CHƯƠNG I - TỔNG QUAN 1. Giới thiệu chung về Sa kê 1. Danh pháp Vị trí phân loại Giới (Kingdom): Plantae Ngành (Division): Magnoliophyta Lớp (Class): Magnoliopsida Bộ (Order): Rosales Họ (Family): Moraceae Chi (Genus): Artocarpus Hình 1.1 Cây Sa kê Loài (Species): Artocarpus altilis Artocarpus altilis (Parkinson) Fosberg Danh pháp khoa học: Artocarpus altilis (Parkinson) Fosberg [25]. Phân bố sinh thái Sa kê (Artocarpus altilis) được bắt nguồn từ A.
camansi Blanco - cây có nguồn gốc từ New Guinea, Moluccas (Indonesia) và Philippines. Vùng nhiệt đới Đông Nam Á, Nam Á và nhiều đảo ở Thái Bình Dương. Nguồn gốc ở các đảo phía nam Thái Bình Dương, Châu Đại Dương (Châu Úc). Hiện được di thực vào các đảo Giava , Sumatra (Indonesia) Malaysia, các vùng đảo Đông Nam Châu Á.
Hầu hết các giống Sa kê là xuất hiện từ Polynesia (Pháp) và Melanesia (Úc) qua nhiều thế hệ nhân giống sinh dưỡng và lựa chọn, sau đó được vận chuyển ra nhiều nơi và phụ thuộc con người phân tán, dữ liệu được so sánh với lý thuyết về các thuộc địa của con người Châu Đại Dương [7, 25]. Ở Việt Nam, Sa kê được trồng phổ biến ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Sa kê là cây ưa sáng và ưa khí hậu của vùng nhiệt đới nóng và ẩm; nhiệt độ trung bình 21 – 32 °C. Cây có thể chịu được thời tiết nắng nóng đến 40 °C, lượng mưa trung bình thích hợp để phát triển là 1500 - 3000 mm/năm.
Sa kê phù hợp trồng ở 17° vĩ độ Nam và Bắc, cao dưới 650 m và phát triển được trong cát san hô hoặc đất mặn. Sa kê sinh trưởng phát triển kém ở những vùng có nhiệt độ trung bình năm dưới 20 °C hoặc có mùa đông lạnh kéo dài [7,25]. Lá Sa kê dày với mặt trên xanh sẫm và bóng loáng, phía dưới mặt lá mờ, gân lá nhô cao và có gân chính, viền ngoài mặt lá xẻ thùy và có sự biến thiên rất rõ. Lá rộng có hình trứng.
Các lá tuy cùng thuộc một cây nhưng có thể khác nhau về hình dạng lẫn kích thước. Lá non trên cây non và chồi của cây trưởng thành thường xẻ thùy và nhiều lông hơn. Lá dài đến 1 m, có khía sâu từ 3- 4 thùy; lá kèm vàng mau rụng, dài 12- 13 cm [7,25]. Công dụng Theo kinh nghiệm dân gian lá Sa kê có tác dụng kháng sinh, tiêu viêm, lợi tiểu, trị tiêu chảy, đái tháo đường, huyết áp cao, sỏi thận, bệnh gout và viêm gan [7].
Những nghiên cứu trong và ngoài nước Đái Thị Xuân Trang và cộng sự (2014) đã chứng minh đã chứng minh cao cồn (99,5%) lá Sa kê thể hiện hoạt tính ức chế hoạt xanthin oxidase với IC50 = 0,198 mg/ml [6]. Nguyễn Hoàng Minh và cộng sự (2015) kết quả phân tích sơ bộ thành phần hóa thực vật cho thấy cả bột dược liệu, cao cồn 45%, cao nước từ lá Sa kê đều chứa các hợp chất tự nhiên như triperpenoid, anthraquinon, proanthocyanosid, đường 2 - deoxy, saponin, polyphenol, chất khử và hợp chất polyuronic [10]. Nguyễn Hoàng Minh và cộng sự (2016) đã chứng minh cao chiết cồn 45% hay cao chiết nước từ lá Sa kê đều có tác dụng ức chế sự tăng acid uric máu gây bởi kali oxonat trên chuột nhắt trắng. Mức độ giảm acid uric máu của cao chiết cồn 45% trong khoảng 8,3 - 17,5% và của cao chiết nước trong khoảng 19,4 - 27,5% [9].
