MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Ung thư dạ dày hiện đang xếp vào loại ung thư phổ biến thứ tư và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến ung thư trên toàn thế giới. Xu hướng gia tăng bệnh chủ yếu tập trung ở các nước châu Á và các vùng miền có thu nhập thấp. Cho đến nay, hiệu quả điều trị ung thư dạ dày không mấy khả quan và tỷ lệ sống trung bình trong nhóm này vẫn còn dưới một năm. Ung thư dạ dày là một bệnh phức tạp, đòi hỏi sự theo dõi và nghiên cứu liên tục về phòng ngừa, phát hiện sớm và các phác đồ điều trị mới.
Hiện nay, một số phương pháp đã được sử dụng cho điều trị ung thư dạ dày, tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, đáp ứng với điều trị là rất yếu và gây ra nhiều tác dụng phụ. Vì vậy, việc tìm kiếm phương pháp mới để hỗ trợ chữa trị ung thư là điều cần thiết cần phải liên tục nghiên cứu. Xuất phát từ thực trạng đó, nhiều nghiên cứu trên cây thuốc và bài thuốc từ các hợp chất thiên nhiên mang lại tiềm năng lớn cho nhu cầu trị liệu ung thư lâu dài và an toàn. Vì vậy, các sản phẩm có nguồn gốc thảo dược đang được khuyến khích để sử dụng nhằm phòng và hỗ trợ điều trị bệnh, trong đó có ung thư dạ dày.
Đặc biệt, Việt Nam được biết đến với nguồn tài nguyên cây thuốc phong phú và đa dạng. Từ lâu, nhiều cây cỏ và rau xanh đã được sử dụng trong dân gian để phòng và hỗ trợ kiểm soát bệnh, trong đó có ung thư dạ dày. Tuy nhiên, cơ sở khoa học cho việc chứng minh cơ chế hoạt động của các dược liệu đó trong các bài thuốc dân gian đối với ung thư dạ dày vẫn còn chưa rõ ràng. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài luận văn “Khảo sát hoạt tính ức chế tế bào ung thư dạ dày của một số rau xanh Việt Nam” được triển khai thực hiện.
Mục tiêu của đề tài Mục tiêu chung - Sàng lọc và đánh giá được hoạt tính ức chế sinh trưởng và tiêu diệt tế bào ung thư dạ dày của một loại rau ăn trên mô hình thí nghiệm In-vitro. Mục tiêu cụ thể - Sàng lọc một loại rau và cao phân đoạn của nó có hoạt tính tiêu diệt tế bào ung thư dạ dày. 7 - Khảo sát khả năng kháng oxy hóa của cao tổng và cao phân đoạn được sàng lọc. - Khảo sát khả năng tiêu diệt và ức chế di chuyển tế bào ung thư dạ dày của cao phân đoạn được sàng lọc.
Đối tượng nghiên cứu - Rau sam, rau diếp cá, rau nhút. - Tế bào ung thư dạ dày BGC-823 có nguồn gốc từ ngân hàng tế bào Học viện Khoa học Trung Quốc, Thượng Hải, Trung Quốc. Phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu trên 3 đối tượng rau ăn hàng ngày là rau sam, rau diếp cá và rau nhút được bán tại các cửa hàng rau sạch đạt tiêu chuẩn Việt Gap trên địa bàn quận 7, Tp. Hồ Chí Minh.
- Mô hình khảo sát hoạt tính kháng ung thư là mô hình In-vitro. - Thí nghiệm được tiến hành trong phòng thí nghiệm của trường Đại học Nguyễn Tất Thành và trường Đại học Văn Lang Tp. Hồ Chí Minh. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta thấy được vai trò có lợi của một số loại rau đối với việc ức chế sự sinh trưởng và tiêu diệt tế bào ung thư dạ dày, từ đó nhận thấy được vai trò và tác dụng của các loại rau ăn hàng ngày đối với việc phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày.
