CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm dược liệu Theo Ds. Nguyễn Quốc Trung Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur cho biết: Từ cổ xưa, ông cha ta đã biết cách dùng các loại cây, con vật hay những thứ trong tự nhiên để làm thuốc phòng và chữa trị bệnh. Với kinh nghiệm được lưu truyền, chọn lọc qua thời gian và nghiên cứu tìm kiếm những bằng chứng khoa học đáng tin cậy, rõ ràng hơn. Theo Luật Dược số 105/2016/QH13: Dược liệu là nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc từ tự nhiên từ thực vật, động vật, khoáng vật và đạt tiêu chuẩn làm thuốc.
Hiểu đơn giản dược liệu có thể là toàn bộ bộ phận của một cây, một con vật hoặc có thể là một vài bộ phận của chúng. Những sản phẩm được chiết tách từ cây, con vật như tinh dầu, dầu mỡ, gôm, sáp, có thể dùng làm thuốc cũng thuộc phạm vi dược liệu. Theo quan điểm hiện nay thì việc nghiên cứu dược liệu không chỉ dừng lại ở những nguyên liệu thô mà còn mở rộng phạm vi ở cả những tinh chất chiết ra từ dược liệu, chẳng hạn như hoa Hòe và rutin, dương Địa hoàng và digitalin, rễ Ba gạc và reserpin, Dừa cạn và vinblastin.2 Tình hình sử dụng dược liệu trên thế giới và ở Việt Nam 1.1 Tình hình sử dụng và phân bố dược liệu ở Việt Nam Hiện nay, việc sử dụng thuốc dược liệu trong phòng và chữa bệnh đang trở thành xu hướng phát triển mạnh, không chỉ ở nước ta mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Vì thuốc dược liệu không những có tác dụng chữa bệnh tốt, mà còn có tác dụng điều hòa, cân bằng hoạt động giữa các bộ phận, cơ quan trong cơ thể để duy trì sức khỏe và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Ngoài ra, hầu hết chúng có độ an toàn cao do được sử dụng trong khoang thời gian rất dài, ít gây ra tác dụng phụ và dễ sử dụng. 2 Mỗi loại dược liệu sẽ có một hoặc nhiều cách sử dụng khác nhau để phát huy hết tác dụng và mang đến hiệu quả như mong muốn. Tuỳ vào mục đích dùng, ta cũng có thể sử dụng dược liệu theo các cách thức chế biến trong y học cổ truyền như: + Chưng hay đồ (đun cách thủy) + Sắc lấy nước hay Hãm trà uống + Sao (rang), có thể sao vàng, sao đen, sao cháy tùy dược liệu + Ngâm rượu, ngâm muối, ngâm mật ong + Tẩm gừng, tẩm giấm Theo tin tức y dược các cách chế biến, bào chế dược liệu cũng được phát triển theo thời gian để vừa tiện lợi khi dùng vừa đảm bảo công dụng của nó. Các dạng dùng thường thấy là trà túi lọc, dược liệu thô, chiết xuất dược liệu (như cồn thuốc, rượu thuốc, tinh dầu).
Trường hợp thuốc dược liệu được bào chế theo kỹ thuật hiện đại tân tiến và sẽ cho ra dạng dùng như thuốc tân dược, gồm viên nén, viên nang, thuốc tiêm, dung dịch/ hỗn dịch uống. [5] Theo thống kê sơ bộ, nước ta có tới gần 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc hơn 2. Không chỉ có vai trò là lá phổi xanh điều hòa khí hậu, hệ thực vật rừng còn mang đến một tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc nói riêng cùng với tài nguyên dược liệu nói chung. Tại Việt Nam, việc nghiên cứu về cây thuốc đã được tiến hành từ rất sớm, gắn liền với tên tuổi của nhiều danh y nổi tiếng như: Thiền sư Tuệ Tĩnh với bộ “Nam Dược Thần Hiệu” viết về 499 vị thuốc Nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc từ thực vật.