Trần Thu Hương và cộng sự (2012) đã chứng minh trong dịch chiết methanol từ lá Sa kê có 1 hợp chất auron được prenyl hóa mới và 2 hợp chất chalcon được prenyl hóa, 3 hợp chất flavonone được prenyl hóa, 3 hợp chất triterpen. Nhóm nghiên cứu cũng đã chứng minh hợp chất auron được prenyl hóa loại trừ NO với IC50 = 287,1 µM và 2 hợp chất chalcon được prenyl hóa (1-(2,4-dihydroxyphenyl)-3-[8-hydroxy- 2-methyl-2-(4- methyl-3-pentenyl)-2H-1- benzopyran-5-yl]-1-propanone , [7], 2- geranyl-2’,3,4,4’ – tetrahydroxydihydrochalcon) có khả năng dập tắt gốc tự 2,2-diphenyl-1- picrylhydrazyl DPPH với giá trị IC50 lần lượt là 82,2 µM; 82,4 µM [33]. 3 Nguyễn Thị Thanh Mai và cộng sự (2012) đã chứng minh trong dịch chiết methanol từ lá Sa kê có 3 auron mới (altilisin H, I J) và 2 flavonoid (8-geranyl 4’,5,7-trihydroxyflavon và cycloaltilisin. Năm hợp chất phân lập được đều có tác dụng ức chế tyrosinase với IC50 nhỏ hơn 100 µM, trong đó 2 flavonoid (8-geranyl 4’,5,7-trihydroxyflavon và cycloaltilisin có hoạt tính ức chế tyrosinase với giá trị IC50 lần lượt là 42,5 µM; 43,9 µM (tốt hơn cả đối chứng dương acid koij với IC50 = 44,6 µM).
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn chứng minh altilisin H và altilisin J có tác dụng ức chế α-glucosidase với giá trị IC50 lần lượt là 4,9 µM; 5,4 µM (tốt hơn cả đối chứng dương acarbose với IC50 = 241,8 µM) 27]. Chinmay Pradhan và cộng sự (2013) đã chứng minh trong dịch chiết methanol từ lá Sa kê chứa các chất chuyển hóa thứ cấp cần thiết như steroid, phenol, tannin, phytosterol, gôm và nhựa cây và terpenoid trừ saponin, flavonoid và alkaloid. Dịch chiết ethyl acetat từ lá cho thấy sự vắng mặt của tannin và sự hiện diện của các chất flavonoid. Chỉ có bốn chất chuyển hóa là steroid, flavonoid, phytosterol, gôm và nhựa cây đã được phát hiện trong dịch chiết ether dầu từ lá Sa kê [15].
Wen Chun Lan và cộng sự (2013) cũng đã chứng minh trong lá Sa kê chứa flavonoid prenyl hóa gồm 10 - oxoartogomezianone, 8 – geranyl – 3 – (hydroxyprenyl) isoetin, hydroxyartoflavone A, isocycloartobiloxanthone, và furanocyclocommunin, với 12 loại hợp chất khác có tác dụng chống oxy hóa, dập tắt gốc tự do 1,1 – diphenyl – 2 – picryhydrazyl (DPPH), 2, 2' – Azinobis [3 – ethylbenzothiazoline – 6 – sulfonic acid] – diammonium salt (ABTS+), O2 [36]. Nguyễn Thị Thanh Mai và cộng sự (2014) chứng minh dịch chiết methanol từ lá Sa kê ở nồng độ 50 µg/ml có tác dụng ức chế 100% tế bào ung thư PANC – 1 tuyến tụy ở người Đồng thời, nhóm nghiên cứu còn phân lập được 8 dihydrochalcon được prenyl hóa mới được gọi là các sakenin. Trong đó có 2 sakenin là 2′,4′,3,4-tetrahydroxydihydrochalcon và 1- (2,4-dihydroxyphenyl)-3-(7-hydroxy-2-methoxy-2,3-dihydrobenzofuran-4-yl)propan- 1-one có tác dụng gây độc tế bào với giá trị PC50 (PC: preferentially cytotoxic) lần lượt là 8,0 µM; 1,11 µM [26]. Riasari và cộng sự (2015) đã phân lập được từ lá Sa kê có 16 flavonoid, 2 sitosterol, 3 triterpen và một số hợp chất khác.
Các hợp chất phân lập được thuộc nhóm flavonoid chủ yếu có các khung flavon, chalcon và flavonol [28]. 4 Tjandrawati Mozef và cộng sự (2015) đã chứng minh hợp chất flavonoid 2 – geranyl - 2’, 3, 4, 4’ - tetrahydroxydihydrochalcone phân lập từ lá Sa kê có hoạt tính dập tắt gốc tự do DPPH, với IC50 = 94,1 μM [31]. Xanthin oxidase Xanthin oxidase là một phức hợp metallo – flavoprotein rất linh hoạt, phổ biến giữa các loài (từ vi khuẩn đến con người) và trong các mô khác nhau của động vât có vú. Xanthin oxidase là một protein dimer đồng nhất (homodimeric protein) có phân tử lượng là 290 kDa (kilo dalton).
