Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIẢI PHẪU SINH LÝ THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ Giải phẫu cột sống cổ Nối giữa đầu và thân của người là phần cổ, để có thể nâng đỡ được đầu phần cổ phải nhờ đến hệ thống cơ và xương cột sống rất chắc khỏe. Phần cột sống cổ là gồm 7 đốt sống cổ từ C1 đến C7. Giải phẫu cột sống cổ [12] Cột sống cổ có thân dẹp, bề ngang phía trước dày hơn phía sau, đỉnh lõm mỏm gai tách thành hai củ, mỏm gai ngang dính vào thân, vào cuống, có một số lỗ ngang để mạch đốt sống chui qua, mạch trên của mỏm ngang có rãnh thần kinh gai sống.
Lỗ đốt sống hình tam giác và rộng hơn các lỗ đốt sống khác, để chữa đoạn phình cổ của tủy gai và thích ứng với tiến độ di động lớn của đoạn sống cổ. C1 còn có tên là đốt đội ( atlat) : nâng đỡ hộp sọ, có hình tròn dẹp, thân đốt sống không rõ và lỗ đốt rất rộng, đảm bảo cho hộp sọ có thể quay chuyển được dễ dàng. Đốt sống này sờ khó thấy [12],[13]. 3 4 C2 còn có tên là đốt trục (Axis): có hình khuyên tròn, phía trên và trước khuyên này lồi lên một mỏm gọi là mỏm xương khế, đốt sống này dày, rất khỏe, sờ thấy rõ.
Đốt C2 khớp với C1 giúp cho hộp sọ chuyển động quay phải, quay trái, cúi, ngửa được dễ dàng. C3: đưa về phía trước. C4: đưa về phía trước sâu nhất, sờ khó thấy. C6: là đốt lồi trên.
C7 đốt cuối cùng của 7 đốt sống cổ, là đốt lồi dưới, gai sống cao nhất và mõm không trẻ đôi. Vì vậy đốt sống theo sinh lý sẽ là hơi cong về phía trước, cong nhất ở phần C4 và lồi ra sau cao nhất ở C7. Khi 1 hoặc nhiều đốt sống bị lồi lệch lõm làm mất đường cong bình thường… sẽ dẫn đến cột sống cổ bị mất đường cong sinh lý [12],[13]. Chức năng cột sống cổ Cổ tham gia vào sự phối hợp của mắt, đầu, thân mình, đồng thời tham gia vào việc định hướng trong không gian và điều khiển tư thế.
Cột sống cổ có 3 chức năng: đảm cho đầu chuyển động nhanh và dễ dàng: ❖ Bảo đảm cho đầu chuyển động nhanh và dễ dàng ❖ Chịu sức nặng của đầu ❖ Bảo vệ tuỷ - Chức năng vận động: Cột sống cổ là đoạn cột sống mềm dẻo nhất. cột sống cổ có tầm vận động linh hoạt hơn cột sống thắt lưng là do: + Đốt sống C1 có thể quay quanh C2 + Khớp đốt sống cổ có góc nghiêng phù hợp cho phép chuyển động trượt giữa các thân đốt nên có thể gấp, duỗi cổ dễ dàng. 4 5 + Khả năng đàn hồi của đĩa đệm [12],[13],[14]. - Chức năng chịu tải trọng: Các thân đốt sống cổ nhỏ, đĩa đệm cột sống cổ không chiếm toàn bộ bề mặt thân đốt.
do đó, tải trọng tác động lên đĩa đệm cột sống cổ lớn hơn ở các phần khác trong cột sống. Khoang gian đốt C2-C3, C4-C5 là những nơi chịu nhiều tải trọng nhất ở cột sống cổ do đó hay gặp thoái hoá cột sống cổ và thoát vị đĩa đệm sống cổ vì phải thường xuyên chịu tải trọng lớn hơn và di động nhiều hơn [13],[14]. Cơ chế gây đau vùng cột sống cổ Hai lý thuyết chính được nhiều tác giả ủng hộ trong cơ chế bệnh sinh của thoái hóa khớp nói chung là: lý thuyết cơ học và lý thuyết tế bào. Lý thuyết cơ học mô tả các vi gãy xương do suy yếu các sợi collagen dẫn tới việc hư hỏng các proteoglycan.