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với bộ “Lĩnh Nam Bản Thảo” gồm 2 quyển: quyển thượng chép 496 kế thừa của Tuệ Tĩnh, quyển hạ ghi 305 vị bổ sung về công dụng hoặc mới phát hiện thêm. [1] Thời kỳ Pháp thuộc, các nhà thực vật học phương Tây đã thống kê trên toàn Đông Dương có 1.350 cây thuốc thuộc 160 họ thực vật khác nhau. Mãi 3 đến khi miền Bắc được giải phóng (1954), Việt Nam mới có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc sưu tầm, nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc. Năm 1996, Võ Văn Chi đã công bố hệ thực vật làm thuốc ở Việt Nam có 3.
Đến năm 2005, Viện Dược liệu ghi nhận được ở Việt Nam có hơn 3.984 loài làm thuốc thuộc 307 họ của 9 ngành và nhóm thực vật bậc cao, thực vật bậc thấp và nấm; trong đó, gần 90% là cây thuốc mọc tự nhiên, tập trung chủ yếu trong các quần xã rừng, chỉ 10% là được trồng. Gần đây nhất là thống kê của Võ Văn Chi trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (2012) với số lượng loài thực vật được dùng làm thuốc là 4. Như vậy, số lượng cây thuốc được nghiên cứu khám phá tăng lên liên tục theo thời gian. Theo thống kê của Viện Dược liệu, tính đến năm 2019 đã ghi nhận 5.117 loài thực vật và nấm, 408 loài động vật và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc ở Việt Nam.
Trong số đó, có khoảng 70 loài có tiềm năng khai thác với tổng trữ lượng khoảng 18.000 tấn/năm, như Diếp cá (5.000 tấn), Cẩu tích (1.500 tấn), Lạc tiên (1.500 tấn), Rau đắng đất (1. Chúng ta cũng may mắn sở hữu nhiều loài dược liệu quý, hiếm, đặc hữu như: Sâm Ngọc Linh, Ba kích, Châu thụ, Ngân đằng…[2] Điều đó chứng tỏ, nếu tiếp tục điều tra đầy đủ, nguồn tài nguyên thực vật dùng làm thuốc ở Việt Nam có thể lớn hơn rất nhiều, ước tính có thể lên tới 6.2 Tình hình sử dụng và phân bố dược liệu trên thế giới Theo dữ liệu năm 2015 của Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học Quốc gia Mỹ, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) báo cáo rằng khoảng 60% dân số thế giới dùng thuốc thảo dược và khoảng 80% dân số ở các nước đang phát triển dùng thuốc thảo dược và các biện pháp chữa bệnh y học cổ truyền khác để chăm sóc sức khỏe. Ở Châu Phi, có tới 80% dân số sử dụng thuốc thảo dược để chăm sóc sức khỏe. Ở Châu Á và Châu Mỹ Latinh, tỷ lệ này cao hơn vì hoàn cảnh lịch sử và tín ngưỡng văn hóa.
Số liệu năm 2017 cho thấy, tỷ lệ tiêu thụ thuốc dược liệu của hai khu vực này chiếm 72,36% tổng lượng tiêu thụ toàn cầu. 4 Hệ thống điều trị y học cổ truyền dựa trên việc điều trị bằng thuốc thảo dược là một hệ thống chăm sóc sức khỏe đang phát triển nhanh chóng và hiện đang được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Dự án Nghiên cứu Thị trường Thuốc thảo dược Toàn cầu dự báo ngành này sẽ có doanh thu khoảng 111 tỷ USD vào cuối năm 2023. Các chuyên gia cho rằng, trong tương lai, thuốc thảo dược và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe từ thảo dược sẽ phát triển mạnh mẽ hơn trên toàn thế giới, kể cả ở các nước phát triển.
