quốc tế (Sievers, Rosenhek, Carpentier, EACVI/ASE) để đánh giá hình thái thương tổn van động mạch chủ trước, trong và sau phẫu thuật tạo hình bằng màng ngoài tim tự thân.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn lâm sàng
- Khẳng định tính khả thi và an toàn của phương pháp Ozaki: Chứng minh phẫu thuật tạo hình van động mạch chủ theo Ozaki đạt kết quả sớm và trung hạn khả quan, tỷ lệ tử vong và biến chứng thấp, phục hồi huyết động qua van tốt (chênh áp thấp, diện tích mở van rộng) và giúp bệnh nhân tránh được gánh nặng dùng thuốc chống đông suốt đời.
- Ứng dụng thành công kỹ thuật mở ngực ít xâm lấn nửa trên xương ức: Luận án chứng minh đường tiếp cận ít xâm lấn nửa trên xương ức hoàn toàn khả thi, an toàn khi thực hiện kỹ thuật Ozaki, giúp giảm thiểu sang chấn xương ức, rút ngắn thời gian thở máy, giảm thời gian hồi sức và nằm viện so với đường mổ toàn bộ xương ức kinh điển.
- Nhận diện các yếu tố nguy cơ chuyển thay van: Phân tích các nguyên nhân kỹ thuật và tổn thương giải phẫu dẫn đến thất bại tạo hình phải chuyển thay van trong mổ, cung cấp kinh nghiệm thực tế quan trọng cho phẫu thuật viên trong quá trình triển khai và làm chủ kỹ thuật.
- Hội nhập dữ liệu quốc tế: Đóng góp dữ liệu lâm sàng của Việt Nam vào hệ thống cơ sở dữ liệu quốc tế về phẫu thuật Ozaki do Bệnh viện Nhi Boston (Hoa Kỳ) quản lý.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất áp dụng phẫu thuật Ozaki như một lựa chọn điều trị ngoại khoa hiệu quả cho các bệnh nhân mắc bệnh lý van động mạch chủ có chỉ định phẫu thuật, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân trẻ tuổi, bệnh nhân có chống chỉ định dùng thuốc chống đông hoặc có vòng van động mạch chủ nhỏ.
- Khuyến khích mở rộng ứng dụng đường mổ ít xâm lấn nửa trên xương ức tại các trung tâm phẫu thuật tim mạch có đầy đủ trang thiết bị và phẫu thuật viên đã vượt qua đường cong huấn luyện (learning curve).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Luận án được thực hiện tại một trung tâm phẫu thuật tim mạch duy nhất; cỡ mẫu nghiên cứu còn ở mức độ nhất định.
- Thời gian theo dõi bệnh nhân sau phẫu thuật mới dừng lại ở giai đoạn sớm và trung hạn (theo dõi chu phẫu và mốc 6 tháng sau mổ), chưa đủ thời gian dài (trên 10 - 15 năm) để đánh giá toàn diện nguy cơ thoái hóa mô màng tim, vôi hóa muộn hoặc tỷ lệ phẫu thuật lại tích lũy dài hạn.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục theo dõi dọc đoàn hệ bệnh nhân đã được phẫu thuật Ozaki đến các mốc 5 năm, 10 năm và 15 năm để xác định độ bền thực tế của màng ngoài tim tự thân xử lý Glutaraldehyde tại Việt Nam.
- Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn; nghiên cứu sâu hơn về ứng dụng phẫu thuật Ozaki ít xâm lấn trên các nhóm bệnh nhân đặc thù như viêm nội tâm mạc nhiễm trùng phức tạp, trẻ em hoặc người có dị tật van bẩm sinh phức tạp.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng
- Nghiên cứu sinh, bác sĩ nội trú, học viên chuyên khoa Ngoại lồng ngực - Tim mạch: Nguồn tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình kỹ thuật, nguyên lý đo đạc hình thái van, kỹ thuật xử lý màng tim và phẫu thuật tim ít xâm lấn.
- Bác sĩ phẫu thuật tim mạch thực hành: Cẩm nang hướng dẫn thao tác lâm sàng, các lưu ý xử lý mép van, phòng ngừa biến cố kỹ thuật và kiểm soát huyết động chu phẫu.
- Bác sĩ Nội Tim mạch, Siêu âm tim và Hồi sức tim mạch: Cơ sở đối chiếu các chỉ số huyết động, tiêu chuẩn siêu âm tim đánh giá diện áp, mức độ hở tồn lưu và theo dõi sau phẫu thuật tạo hình van.