Lý thuyết tế bào nêu lên cơ chế tăng áp lực làm tế bào sụn cứng lại, giải phóng các emzym tiêu protein làm hủy hoại dần dần các chất cơ bản [15],[16],[17]. Những biến đổi ở cột sống cổ thoái hóa [17] Khi khớp bị thoái hóa các gai xương của mỏm móc nhô vào lỗ gian đốt sống chèn ép thần kinh gây đau. 5 6 Luschka phát hiện một nhánh của rễ thần kinh xuất phát từ hạch cạnh sống chui qua lỗ gian đốt sống, mạc đốt sống, dây chằng dọc sau, các màng của tủy sống và mạch máu khi bị kích thích sẽ gây đau. Đám rối thần kinh cánh tay và động mạch dưới đòn phải chui qua khe cơ bậc thang giữa và cơ bậc thang trước.
khi khe này bị hẹp chèn ép đám rối thần kinh sẽ đau như kim châm dọc mặt trong cánh tay lan đến tận ngón 4,5. Đau có thể lan lên vùng chẩm và tới ngực [15],[17]. ĐAU CỔ GÁY THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI Khái niệm Đau cổ gáy là tình trạng bệnh lý do co cứng các cơ thang, cơ ức đòn chũm sau khi gặp lạnh hoặc sau khi gánh vác nặng, do tư thế. Bệnh thường đột ngột, sau một đêm ngủ dậy thấy đau nhức khắp mình, đặc biệt đau tê vùng vai gáy, nhiều khi đau lan xuống bả vai làm tê mỏi các cánh tay, cẳng tay và ngón tay, kèm theo có hạn chế vận động cột sống cổ [17],[18].
Nguyên nhân gây đau cổ gáy Đau cổ gáy do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó người ta chia ra 2 nhóm là nguyên nhân cơ học và nguyên nhân do các bệnh lý về xương khớp [17],[18],[19]. Nguyên nhân cơ học - Chấn thương: Chấn thương có thể đến do chơi thể thao hoặc do tai nạn trong cuộc sống. Nếu chấn thương gây ảnh hưởng đến cột sống, gân, chằng,… thì việc bị đau mỏi hay thậm chí là viêm vai gáy là điều khó tránh khỏi. - Nhiễm lạnh: Cơ thể bị nhiễm lạnh cũng khiến khí huyết ngưng trệ, tổn thương dây thần kinh và làm cơn đau tăng lên.
- Thiếu dinh dưỡng: Khi cơ thể bị thiếu hụt chất dinh dưỡng sẽ làm dây thần kinh ngoại vi hoạt động yếu dần. Lâu ngày sẽ gây ra đau vai gáy. 6 7 - Tập luyện quá sức: Vận động thể thao là điều cần thiết cho sức khỏe nhưng nếu vận động quá sức sẽ gây phản tác dụng. Đặc biệt nếu tập không đúng kỹ thuật thì nguy cơ đau vai gáy là rất cao.
- Tính chất công việc: Nếu bạn ngồi một chỗ quá lâu cũng sẽ khiến cho các cơ ở vùng cổ, vùng bả vai bị chèn ép, khí huyết lưu thông chậm và gây đau cổ vai gáy. Ngồi làm việc sai tư thế cũng có thể là nguyên nhân gây nên công việc này. - Nằm ngủ sai tư thế: Khi bạn gối đầu quá cao, nằm quá lâu ở một tư thế, ngủ gục trên bàn, … thì mạch máu ở vùng cổ bị chèn ép và kém lưu thông gây đau mỏi vùng vai gáy [17],[18],[19]. Nguyên nhân về các bệnh lý xương khớp - Thoái hóa cột sống cổ: Gai xương xuất hiện do thoái hóa cột sống cổ gây chèn ép dây thần kinh vai gáy.
Người sau tuổi 40 sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. - Vôi hóa cột sống: Căn bệnh này cũng làm hình thành các gai xương, chúng chèn ép rễ thần kinh trong ống sống gây đau cổ, đau vai gáy. - Rối loạn chức năng thần kinh: Căn bệnh khiến dây thần kinh vùng vai gáy bị kéo giãn. - Rối loạn khớp bả vai lồng ngực: Bệnh thường gặp ở lái xe, thợ may, nhân viên văn phòng, … do phải ngồi ở một tư thế trong thời gian dài.
