ĐẶT VẤN ĐỀ Đau dây thần kinh tọa (TKT) là bệnh lý khá phổ biến trong lâm sàng các bệnh nội khoa, do nhiều nguyên nhân gây ra trong đó có thoái hóa cột sống (THCS) thắt lƣng [1]. Cơ chế đau dây TKT do THCS thắt lƣng liên quan đến thay đổi cấu trúc của cột sống tạo thành gai xƣơng hoặc hẹp đốt sống [2]. Đau dây TKT biểu hiện bởi cảm giác đau dọc theo đƣờng đi của dây TKT: Đau từ vùng cột sống thắt lƣng lan tới mặt ngoài đùi, mặt trƣớc ngoài cẳng chân, mắt cá ngoài và tận ở các ngón chân (tùy theo vị trí tổn thƣơng mà hƣớng lan của đau có khác nhau) [3].Các yếu tố nguy cơ thúc đẩy gây bệnh bao gồm gia tăng tuổi, tình trạng béo phì, nghề nghiệp, hoạt động thể lực, …[4], [5]. Năm 2015 Tổ chức Nghiên cứu Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu (Global Burden of Disease Study) công bố nghiên cứu thực hiện trong 10 năm trên 188 quốc gia cho thấy đau dây TKT là bệnh lý phổ biến, 43% bệnh nhân đau lƣng có biểu hiện đau dây TKT [6], [7].
Nghiên cứu của phân tích tổng hợp của tác giả Rodrigo (2015) cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có đau dây TKT của ngƣời cao tuổi Brazil là 25,4% [8]. Nghiên cứu COPCORD (2014) tại Mỹ đau dây TKT chiếm từ 1,8% đến 11,3% dân số [9]. Theo Trần Ngọc Ân 11,4% bệnh nhân điều trị tại khoa Cơ Xƣơng Khớp Bệnh viện Bạch Mai trong 10 năm (1991 - 2000) là do đau dây TKT, đứng thứ hai sau viêm khớp dạng thấp [10]. Đau dây TKT là bệnh lý mạn tính, diễn biến tăng dần.
Bệnh tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhƣng dai dẳng gây cho bệnh nhân cảm giác khó chịu, ảnh hƣởng nặng nề đến sinh hoạt của mỗi cá nhân, làm giảm năng suất lao động, giảm chất lƣợng cuộc sống. Y học hiện đại (YHHĐ) có nhiều phƣơng pháp điều trị đau dây TKT nhƣ dùng thuốc chống viêm giảm đau, thuốc giãn cơ, vitamin nhóm B,…. Tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả tốt 2 thì những phƣơng pháp này vẫn còn có những hạn chế nhất định nhƣ tốn kém, có nhiều tác dụng phụ nhƣ viêm loét dạ dày, hội chứng cushing, ảnh hƣởng đến chức năng gan thận… [11], [12], [13], [14]. Vì vậy, xu hƣớng của các nhà khoa học ở Việt Nam và trên thế giới đều hƣớng tới nghiên cứu những phƣơng pháp không dùng thuốc, những phƣơng pháp này dễ thực hiện, ít tốn kém, không gây tác dụng phụ mà vẫn mang lại hiệu quả tốt trong điều trị.
Theo y học cổ truyền (YHCT) đau dây TKT có bệnh danh là tọa cốt phong [15]. Từ hàng ngàn năm nay, có nhiều phƣơng pháp điều trị cổ xƣa nhƣ thuốc thang, thuốc hoàn, châm cứu, xoa bóp, nhĩ châm, … [16]. Phƣơng pháp dƣỡng sinh Nguyễn Văn Hƣởng là một phƣơng pháp tự lực cánh sinh, tự mình tập luyện cho mình nhằm mục đích: Bồi dƣỡng sức khỏe, phòng bệnh, trị bệnh mạn tính, tiến tới sống lâu, sống có ích [17]. Phƣơng pháp đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở kết hợp kinh nghiệm cổ truyền của dân tộc, đã đƣợc áp dụng điều trị cho nhiều bệnh lý khác nhau do thoái hóa nhƣ: Thoái hóa khớp gối, đau lƣng, đau vùng cổ gáy, đau dây thần kinh tọa… mang lại kết quả tốt trên lâm sàng [18].
