CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN RỐI LOẠN GIẤC NGỦ 1. Tầm quan trọng của giấc ngủ đối với sức khỏe con người Ngủ là một trạng thái sinh lý tự nhiên và không thể thiếu trong quá trình sống, chiếm khoảng một phần ba cuộc sống của con người. Giấc ngủ lành mạnh rất quan trọng trong việc duy trì sức khỏe, về thể chất và tinh thần.
17 Một giấc ngủ tốt phải đảm bảo đầy đủ về số lượng, chất lượng và thời gian, giúp cơ thể cảm thấy thoải mái về thể chất và tinh thần khi thức dậy. Giấc ngủ giúp phục hồi lại chức năng của các cơ quan trong cơ thể như17,18: - Hỗ trợ quá trình phục hồi và tái tạo của cơ thể. - Cải thiện chức năng não bộ. - Cân bằng sự điều hòa nội tiết và trao đổi chất.
- Cải thiện hiệu suất công việc và nâng cao chất lượng cuộc sống. Ngược lại, RLGN diễn ra thường xuyên có thể gây hậu quả nghiệm trọng đến sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh gây rối loạn các chức năng ở hầu hết các hệ thống của cơ thể và đời sống xã hội như: - Tăng nguy cơ mắc các bệnh về rối loạn thần kinh như trầm cảm, lo âu, suy giảm trí nhớ,8 cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến các bệnh lý tim mạch, 7 trào ngược dạ dày thực quản,9 tăng huyết áp.6 - Thiếu ngủ hoặc buồn ngủ vào ban ngày làm tăng nguy cơ tai nạn giao thông, đặc biệt nguy hiểm với những người làm việc trong ngành vận tải. 19 Ngoài ra, RLGN nặng có thể liên quan đến tình trạng tử vong của bệnh trầm cảm nặng, ung thư, bệnh lý tim mạch.5 - Những người mắc chứng RLGN thường có khả năng giảm hiệu suất công việc nhưng tăng các khoản thanh toán cho chi phí điều trị, giảm chất lượng cuộc sống, gây gánh nặng lớn ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Các yếu tố liên quan đến rối loạn giấc ngủ Tỉ lệ mắc các RLGN trên thế giới có sự khác biệt tùy thuộc vào văn hóa, kinh tế, xã hội từng quốc gia.
Các nghiên cứu cắt ngang với cỡ mẫu tương đối đồng đều cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nước ở nước phát triển và đang phát triển. Ví dụ, tại Pakistan tỉ lệ mất ngủ (45,2% ) và ngưng thở khi ngủ (34,8%) ở người trưởng thành cao hơn so với nước đang phát triển như Úc, với tỉ lệ tương ứng là 20% và 8% người bệnh.3,19 Ngoài ra, tỉ lệ mắc RLGN còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nguy cơ liên quan đến lối sống, sức khỏe và xã hội, bao gồm các yếu tố sinh học (giới tính, tuổi tác, di truyền…) đến các yếu tố tâm lý xã hội (căng thẳng, lão hóa, nhiều bệnh nền…). Các yếu tố này có thể góp phần làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề về giấc ngủ. Một số nghiên cứu liên quan đến các yếu tố nguy cơ này được trình bày tại Bảng 1.
Các yếu tố liên quan đến giấc ngủ Tác giả Tóm tắt nghiên cứu Monica P. Phụ nữ có nguy cơ rối loạn mất ngủ cao hơn, trong khi nguy cơ và cộng sự ngưng thở khi ngủ lại xuất hiện nhiều hơn ở nam giới. Nguyên (2014)20 nhân mất ngủ ở phụ nữ có thể liên quan đến hormon ở các giai đoạn mang thai và mãn kinh. và Tỉ lệ RLGN gia tăng ở người cao tuổi có thể do sự lão hóa, mắc cộng sự nhiều bệnh cùng lúc, sử dụng nhiều loại thuốc và các yếu tố tâm lý (2017)21 xã hội.
và Căng thẳng có liên quan tích cực đến chứng rối loạn mất ngủ và cộng sự ngưng thở khi ngủ, và chưa có ghi nhận liên quan đến chứng ngủ (2022)8 rũ. và Nghiên cứu cung cấp nhiều bằng chứng về sự liên quan của RLGN cộng sự với yếu tố di truyền. Cụ thể DALRD3, LDHA, HEBP2, TEX264 (2022)22 và FGFR3 với chứng rối loạn giấc ngủ. 6 Việc xác định rõ các yếu tố nguy cơ, ta có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị sớm.