Mỗi monomer của protein gồm 3 phần (domain) chính: một phần chứa hai tâm sắt - lưu huỳnh, một phần chứa tâm molybdenum (Mo) liên kết với pterin gọi là molybdopterin, một phần là flavin adenine dinucleotide (FAD) [35]. Xanthin oxidase xúc tác quá trình oxy hóa hypoxanthin thành xanthin và xanthin thành acid uric đồng thời tạo ra gốc tự do superoxide và hydrogen peroxid, các gốc tự do anion superoxid tự sinh hoặc dưới ảnh hưởng của superoxide dismutase (SOD) chuyển thành hydrogen peroxid và oxy [19]. Những phản ứng này có thể được viết theo các phương trình phản ứng như sau: Hypoxanthin + O2 + H2O → Xanthin + H2O2 Xanthin + 2O2 + H2O → Uric acid + 2O2·- + 2H+ 2O2.- + 2H+ → H2O2 + O2 Ở động vật gặm nhấm, sự hiện diện của uricase làm cho nồng độ acid uric trong huyết tương thấp. Do đó để làm tăng hàm lượng acid uric ở động vật gặm nhấm bằng cách ức chế hoạt động của uricase bởi muối của acid oxonic hoặc các chất tương tự xanthin và hypoxanthin.
Kali oxonat thường được sử dụng trong mô hình gây tăng acid uric cấp theo cơ chế ức chế cạnh tranh uricase với urat do cấu trúc phân tử của kali oxonat tương đồng với cấu trúc phân tử của urat, làm cho quá trình chuyển hóa từ acid uric sang allantoin (có độ hòa tan gấp 10 lần so với acid uric nên dễ dàng được thận đào thải) bị đình trệ dẫn đến tình trạng tăng acid uric máu. Vì vậy, sự ức chế hoạt tính xanthin oxidase có thể làm giảm acid uric [18]. Giới thiệu về gout 1. Định nghĩa – phân loại Bệnh gout là một dạng viêm khớp do sự tích tụ của tinh thể natri urat hình kim tại các khớp và dịch bao khớp.
Gout có đặc điểm chính là tăng acid uric ở mức cao trong máu và nước tiểu do rối loạn chuyển hoá các nhân purin [2, 34]. Bệnh gout có 4 giai đoạn: Giai đoạn 1: nồng độ acid uric trong máu cao (không triệu chứng) Giai đoạn 2: viêm khớp cấp tính. Các tinh thể acid uric bắt đầu tích tụ trong chất dịch ở khớp, thường là 1 khớp (phổ biến nhất là ngón chân cái) và cơ thể phản ứng sưng đột ngột: đó là cơn đau gout. Giai đoạn 3: đau cách khoảng.
Ở giai đoạn này, bệnh nhân không thấy triệu chứng trong thời gian giữa 2 lần đau. Ở nhiều người, giai đoạn này tiến triển chậm khi các cơn đau xảy ra thường hơn. Những cơn sau có thể đau hơn, lâu hơn, và xảy ra ở nhiều khớp hơn. Giai đoạn 4: gout mãn tính.
Nếu triệu chứng gout tái đi tái lại mà không điều trị trong 10 năm hay lâu hơn, chúng có thể trở thành mãn tính và thường tấn công nhiều khớp hơn. Có thể không còn khoảng cách giữa các cơn đau. Giai đoạn này thường bị nhầm với các dạng viêm khớp khác, nhất là viêm xương khớp. Đến lúc này, đã đủ tinh thể acid uric tích tụ trong cơ thể tạo thành cục lồi thường xuất hiện dưới da.
Mà ở bên trong các cục lồi chứa các tinh thể urat trông giống phấn bảng gọi là hạt tophi (topus), những cục này có kích thước từ vài milimet đến nhiều centimet, hơi chắc hoặc mềm. Vậy, bản chất của các hạt tophi là tinh thể urat. Lớp da trên đó có thể mỏng và đỏ. Những cục tophi sát da có thể có màu kem hay vàng [4].2 Biểu hiện bệnh Gout 6 1.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh 1. Quá trình sinh tổng hợp acid uric Acid uric là sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa của purin trong các tế bào của cơ thể dưới tác dụng của xanthin oxidase. Xanthin oxidase xúc tác phản ứng biến đổi hypoxanthin thành xanthin và xanthin thành acid uric được hòa tan trong máu. Trong máu có uricase chuyển acid uric thành allantoin và đưa đến thận và thải ra ngoài qua nước tiểu do đó hàm lượng acid uric trong huyết thanh < 2 mg/dL.