Bệnh gây đau vai gáy, khiến cho vùng vai gáy nhức mỏi. Nếu bệnh trở nặng, người bệnh có thể gặp khó khăn trong một vài tư thế như xoay cổ, cúi đầu,… - Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ và chấn thương vùng cổ là bệnh lý hay gặp và chữa rất vất vả đối với bệnh nhân [17],[18],[19]. Triệu chứng lâm sàng - Hội chứng cột sống cổ: 7 8 + Đau vùng cổ gáy, có thể khởi phát cấp tính sau chấn thương, sau động tác vận động cổ quá mức, hoặc tự nhiên sau khi ngủ dậy. Đau cũng có thể xuất hiện từ từ, âm ỉ, mạn tính + Hạn chế vận động cột sống cổ, có thể kèm theo dấu hiệu vẹo cổ, hay gặp trong đau cột sống cổ cấp tính + Điểm đau cột sống cổ khi ấn vào các gai sau, cạnh cột sống cổ tương ứng các rễ thần kinh [3],[17],[19].
- Hội chứng rễ thần kinh: + Đau vùng gáy lan lên vùng chẩm và xuống vai hoặc cánh tay, bàn tay, biểu hiện lâm sàng là hội chứng vai gáy, hội chứng vai cánh tay. Thường đau tăng lên khi xoay đầu hoặc gập cổ về phía bên đau + Rối loạn vận động, cảm giác kiểu rễ; yếu cơ và rối loạn cảm giác như rát bỏng, kiến bò, tê bì ở vùng vai, cánh tay, hoặc ở bàn tay và các ngón tay. + Một số nghiệm pháp đánh giá tổn thương rễ thần kinh cổ: Dấu hiệu chuông bấm: Ấn cạnh cột sống tương ứng với lỗ tiếp hợp thấy đau xuất hiện từ cổ lan xuống vai và cánh tay Nghiệm pháp dạng vai : Bệnh nhân ngồi, cánh tay đau đưa lên trên đầu và ra sau, các triệu chứng rễ giảm hoặc mất Nghiệm pháp kéo giãn cổ : Bệnh nhân nằm ngửa, thầy thuốc dùng tay giữ vùng chẩm và cằm và kéo từ từ theo trục dọc, làm giảm triệu chứng [3],[20] - Hội chứng tủy cổ: + Do lồi hoặc thoát vị đĩa đệm gây chèn ép tủy cổ tiến triển trong một thời gian dài + Biểu hiện sớm là dấu hiệu tê bì và mất khéo léo hai bàn tay, teo cơ hai tay, đi lại khó khan, nhanh mỏi. Giai đoạn muộn tùy vị trí tổn thương có thể thấy liệt trung ương tứ chi; liệt ngoại vi hai tay và liệt trung ương hai chân; rối loạn phản xạ đại tiểu tiện [3],[20] - Các triệu chứng khác: 8 9 + Hội chứng động mạch sống nền: đau vùng chẩm, chóng mặt, ù tai, mờ mắt, đôi khi có giảm thị lực thoáng qua, mất thăng bằng, mệt mỏi.
+ Có thể có các rối loạn thần kinh thực vật: đau kèm theo ù tai, rối loạn thị lực, rối loạn vận mạch vùng chẩm vai hoặc tay. + Khi có các triệu chứng toàn thân như sốt, rét run, vã mồ hôi vào ban đêm, sụt cân,… cần phải lưu ý loại trừ bệnh lý ác tính, nhiễm trùng [3],[17],[19] 1. Cận lâm sàng - Xét nghiệm máu : ít có giá trị chuẩn đoán trong bệnh lý cột sống cổ và đĩa đệm gây chèn ép cơ học. Trong những bệnh như khối u, viêm, nhiễm trùng có thể thấy thay đổi trong một số xét nghiệm như tế bào máu ngoại vi, tốc độ máu lắng, CRP, phosphatase kiềm, điện di protein huyết thanh, v.
Hình ảnh X-Quang thoái hóa cột sống cổ [19] Điều trị đau cổ gáy 1. Nguyên tắc điều trị - Điều trị triệu chứng. - Phục hồi chức năng của cột sống cổ, hạn chế sự tàn tật. - Hạn chế tác dụng không mong muốn của thuốc [3],[17],[19].