Điều trị kịp thời không chỉ giúp cải thiện chất lượng sống mà còn ngăn ngừa các biến chứng sức khỏe liên quan. ĐIỀU TRỊ Y HỌC CỔ TRUYỀN TRONG RỐI LOẠN GIẤC NGỦ 1. Chẩn đoán RLGN theo YHCT Theo Thiên 71 Linh Khu trong sách Hoàng Đế Nội Kinh, giấc ngủ bị ảnh hưởng bởi sự vận hành của vệ khí trong cơ thể. Vào ban ngày, vệ khí ngày vận hành ở Dương phận, giúp cơ thể tỉnh táo và năng động.
Ban đêm, vệ khí vận hành ở Âm phận, giúp cơ thể thư giãn và ngủ. Tuy nhiên, khi Dương khí quá thịnh, vệ khí không thể trở lại Âm phận, dẫn đến mất ngủ. Hiện tượng này làm mất cân bằng Âm - Dương, khiến mắt không thể nhắm lại và cơ thể khó vào giấc ngủ.23 Trong YHCT, mất ngủ thuộc phạm trù "Thất miên". Theo lý thuyết YHCT Trung Quốc, giấc ngủ của con người không thể tách rời khỏi sự ổn định của tâm và trí.
Mất ngủ có thể do nhiều nguyên nhân như ngoại tà xâm nhập, chính khí suy yếu, nhưng chủ yếu là do tâm và trí bị rối loạn, khiến thần không yên, làm người bệnh không thể có giấc ngủ bình thường.24 Cơ chế bệnh sinh của thất miên bao gồm25: - Nội nhân: tình chí giận dữ dẫn đến Can khí uất kết, Can uất hóa hỏa, hỏa động tâm thần dẫn đến mất ngủ. Tình chí sợ hãi dẫn đến khí loạn gây Tâm Đởm khí hư, tâm thần không yên. Tình chí ưu thái quá tổn thương tổn thương Tỳ khí, Tỳ khí hư không sinh huyết nuôi dưỡng tâm, dẫn đến Tâm Tỳ lưỡng hư. - Ngoại nhân: thường gây mất ngủ thoáng qua, sẽ mất khi giải trừ.
Tuy nhiên, khi lục dâm không được giải trừ hết ở bên ngoài biểu sẽ xâm nhập vào trong Lý và hóa thành phục nhiệt quấy rối hung cách, dẫn đến thất miên. - Bất nội ngoại nhân: ăn uống không điều độ, dẫn đến thức ăn lưu trệ sinh đàm thấp ủng trệ tại Vị và trung tiêu, khiến khí không thăng giáng được, thượng 7 nghịch quấy nhiễu Tâm. Ngoài ra, chấn thương gây huyết ứ dẫn đến khí trệ quấy rối thần minh. - Nội thương: thể chất yếu bệnh lâu ngày, Tâm huyết hư hoặc Tâm Tỳ lưỡng hư không nuôi dưỡng được Tâm thần; Can Thận âm hư sinh nội nhiệt thượng nghịch động thần minh; Tâm Thận hư không hỗ trợ nhau bất giao khiến Tâm hỏa vượng động sinh thất miên.
Dựa vào cơ chế và nguyên nhân sinh bệnh là cảm thụ ngoài tà, tình chí thất thường, nội thương, thất miên được chia làm nhiều thể lâm sàng. Tùy vào thể bệnh mà pháp trị khác nhau25: Bảng 1. Tóm tắt thể bệnh và pháp trị theo YHCT Thể bệnh lâm sàng Pháp trị Can uất hóa hỏa Sơ Can khí, thanh Can hỏa, dưỡng Tâm an thần Phục nhiệt hung cách Sơ Can khí, thanh Can hỏa, dưỡng Tâm an thần Tâm hỏa vượng Thanh Tâm hỏa, an thần Đàm nhiệt nội nhiễu Thanh hóa đàm nhiệt, điều hòa trung tiêu, an thần Can Tỳ bất hòa Sơ Can kiện Tỳ, hòa Vị, an thần Tâm huyết hư Bổ Tâm huyết, an thần Tâm âm hư Bổ Tâm âm, thanh nhiệt, an thần Tâm Tỳ lưỡng hư Bổ Tỳ khí, dưỡng Tâm huyết an thần Tâm Thận bất giao Bổ Tâm Thận âm, thanh nhiệt, an thần Tâm Đởm khí hư Bổ Đởm khí, dưỡng huyết, bổ Tâm âm, an thần 1. Phương pháp điều trị RLGN theo YHHĐ Theo thông tư số 5480/QĐ-BYT của Bộ Y tế hướng dẫn Quy trình kỹ thuật chuyên ngành Y học cổ truyền ở các cơ sở khám bệnh, dựa vào đó, trong nghiên cứu này, các phương pháp sẽ được phân nhóm thành phương pháp điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc.