Các phần nội dung có giá trị tham khảo cao
- Quy trình chuẩn xử lý màng ngoài tim tự thân bằng dung dịch Glutaraldehyde 0,6% trong 10 phút và quy tắc chọn vị trí màng tim tương ứng với kích thước từng lá van.
- Kỹ thuật khâu van tạo hình theo tỷ lệ bước chỉ 3:1 giữa đáy lá van và vòng van động mạch chủ.
- Tiêu chuẩn giải phẫu trên phim chụp cắt lớp vi tính và kỹ thuật mở ngực ít xâm lấn dọc nửa trên xương ức.
- Các phụ lục hướng dẫn lưu đồ chẩn đoán mức độ hẹp/hở van động mạch chủ theo khuyến cáo của EACVI/ASE 2017.
Câu hỏi thường gặp
1. Điểm khác biệt mấu chốt giữa phẫu thuật tạo hình van động mạch chủ theo phương pháp Ozaki và các phương pháp tạo hình bằng màng tim trước đây là gì?
Trong các phương pháp tạo hình toàn bộ 3 lá van màng ngoài tim trước đây (như của Carlos Duran hay John Chan), 3 lá van được cắt dính liền nhau thành một khối dựa trên chu vi chung của vòng van. Phương pháp Ozaki tạo nên sự khác biệt khi đo đạc kích thước từng xoang van riêng biệt bằng bộ dưỡng chuyên dụng, sau đó vẽ, cắt và khâu 3 lá van hoàn toàn độc lập, đưa van về cấu trúc 3 mảnh sinh lý giúp bảo tồn tối đa tính động học độc lập của từng lá van và sinh lý của gốc động mạch chủ.
2. Quy trình xử lý màng ngoài tim tự thân bằng dung dịch Glutaraldehyde trong nghiên cứu được tiến hành như thế nào?
Màng ngoài tim tự thân sau khi bóc tách được làm sạch lớp mỡ bề mặt, ngâm cố định trong dung dịch Glutaraldehyde nồng độ 0,6% trong đúng 10 phút. Sau đó, miếng màng tim được rửa qua 3 lần trong dung dịch nước muối sinh lý NaCl 0,9% (mỗi lần 6 phút) để loại bỏ hoàn toàn lượng hóa chất tồn dư trước khi tiến hành đo đạc và cắt khâu.
3. Đường tiếp cận ít xâm lấn được áp dụng cho phẫu thuật Ozaki trong luận án là đường mổ nào và có ưu điểm gì?
Luận án áp dụng đường mở ngực dọc nửa trên xương ức (đi từ hõm ức cưa dọc xuống rồi cưa ngang sang khoang liên sườn III hoặc IV). Đường mổ này giúp bảo tồn tính vững chắc của phần dưới lồng ngực, giảm đau sau mổ, rút ngắn thời gian thở máy và nằm hồi sức, đồng thời an toàn và rất thuận lợi để chuyển sang mở toàn bộ xương ức nếu gặp khó khăn kỹ thuật.
4. Phẫu thuật Ozaki có thể được chỉ định cho những dạng bệnh lý và hình thái tổn thương nào?
Phương pháp Ozaki có chỉ định rộng rãi cho hầu hết các bệnh lý van động mạch chủ bao gồm: hẹp van, hở van, bệnh lý hẹp - hở phối hợp, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, mổ lại van động mạch chủ, và tất cả các hình thái van bẩm sinh bất thường (van 1 mảnh, 2 mảnh hoặc 4 mảnh). Ngoài ra, phẫu thuật còn có thể thực hiện phối hợp với thay động mạch chủ lên, bắc cầu mạch vành, phẫu thuật van hai lá hoặc phẫu thuật Maze.
Kết luận
Luận án Tiến sĩ Y học của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang là công trình nghiên cứu lâm sàng chuyên sâu, đánh giá toàn diện việc ứng dụng phẫu thuật tạo hình van động mạch chủ bằng màng ngoài tim tự thân theo phương pháp Ozaki tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu khẳng định kỹ thuật Ozaki đạt tỷ lệ thành công cao, an toàn, phục hồi huyết động tối ưu qua van và giải phóng bệnh nhân khỏi việc dùng thuốc chống đông lâu dài. Việc kết hợp thành công kỹ thuật Ozaki với đường mở ngực ít xâm lấn nửa trên xương ức đã chứng minh tính ưu việt trong việc giảm thiểu sang chấn và đẩy nhanh tốc độ hồi phục hậu phẫu, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn giá trị cho chuyên ngành Phẫu thuật Tim mạch trong nước.