Tuy nhiên, chƣa có đề tài nào nghiên cứu phƣơng pháp này kết hợp với điện châm, chiếu đèn hồng ngoại trong điều trị đau thần kinh tọa vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu Đề tài “Đánh giá hiệu quả của phương pháp dưỡng sinh kết hợp điện châm, chiếu đèn hồng ngoại trên người bệnh đau thần kinh tọa” với hai mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng theo Y học cổ truyền của người bệnh đau thần kinh tọa thể phong hàn thấp kèm can thận hư tại bệnh viện Y học cổ truyền Thái Bình năm 2021 2. Đánh giá hiệu quả của phương pháp dưỡng sinh kết hợp điện châm, chiếu đèn hồng ngoại trên người bệnh đau thần kinh tọa thể phong hàn thấp kết hợp can thận hư. 3 2Chƣơng 1 3TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
GIẢI PHẪU SINH LÝ DÂY THẦN KINH TỌA 1. Giải phẫu dây thần kinh tọa Dây TKT xuất phát từ đám rối thần kinh thắt lƣng cùng, đƣợc hợp bởi rễ chính L5 và S1 và các rễ phụ L3, L4 và S2, S3 sau khi đi qua nhiều đốt sống tƣơng quan tới lỗ tiếp các rễ hợp lại thành dây TKT thoát ra khỏi ống sống sau đó đi qua khớp cùng chậu qua lỗ khuyết hông ra mông nằm giữa hai lớp cơ mông (lớp nông và lớp giữa), rồi đi xuống mặt sau đùi đến đỉnh trám khoeo chia làm 2 nhánh, hông khoeo trong (thần kinh chày) và hông khoeo ngoài (thần kinh mác trong) [19]. Sơ đồ đám rối thần kinh thắt lưng cùng [20] 4 Khi các rễ hợp lại thành dây TKT để đi ra ngoài ống sống, TKT phải đi qua một khe hẹp gọi là khe gian đốt - đĩa đệm - dây chằng. Khe này có cấu tạo phía trƣớc là thân đốt sống, đĩa đệm, phía bên là cuống giới hạn bởi lỗ liên hợp, phía sau là dây chằng.
Dây hông khoeo trong chứa các sợi thuộc rễ S1, đi tới mắt cá trong, chui xuống gan bàn chân và kết thúc ở ngón chân út. Dây hông khoeo ngoài chứa các sợi của rễ L5, đi xuống mu chân và kết thúc ở ngón chân cái [19]. Chức n ng d y thần inh tọa Dây TKT chi phối các động tác của chân nhƣ duỗi háng, gấp đầu gối, ngồi xổm, gấp bàn chân, kiễng gót chân hay kiễng ngón chân, góp phần làm nên các động tác đi lại, đứng, ngồi của hai chân. Rễ thắt lƣng L5 (nhánh hông khoeo ngoài) chịu trách nhiệm chi phối vận động các cơ ở cẳng chân trƣớc ngoài, thực hiện các động tác nhƣ gấp bàn chân, duỗi các ngón chân, đi trên gót chân và chi phối cảm giác một phần mặt sau đùi, mặt trƣớc ngoài cẳng chân và các ngón chân cái và các ngón lân cận.
ĐAU THẦN KINH TỌA THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 1.1 Khái niệm Đau dây TKT là một hội chứng đau rễ thần kinh thắt lƣng V và cùng I, có đặc tính lan theo đƣờng đi của dây TKT (từ thắt lƣng xuống hông), dọc theo mặt sau đùi xuống cẳng chân, lan ra ngón cái hoặc ngón út (tuỳ theo rễ bị đau) [1]. Nguyên nhân g y đau d y thần kinh tọa Nguyên nhân hàng đầu là do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lƣng (CSTL) gây chèn ép rễ L5 hoặc S1, trƣợt đốt sống, THCS thắt lƣng. Các nhóm nguyên 5 nhân trên đều có thể xuất hiện đơn độc hoặc kết hợp với nhau trên cùng một bệnh nhân [21], [22]. Các nguyên nhân hiếm gặp hơn là mắc phải của cột sống thắt lƣng: Viêm cột sống, trƣợt đốt sống, viêm cột sống dính khớp, ung thƣ cột sống, chấn thƣơng cột sống, khối u tại cột sống, dị dạng bẩm sinh cột sống: cùng hóa L5 - S1, gai đôi L5 - S1, lệch trục chi bẩm sinh [23].