Phương pháp kỹ thuật điều trị không dùng thuốc - Châm cứu: dựa trên lý thuyết về kinh mạch, châm cứu sử dụng kim mỏng kích thích các huyệt đạo để cải thiện lưu thông khí huyết. Châm cứu bao gồm nhiều hình thức như hào châm, điện châm, đầu châm, nhĩ châm, laser châm, thủy châm…26 - Cấy chỉ: là phương pháp kết hợp với kỹ thuật YHHĐ, cấy chỉ catgut tự tiêu vào huyệt đạo. Phương pháp này kích thích liên tục lên huyệt đạo, giúp duy trì tác dụng điều trị trong thời gian dài mà không cần châm cứu thường xuyên. Phương pháp này là một giải pháp tiện lợi cho người bệnh, mang lại hiệu quả tương tự châm cứu truyền thống.27 - Dưỡng sinh là bao gồm nhiều hoạt động như thiền định, yoga, thái cực quyền, khí công và các động tác tập khác.
Dưỡng sinh giúp cân bằng giữa sức khỏe và tâm trí, lưu thông khí huyết, dưỡng sinh không chỉ tập trung vào bệnh tật mà còn phòng ngừa bệnh tật liên quan đến tâm và thần, liên quan đến chứng mất ngủ mạn tính. Ngoài ra điểm mạnh của biện pháp này là đơn giản, tiết kiệm chi phí và dễ thực hiện trong tại nhà.28 - Xoa bóp – bấm huyệt: sử dụng tay để tác động lên vùng điều trị dựa trên nguyên lí tác động lên huyệt đạo và hệ kinh lạc để điều trị rối loạn giấc ngủ. Phương pháp này không xâm lấn, ít tốn kém và dễ tiếp cận, giúp cải thiện tuần hoàn và giảm căng thẳng.29 Các nhóm kỹ thuật khác như chườm, ngâm, giác hơi,… - Các kỹ thuật khác: Bao gồm chườm, ngâm, giác hơi và các liệu pháp tương tự giúp tăng cường tuần hoàn máu và giảm đau, đồng thời hỗ trợ giấc ngủ. Phương pháp điều trị dùng thuốc Phương pháp điều trị dùng thuốc trong YHCT được chia làm 3 loại: thuốc thang, thuốc dạng viên (viên nang, viên hoàn, viên tễ,…) và thuốc dùng ngoài (cao dán, dầu, rượu xoa bóp,…).26 9 Theo thông tư số 13/VBHN-BYT30 về danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc YHCT thuộc phạm vi thanh toán của bảo hiểm, các nhóm thuốc an thần hỗ trợ điều trị RLGN như táo nhân, vong nem, liên tâm, bình vôi, linh chi, phục thần, viễn chí, và nhiều vị thuốc khác.3 dưới đây liệt kê dược liệu phổ biến trong mỗi nhóm.
Phân loại các nhóm thuốc an thần trong Y học cổ truyền Thuốc an thần Dưỡng Tâm an thần bá tử nhân, lá vông nem, lạc tiên, long nhãn, hắc táo nhân, viễn chí, hợp hoan bì, linh chi, phục thần. Trọng trấn an thần trân châu mẫu, chu sa (thần sa), long cốt, long xỉ, mẫu lệ. Trong YHCT, các loại thuốc an thần thường được chia thành hai nhóm chính dựa trên cơ chế tác động: Dưỡng Tâm an thần và Trọng trấn an thần. Nhóm thuốc Dưỡng tâm an thần thường có nguồn gốc từ thực vật, như bá tử nhân, lá vông nem, lạc tiên… dùng điều trị trong các trường hợp hư chứng.