Chương 1-TỔNG QUAN 1. Sơ lược bệnh Tay Chân Miệng và EV71 Số lượng trẻ em mắc bệnh Tay Chân Miệng (TCM) từng nước châu Á trong những năm gần đây từ hàng ngàn đến hàng chục ngàn mỗi năm. Theo báo cáo cập nhật tình hình bệnh TCM khu vực Tây Thái Bình Dương số 461, số trường hợp mắc TCM tăng so với năm 2014 ở 2 quốc gia là Nhật Bản, Singapore. Trong khi đó số lượng bệnh nhi mắc TCM giảm ở Trung Quốc, Hồng Kông, Ma Cao và Việt Nam.720 ca TCM bao gồm 2 trường hợp tử vong được báo cáo từ Việt Nam.
So với số liệu cùng kỳ năm 2014 (17.410 ca, 2 tử vong) thì số ca mắc giảm 21,2%. Riêng trong tuần lễ thứ 16 (13-19/4/2015) có 916 ca được báo cáo trên 62/63 tỉnh thành, giảm 55 ca (5,7%) so với tuần trước đó.1 Thường thì TCM là một bệnh lành tính và tự khỏi trong khoảng 7-10 ngày. Bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ, với các triệu chứng sốt, tổn thương miệng và phát ban trên bàn tay, bàn chân và mông. Bệnh TCM được xác định do nhóm virus đường ruột (enterovirus) gây nên.
Nhóm này bao gồm poliovirus, coxsackieviruses, echovirus và enterovirus. Enterovius EV71 là loại virus liên quan đến sự bùng phát của dịch bệnh này. Các triệu chứng thường xuất hiện sau 3-6 ngày tiếp xúc với virus [6, 9, 12, 17, 20, 22]. EV71 liên quan đến dịch bệnh TCM trong khu vực Đông Nam Á là một non-polioenterovirus.
Các biến chứng liên quan đến bệnh TCM gây bởi EV71 bao gồm: viêm não, viêm màng não vô trùng, liệt mềm cấp, phù phổi và viêm cơ tim hoặc xuất huyết. Hầu hết các ca tử vong là kết quả của phù phổi hoặc xuất huyết [6, 9, 17, 20]. Cho đến nay chưa có vaccin chủng ngừa để phòng chống các virus gây bệnh TCM, chỉ có thể giảm nguy cơ bị lây nhiễm bằng cách áp dụng các biện pháp vệ sinh cá nhân và cộng đồng.int/emerging_diseases/HFMD/en/ 3 EV71 có những đặc tính sinh học chung của enterovirus, sự khác biệt cơ bản nhất là độc tính của nó. Đặc tính sinh học chung của các enterovirus là có khả năng đề kháng khá tốt, sống lâu hơn khi nhiệt độ lạnh giá.
Ðặc biệt sự khô ráo và nhiệt độ bình thường không làm ảnh hưởng đến sự sống và sự phát triển của chúng. Tuy vậy, enterovirus dễ bị bất hoạt bởi một số hóa chất thông thường (formol, Cl, KMnO4, H2O2). Enterovirus có thể được phóng thích ra môi trường bên ngoài qua phân và các chất khạc nhổ của người bệnh TCM hoặc người lành mang virus này. EV71 là một trong những tác nhân gây bệnh TCM và có khả năng gây nên bệnh ở hệ thần kinh trung ương như viêm màng não virus và hiếm hơn là các thể trầm trọng như viêm não hay liệt kiểu bại liệt.
Từ năm 1969, người ta đã chứng minh rằng EV71 có ở tổ chức thần kinh trung ương của một số bệnh TCM tại California (Mỹ). EV71 cũng đã xuất hiện ở Ðài Loan vào năm 1968 và một số nước Ðông Nam Á khác (Philipines, Indonesia, Singapore). Trong các vụ dịch xảy ra ở Ðài Loan (1998) và ở Malaysia (1997) cũng ghi nhận có một số trường hợp tử vong do EV71. Như vậy, EV71 có độc tính rất cao và có khả năng gây tổn thương tổ chức thần kinh trung ương gây ra những bệnh cảnh lâm sàng nặng và có thể đưa đến hậu quả xấu [9, 12, 17].
Khi xâm nhập vào cơ thể, enterovirus thường khu trú ở niêm mạc má hoặc niêm mạc ruột vùng hồi tràng. Sau khoảng 24 giờ, virus sẽ đến các hạch bạch huyết xung quanh, rồi vào máu gây nhiễm khuẩn máu trong một khoảng thời gian ngắn. Sau đó, virus đến niêm mạc miệng và da. Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài khoảng từ 3-6 ngày [6, 9].