Trong đó THCS thắt lƣng là nguyên nhân khá phổ biến gây ra đau dây TKT. Bệnh là hậu quả của nhiều yếu tố: Tuổi cao, giới nữ, nghề nghiệp lao động nặng, tiền sử chấn thƣơng cột sống, bất thƣờng trục chi dƣới,… Do tình trạng chịu áp lực quá tải lên sụn khớp và đĩa đệm lặp đi lặp lại kéo dài trong nhiều năm dẫn đến sự tổn thƣơng sụn khớp, phần xƣơng dƣới sụn, mất tính đàn hồi của đĩa đệm, xơ cứng dây chằng bao khớp tạo nên những triệu chứng và biến chứng trong THCS [24], [25]. Triệu chứng l m ng Triệu chứng cơ n ng Đau lan theo đƣờng đi của dây TKT [26], [27]: - Đau từ vùng thắt lƣng xuống mặt sau đùi, mặt trƣớc ngoài cẳng chân, mu chân, ngón cái (tổn thƣơng kích thích rễ L5). - Đau từ vùng thắt lƣng lan xuống mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân, xuống gót chân tận cùng ở ngón út (tổn thƣơng kích thích rễ S1).
Cách thức bắt đầu: Đau xuất hiện tự nhiên hoặc sau vận động quá mức cột sống, không có tiền sử ngã hoặc chấn thƣơng r rệt. Các yếu tố ảnh hƣởng: Đau tăng khi vận động, giảm khi nghỉ ngơi. Tính chất đau: Mức độ đau tùy trƣờng hợp có thể biểu hiện bởi cảm giác đau âm ỉ hoặc dữ dội, cảm giác nặng, cảm giác tê bì, kim châm. Thời điểm đau: Hầu nhƣ có liên quan đến thay đổi thời tiết.
6 Triệu chứng thực thể Hội chứng cột ống: Đƣờng cong sinh l biến đổi. Cột sống có tƣ thế vẹo sang bên lành, dấu hiệu ngh n của De Sèze. Co cơ cạnh cột sống có phản ứng co cứng bên đau, có điểm đau ở cột sống hoặc điểm đau cạnh cột sống tƣơng ứng. Giảm tầm vận động CSTL: Các động tác cúi, ngửa, nghiêng, xoay đều bị hạn chế.
Độ giãn cột sống thắt lƣng Schober giảm [26], [27]. Hội chứng rễ thần kinh: (Các nghiệm pháp phát hiện tổn thƣơng rễ và dây thần kinh). - Dấu hiệu Lasègue: Ngƣời bệnh nhân nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng, thầy thuốc nâng gót chân và giữ gối bệnh nhân cho thẳng, từ từ nâng chân bệnh nhân lên khỏi giƣờng đến mức nào đó xuất hiện đau dọc theo đƣờng đi của dây TKT thì dừng lại tính góc tạo thành giữa đùi và mặt giƣờng, bình thƣờng góc này ≥ 70o. Đây là dấu hiệu quan trọng và thƣờng có, dấu hiệu này còn đƣợc sử dụng để theo dõi hiệu quả điều trị.
- Dấu hiệu Bonnet: Bệnh nhân nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng tƣ thế thoải mái. Thầy thuốc gấp cẳng chân bệnh nhân vào đùi và gấp đùi vào bụng. Nghiệm pháp dƣơng tính khi bệnh nhân thấy đau sau đùi và vùng mông bên khám. - Dấu hiệu Néri: Bệnh nhân đứng thẳng, sau đó cúi gập ngƣời, hai tay giơ ra trƣớc (hƣớng cho tay chạm xuống đất), hai gối giữ thẳng thẳng.
Nghiệm pháp dƣơng tính khi bệnh nhân thấy đau dọc chân bị bệnh và chân bên đó co lại tại khớp gối. Ba dấu hiệu trên bổ xung cho nhau, có chung mục đích là làm căng dây TKT, đặc trƣng của đau do rễ. - Dấu hiệu bấm chuông: Thầy thuốc dùng ngón tay cái ấn mạnh vào cạnh đốt sống lƣng tƣơng ứng với chỗ đi ra của rễ thần kinh, ngƣời bệnh thấy đau lan dọc xuống chân theo đƣờng đi của dây thần kinh hông. 7 - Điểm Valleix dương tính: Điểm giữa ụ ngồi và mấu chuyển, điểm giữa nếp lằn mông, điểm giữa mặt sau đùi, điểm giữa nếp kheo chân, chính giữa cẳng chân sau.
Rối loạn cảm giác: - Tổn thƣơng rễ L5: Giảm cảm giác mặt sau đùi, mặt trƣớc ngoài cẳng chân, mu chân, ngón chân cái (còn gọi là đau TKT kiểu L5).