Kết quả nghiên cứu sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn và nghiên cứu lâm sàng để tiến đến sản xuất ứng dụng phục vụ nhu cầu cộng đồng trong việc phòng ngừa ung thư dạ dày. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ DẠ DÀY 1. Giới thiệu ung thư dạ dày Ung thư dạ dày là một căn bệnh hiểm nghèo gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người bệnh trên toàn cầu.
Ung thư dạ dày hiện đang xếp vào loại ung thư phổ biến thứ tư và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến ung thư trên toàn thế giới [1]. Mặc dù tỷ lệ tử vong đang có xu hướng giảm do chế độ dinh dưỡng được cải thiện, sự bảo quản thực phẩm tốt, sự phòng ngừa bệnh tốt hơn, sự chẩn đoán và điều trị sớm hơn, nhưng bệnh này vẫn có xu hướng diễn tiến theo chiều hướng xấu. Cho đến nay, ung thư dạ dày thường được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển của bệnh. Về cơ bản, phương thức điều trị phổ biến vẫn là phẫu thuật cắt bỏ bằng hóa trị bổ trợ hoặc hóa trị trong các trường hợp thích hợp, giúp cải thiện khả năng sống sót [2].
Tuy nhiên, hiệu quả điều trị ung thư dạ dày không mấy khả quan và tỷ lệ sống trung bình trong nhóm này vẫn còn dưới một năm [3]. Ung thư dạ dày là một bệnh phức tạp, đòi hỏi sự theo dõi và nghiên cứu liên tục về phòng ngừa, phát hiện sớm và các phác đồ điều trị mới. Sự phân bố ung thư dạ dày thay đổi đáng kể giữa các khu vực địa lý. Đặc biệt, các quốc gia châu Á chiếm phần lớn các trường hợp trên thế giới [4].
Ngay cả trong các khu vực có tỷ lệ người mắc bệnh cao, đa số người mắc bệnh là những người có thu nhập thấp [5]. Các yếu tố như môi trường và chế độ dinh dưỡng có liên quan đến sự phát triển của bệnh. Những thực phẩm được bảo quản bằng muối nitrat, thực phẩm hun khói hoặc ngâm giấm có liên quan đến việc tăng nguy cơ phát triển ung thư dạ dày [6]. Nhiễm trùng niêm mạc mãn tính do vi khuẩn Helicobacter pylori cũng được xem là nguyên nhân quan trọng gây ra ung thư dạ dày [7].
Tác động của ung thư dạ dày Theo thống kê, 73% các trường hợp ung thư dạ dày được chẩn đoán ở các nước châu Á và gần 50% các trường hợp trên thế giới được phát hiện ở Trung Quốc [4]. Châu Âu chiếm thêm 15% và Trung và Nam Mỹ có 7% các 9 trường hợp mắc ung thư dạ dày [8]. Đặc biệt, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới cao gấp đôi phụ nữ và tỷ lệ mắc bệnh tăng theo độ tuổi. Ngay cả trong cùng một khu vực địa lý, một số nhóm dân tộc có nguy cơ mắc bệnh cao hơn đáng kể.
Ở Hoa Kỳ, người gốc Tây Ban Nha, người Mỹ gốc Phi và người Mỹ bản địa thường bị ảnh hưởng nhiều hơn người Mỹ da trắng [9]. Tuy nhiên, tình trạng kinh tế xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày. Tỷ lệ mắc ung thư dạ dày có thể được phân chia thêm theo vị trí của nó trong dạ dày như ung thư tại phần xa của dạ dày (noncardia) và ung thư phát sinh ở khu vực gần tim [10]. Sự phân biệt giữa bệnh tim và bệnh noncardia rất quan trọng vì có biểu hiện gần giống nhau nhưng có nguyên nhân khác nhau.