Bệnh khởi phát là sốt, sau đó xuất hiện các bọng nước ở niêm mạc miệng (ở nướu răng, lưỡi, bên trong má) và xuất hiện ban đỏ ở bàn tay, bàn chân [6, 9, 20]. Hầu hết các trường hợp bị bệnh TCM sẽ qua khỏi nhưng có một số trường hợp nếu căn nguyên gây bệnh là EV71 có thể sẽ diễn biến phức tạp hơn, nhất là khi virus gây tổn thương hệ thần kinh trung ương sẽ thể hiện bệnh viêm màng não điển hình với các biểu hiện là sốt cao, nhức đầu, cứng cổ, buồn nôn, nôn vọt. Theo Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh Tay chân miệng (Ban hành kèm theo Quyết định số 2554 /QĐ-BYT ngày 19 tháng 7 năm 2011 của Bộ 4 trưởng Bộ Y tế), bệnh TCM gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương. Tại các tỉnh phía Nam, bệnh có xu hướng tăng cao vào 2 thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm.
Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi. Do chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, nên nguyên tắc chung là: điều trị hỗ trợ (dùng kháng sinh khi có bội nhiễm); theo dõi phát hiện sớm và điều trị biến chứng; bảo đảm dinh dưỡng, nâng cao thể trạng. Sử dụng thuốc theo phân độ bệnh và diễn tiến của bệnh, với các thuốc chủ yếu là hạ sốt, kháng viêm, kháng khuẩn, ổn định thần kinh, .Bao gồm: - Paracetamol (10 mg/kg/lần, uống mỗi 6 giờ) khi có sốt cao. - Ibuprofen (10-15 mg/kg/lần, lập lại mỗi 6-8 giờ nếu cần, xen kẽ với các lần sử dụng paracetamol) khi trẻ đáp ứng không tốt với paracetamol - Phenobarbital (5-7 mg/kg/ngày, uống, hoặc 10-20 mg/kg truyền tĩnh mạch.
Lặp lại sau 8-12 giờ khi cần. - Immunoglobulin (Gammaglobulin): 1 g/kg/ngày truyền tĩnh mạch chậm trong 6-8 giờ, sau 24 giờ nếu còn dấu hiệu độ 2b thì dùng liều thứ 2. - Dobutamin (khi suy tim mạch > 170 lần/phút): khởi đầu 5 µg/kg/phút truyền tĩnh mạch, tăng dần 1-2,5 µg/kg/phút mỗi 15 phút cho đến khi có cải thiện lâm sàng, liều tối đa 20µg/kg/phút. - Milrinone truyền tĩnh mạch 0,4 µg/kg/phút, chỉ dùng khi huyết áp cao, trong 24-72 giờ.
- Midazolam 0,15 mg/kg/lần hoặc diazepam 0,2-0,3 mg/kg truyền tĩnh mạch chậm, lập lại sau 10 phút nếu còn co giật (tối đa 3 lần) - Dobutamin liều khởi đầu 5µg/kg/phút, tăng dần 2- 3 µg/kg/phút mỗi 15 phút cho đến khi có hiệu quả, liều tối đa 20 µg/kg/phút. - Furosemide 1-2 mg/kg/lần tiêm tĩnh mạch chỉ định khi quá tải dịch. 5 - Kháng sinh: chỉ dùng khi có bội nhiễm hoặc chưa loại trừ các bệnh nhiễm khuẩn nặng khác. Dược liệu nghiên cứu -Trầu Tên khoa học của cây Trầu là Piper betle L.
thuộc họ Hồ tiêu Piperaceae. Tên tiếng Anh là Betle, Betle pepper, Betle-vine. Cây Trầu có nguồn gốc ở miền Trung và Đông Malaysia, được trồng từ 2500 năm trước. Ngày nay, Trầu đã được trồng phổ biến khắp các nước nhiệt đới ở vùng Nam Á và Đông Nam Á như Ấn Độ, Srilanka, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippin, Campuchia, Việt Nam, Lào, Nam Trung Quốc và đảo Hải Nam [5, 25].
Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnolipsida) Bộ Piperales Họ Hồ tiêu (Piperaceae) Chi Piper Vị trí phân loại của chi Piper (Takhtajan, 2009) Ở Việt Nam, Trầu đã được nhắc đến từ thời các vua Hùng. Hiện nay cây được trồng ở khắp nơi (trừ vùng núi cao trên 1500m và lạnh) như trong vườn của các gia đình, trang trại và cả cánh đồng. Việc trồng Trầu ở Việt Nam cũng như các nước Châu Á khác thường gắn với tục ăn Trầu của người dân. Lá Trầu tươi chứa nước 85,4%, tanin 1,0-1,3%, sesquiterpen (cadinen, caryophylen, β-caroten, sterol (stigmasterol, α- và β-sitosterol), phenol (chavicol, chavibetol, α- tocopherol, 4-allypyrocatechol), .khoáng chất (Ca, P, Fe, I, K, Na), vitamin (A, C, B1, B2, B5, .), acid amin (asparagin, lysin, prolin), sphingolipid [2, 4] 6 Thân Trầu chứa acid ursoni, acid 3-β-actetylursonic, piperlongguminin, triterpen,.
Rễ Trầu chứa stigmast-4-en-3, 6-dion; 4-ally resorcinol; aristololactam. Hoa Trầu chứa cαc phenol safrol, flavon, 4-allypyrocatechol, eugenol, methyleugenol, isoeugenol, quercetin, .[4] Thành phần tinh dầu trong Lá Trầu thay đổi theo loài hoặc vùng địa lý. Bao gồm các nhóm hợp chất chủ yếu sau: monoterpen (terpinen, pinen, limonen, thujen, camphen), sesquiterpen (cadinen, clemen, caryophyllen, cubeben), alcohol (linalol, terpineol,cadinol), aldehyd (decanal), acid hexadecanoic , oxid (1,8 cincol), phenol (eugenol, chavibetol, chavicol), phenolic ether (methyl eugenol) và ester (eugenol acetat, chavibetol acetat, chavicol acetat). Trong tinh dầu Trầu các hợp chất phenolic như eugenol, chavibetol, isoeugenol, eugenol acetate, 4-allypyrocatechol chiếm tỷ lệ cao khoảng từ 25%-70% và là thành phần chính của tinh dầu Lá Trầu.
[4] Theo Đông y, Trầu có vị cay nồng, mùi thơm hắc, tính ấm, khi vào các Phế, Tỳ, Vị có tác dụng trừ phong thấp, chống lạnh, hạ khí, tiêu đờm, tiêu viêm, sát trùng. Thường dùng dạng lá tươi, thân, rễ, và cuống lá rất ít được dùng [5, 24]. Ngoài công dụng dùng để ăn Trầu (Lá Trầu, vôi, cau và vỏ cây) giúp chắc răng, phòng sâu răng, hôi miệng, giúp nhuận trường dễ tiêu hóa, nhân dân nhiều nơi còn dùng Lá Trầu giã nhỏ, thêm nước sôi để rửa vết loét, mẩn ngứa. Nước pha Lá Trầu còn được dùng để nhỏ mắt chữa viêm kết mạc, chữa chàm mặt trẻ em.
[5, 24] Trầu được dùng chữa hàn thấp nhức mỏi, đau bụng đầy hơi, vết thương nhiễm trùng có mủ sưng đau, hen suyễn khi thời tiết thay đổi, đờm nhiều khó thở, cảm cúm, bỏng, mụn nhọt, hắc lào, mày đay, ghẻ ngứa, sâu kiến đốt, viêm răng lợi, viêm tai, viêm họng. Ngày dùng 8-16 g dưới dạng thuốc sắc, thuốc đắp lá tươi giã nát hoặc ngâm với nước để rửa [4, 5] Nước ép Lá Trầu làm giảm đau tai, súc miệng hàng ngày giúp phòng chống viêm họng, hỗ trợ điều trị bệnh bạch hầu. Nhai và nuốt 2-4 g Lá Trầu tươi 7 giúp giảm đau bụng do hàn, tiêu chảy, nôn mửa, ăn uống khó tiêu. Uống dịch ép Lá Trầu và củ Gừng tươi giúp giảm ho, khó thở, đầy bụng [5, 24].
Ở Ấn Độ, lá và tinh dầu Trầu được dùng điều trị các bệnh phổi và làm thuốc đắp, thuốc súc miệng hoặc thuốc ngửi trong bệnh bạch hầu [4]. Tinh dầu Trầu được dùng để giảm huyết áp, trợ tim, diệt giun sán. Những kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy Trầu có một số tác dụng sinh học chủ yếu sau: Phòng chống bệnh lý răng miệng Theo tổng kết của Enzo A. Palombo (2011), dịch chiết nước Lá Trầu đã được chứng minh có tác dụng ức chế sự tăng trưởng và tạo vách glucan của S.
mutans, một vi khuẩn gây bệnh răng miệng thường gặp [14].