WHO đã tuyên bố rằng ngành công nghiệp dược, đặc biệt là thảo dược đang tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng 15%. Tốc độ tăng trưởng lớn mạnh cộng với sự tiêu thụ rộng rãi của người dân trên toàn thế giới chứng tỏ ưu điểm của thuốc thảo dược: an toàn, lành tính, hiệu quả và giá cả phải chăng. Các chuyên gia dự báo, trong thời gian tới, sẽ ngày càng có nhiều người dùng thuốc thảo dược để điều trị bệnh và tăng cường sức khỏe. Đặc biệt là trước tình hình gia tăng của các bệnh mạn tính không lây nhiễm như viêm khớp, đái tháo đường, ung thư, rối loạn giấc ngủ và các vấn đề về tiêu hóa… [10] 1.3 Một số loài dược liệu ở Việt Nam Nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa nóng ẩm của châu Á với 3/4 diện tích phần lục địa là đồi núi, trải dài từ Bắc xuống Nam.
Với những điều kiện tự nhiên nhưu vậy Việt Nam may mắn sở hữu rất nhiều loại dược liệu quý như: Bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng giúp ức chế sự phân chia sinh sản của các tế bào ung thư, tăng cường sức đề kháng, tăng khả năng chống chọi lại với bệnh tật; cây Xạ đen với tên khoa học là Celastrus hindsii Benth chứa các hoạt chất Flavanoid và Quinon có tác dụng kháng viêm tiêu độc; Sâm Ngọc linh với công dụng hỗ trợ cải thiện hệ thống miễn dịch, giảm mỡ trong máu, tăng cường chức năng gan, không những vậy, đây còn được xem là loại thảo 5 dược hỗ trợ giảm tác dụng phụ cho bệnh nhân ung thư đang tiếp nhận xạ trị, hóa trị….1 Dây thìa canh Đầu tháng 3, trên trang tạp chí danh tiếng hàng đầu thế giới - Phytochemistry - công bố nghiên cứu của 2 giáo sư Chul ho Lee, Won Keun Oha (ĐH Quốc gia của Hàn Quốc) và nhà khoa học của Việt Nam về việc tìm ra 9 chất mới trong dây thìa canh của Việt Nam có lợi cho bệnh nhân tiểu đường Điều đặc biệt là dây thìa canh được trồng ở Việt Nam, không có trong dây thìa canh của Ấn Độ, Trung Quốc - 2 quốc gia cung ứng thuốc trị tiểu đường cho cả châu Á. Dây thìa canh là loại cây thân gỗ, dạng dạng dây leo, mọc trong các khu rừng nhiệt đới ở miền trung và miền nam Ấn Độ. Ngoài Ấn độ cây phân bố trên toàn thế giới và là nó được ghi nhận là một vị thuốc quý trong truyền thống y học của nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam, Australia và Nhật Bản. Toàn bộ lá và phần dây của cây đều được sử dụng làm thuốc và sử dụng khá rộng trong đông và tây y.
Ở Việt Nam, người ta phát hiện thìa canh mọc hoang ở một số tỉnh miền trung và bắc. Thìa canh là dạng dây leo, lá mọc đối, bẻ thân và lá ra thấy có chất mủ màu trắng hơi vàng. Theo lương y Vũ Quốc Trung, trong nhiều thế kỉ, dây thìa canh luôn được coi là thảo dược có thể sử dụng trong việc hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường và dùng làm thuốc ổn định đường huyết. Kết quả nghiên cứu năm 2008 của PGS.TS Trần Văn Ơn và TS.
Phùng Thanh Hương trên Tạp chí Dược học: Cao chiết ethanol 90% lá Dây thìa canh với liều tương đương 10g lá khô/kg cân nặng chuột nhắt làm hạ glucose huyết trên chuột gây tăng glucose huyết, tác dụng cao nhất là ở 2 giờ và duy trì đến 4 giờ. Thành phần chính của cây thìa canh là hoạt chất GS4 (tên đầy đủ là Gymnema Sylvestre) thuộc nhóm saponin. Hoạt chất này có tác dụng sản sinh tế bào Beta của tuyến tụy nhờ đó tăng khả năng sản sinh insulin, tăng hoạt lực 6 cho insulin, giúp cơ thể cân bằng được lượng đường huyết trong cơ thể.