Nhìn chung, các quốc gia kém phát triển có tỷ lệ bệnh ung thư dạ dày cao hơn các nước phát triển. Trong tất cả các quốc gia bị ảnh hưởng, ung thư dạ dày noncardia có nhiều khả năng ảnh hưởng đến những người thuộc nhóm thu nhập thấp [5]. Tương tự, nguy cơ nhiễm Helicobacter pylori có liên quan đến tình trạng thu nhập thấp, tình trạng quá tải và mất vệ sinh [10]. Đặc điểm và phân loại bệnh Một số hệ thống phân loại dùng để xác định ung thư dạ dày nhưng thường được sử dụng nhất là phân loại Lauren.
Phân loại Lauren được định nghĩa theo hai loại bao gồm loại ruột và loại khuếch tán [11]. Mỗi phân nhóm đại diện cho các đặc điểm lâm sàng và dịch tễ khác nhau. Có rất ít trường hợp ung thư dạ dày hiển thị các đặc điểm của cả hai loại trên. Sự khác biệt về hình thái giữa hai loại có liên quan đến các phân tử bám dính nội bào.
Khuếch đại gene là một kiểu biểu hiện thường xuyên của sự thay đổi gene trong ung thư dạ dày. Sự biểu hiện quá mức protein như vậy có thể được phát hiện bởi phân tích hóa mô miễn dịch. Khuếch đại của thụ thể liên quan yếu tố tăng trưởng biểu bì 2 (HER2) được thấy trong các khối u đại trực tràng, phổi, dạ dày và buồng trứng [12]. Trong ung thư dạ dày, biểu hiện quá mức HER2 được báo cáo ở 7-34% của khối u, đặc biệt là ở ngã ba thực quản dạ dày và trong các tổn thương đường ruột [13].
Sự biểu hiện quá mức của yếu tố tăng trưởng biểu mô (EGFR) đã được chứng minh là một dấu hiệu cho dấu hiệu xấu 10 trong ung thư dạ dày [14]. Biểu hiện của yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu A (VEGFA) và thụ thể của nó được nhận thấy trong khoảng 40% trường hợp ung thư dạ dày và tăng biểu hiện của VEGFA có liên quan đến sự tiến triển của bệnh [15]. Các protein trên là mục tiêu cho việc lựa chọn các liệu pháp trị liệu nhằm kiểm soát ung thư dạ dày. Các liệu pháp cho việc chữa trị Tùy thuộc vào kích thước và vị trí của khối u nguyên phát, phương pháp trị liệu có thể là phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ hoặc một phần.
Trong đó, liệu pháp hóa trị đã được sử dụng trong trường hợp di căn. Mặc dù nhiều liệu pháp tiếp cận trực tiếp đến các “targets” đã được nghiên cứu, nhưng chỉ có hai phương pháp đã được phê duyệt để sử dụng tại Hoa Kỳ dựa trên các thử nghiệm lâm. Sự ức chế HER2 đã được thử nghiệm như một liệu pháp cho một số bệnh ung thư. Bên cạnh đó, trastuzumab được tạo ra như một kháng thể đơn dòng nhắm vào HER2 và do đó ức chế tín hiệu qua trung gian HER2 và ngăn chặn sự phân tách của các domain ngoại bào của nó [16].
Một nghiên cứu quốc tế gần đây ở giai đoạn III đã đánh giá tính hiệu quả của trastuzumab. Bệnh nhân được điều trị bằng trastuzumab kết hợp với hóa trị liệu đã cải thiện hơn tình trạng bệnh so với chỉ dùng hóa trị [17]. Khuyến nghị Ung thư dạ dày vẫn là mối đe dọa đáng kể đối với sức khỏe toàn cầu. Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh có xu hướng giảm trong nhiều thập kỷ qua, nhưng vẫn còn nhiều chỗ cần cải thiện liên quan đến việc phòng ngừa, phát hiện, can thiệp sớm và điều trị để kéo dài sự sống.