Nghiên cứu tác dụng ức chế virus SARS-CoV-2 từ hợp chất cây cam thảo Glycyrrhiza glabra L

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu tác dụng ức chế các đích phân tử virus sars cov 2 của các hợp chất có trong cây cam thảo, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2022

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tổng quan về bệnh COVID-19

1.2. Tổng quan về virus SARS-CoV-2

1.3. Triệu chứng và chẩn đoán nhiễm COVID-19

1.4. Vaccine và thuốc được sử dụng trong điều trị COVID-19

1.5. Phác đồ điều trị COVID-19 của Bộ Y tế

1.6. Các đích phân tử virus SARS-CoV-2

1.7. Trung tâm hoạt động của các đích phân tử

2. TỔNG QUAN VỀ CÂY CAM THẢO

2.1. Giới thiệu chung

2.2. Đặc điểm thực vật

2.3. Thành phần hóa học

2.4. Tác dụng dược lý của Cam thảo

3. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU IN SILICO

3.1. Docking phân tử

3.2. Quy trình docking

3.3. Quy tắc Lipinski về các hợp chất giống thuốc

3.4. Dự đoán ADMET các thông số dược động học và độc tính

4. NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Nguyên liệu và thiết bị

4.2. Nội dung nghiên cứu

4.3. Phương pháp nghiên cứu

4.3.1. Sàng lọc bằng docking phân tử

4.3.2. Nghiên cứu các đặc điểm giống thuốc

4.3.3. Nghiên cứu các đặc tính dược động học và độc tính (ADMET)

4.3.3.1. Mô phỏng protein docking
4.3.3.1.1. Đánh giá quy trình docking ACE2 (pdb: 1R4L)
4.3.3.1.2. Đánh giá quy trình docking Main protease (pdb: 7L0D)
4.3.3.1.3. Đánh giá quy trình docking RdRp (pdb: 7BV2)
4.3.3.2. Tìm kiếm các hợp chất tiềm năng từ kết quả docking
4.3.3.3. Sàng lọc các hợp chất giống thuốc
4.3.3.4. Dự đoán các thông số ADMET

5. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

5.1. Về kết quả sàng lọc ảo

5.2. Về phương pháp

6. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về virus SARS CoV 2

Virus SARS-CoV-2 là một loại virus RNA sợi dương thuộc họ Coronaviridae, gây ra hội chứng hô hấp cấp tính (COVID-19). Virus này có cấu trúc phức tạp với bộ gen dài khoảng 29.9 kb, bao gồm các protein cấu trúc như protein gai, protein màng và protein nucleocapsid. Quá trình xâm nhập của virus vào tế bào chủ diễn ra thông qua liên kết giữa spike protein và thụ thể ACE2. Sau khi xâm nhập, virus sử dụng ribosome của tế bào chủ để sao chép và tổng hợp các protein cần thiết cho sự sinh sản của nó. Việc hiểu rõ cấu trúc và cơ chế hoạt động của SARS-CoV-2 là rất quan trọng trong việc phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả.

1.1 Cơ chế xâm nhập của virus

Virus SARS-CoV-2 xâm nhập vào tế bào chủ thông qua hai cơ chế chính: hòa màng và thực bào. Cơ chế hòa màng là phương thức chủ yếu, trong đó spike protein của virus liên kết với thụ thể ACE2 trên bề mặt tế bào. Sau khi liên kết, spike protein sẽ thay đổi hình dạng, cho phép virus hòa màng với tế bào chủ và giải phóng bộ gen vào trong tế bào. Ngoài ra, virus cũng có thể xâm nhập qua con đường thực bào, nơi mà virus được bao bọc trong các bong bóng tế bào và sau đó được giải phóng vào tế bào chất. Hiểu rõ các cơ chế này giúp xác định các mục tiêu tiềm năng cho việc phát triển thuốc điều trị COVID-19.

II. Tác dụng của cây cam thảo trong việc ức chế virus

Cây cam thảo (Glycyrrhiza glabra L.) đã được nghiên cứu về khả năng ức chế virus, đặc biệt là virus SARS-CoV-2. Các hợp chất trong cây cam thảo, như 18β-Glycyrrhetinic acid, đã cho thấy khả năng ức chế các đích phân tử của virus, bao gồm ACE2, spike protein và main protease. Nghiên cứu cho thấy rằng các hợp chất này có thể làm giảm khả năng xâm nhập của virus vào tế bào, từ đó giảm thiểu sự lây lan của bệnh. Việc sử dụng các hợp chất tự nhiên từ cây cam thảo có thể là một phương pháp bổ sung hiệu quả trong điều trị COVID-19.

2.1 Các hợp chất trong cây cam thảo

Các hợp chất trong cây cam thảo không chỉ có tác dụng kháng virus mà còn có nhiều tác dụng dược lý khác. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hợp chất tự nhiên trong cam thảo có thể ức chế sự phát triển của nhiều loại virus khác nhau. Việc sàng lọc các hợp chất này thông qua phương pháp in silico giúp xác định các ứng viên tiềm năng cho việc phát triển thuốc điều trị COVID-19. Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng việc sử dụng các hợp chất này có thể giúp tăng cường hệ miễn dịch và hỗ trợ điều trị các triệu chứng của bệnh.

III. Phương pháp nghiên cứu in silico

Phương pháp in silico đã được áp dụng để nghiên cứu tác dụng của các hợp chất trong cây cam thảo đối với virus SARS-CoV-2. Phương pháp này cho phép mô phỏng các tương tác giữa các hợp chất và các đích phân tử của virus, từ đó đánh giá khả năng ức chế của chúng. Các nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật docking phân tử để xác định các hợp chất có khả năng liên kết mạnh với các đích phân tử như ACE2 và main protease. Kết quả cho thấy rằng một số hợp chất trong cây cam thảo có thể ức chế hiệu quả các đích này, mở ra hướng đi mới trong việc phát triển thuốc điều trị COVID-19.

3.1 Đánh giá khả năng ức chế

Đánh giá khả năng ức chế của các hợp chất trong cây cam thảo được thực hiện thông qua các chỉ số như năng lượng liên kết và độ ổn định của phức hợp. Các hợp chất có năng lượng liên kết thấp cho thấy khả năng ức chế tốt hơn. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng 18β-Glycyrrhetinic acid và một số hợp chất khác có khả năng ức chế mạnh mẽ các đích phân tử của virus SARS-CoV-2. Điều này không chỉ khẳng định giá trị của cây cam thảo trong việc phát triển thuốc mà còn mở ra cơ hội cho việc nghiên cứu sâu hơn về các hợp chất tự nhiên trong y học.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng hô hấp cấp tính (COVID-19) do virus SARS-CoV-2 gây ra trong những năm gần đây đã trở thành một đại dịch lớn ảnh hưởng đến toàn cầu. Hội chứng này lần đầu được phát hiện ở Vũ Hán vào cuối tháng 12 năm 2019 do một loại Coronavirus mới gây ra. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO) cho đến ngày 1 tháng 4 năm 2022 đã có khoảng 487 triệu người xác nhận nhiễm COVID-19 và đã có hơn 6,1 triệu trường hợp tử vong. Tại Việt Nam cho đến ngày 5 tháng 4 năm 2022 đã có gần 10 triệu ca nhiễm và hơn 42 nghìn ca tử vong.

Trong suốt ba năm nay việc đẩy nhanh nghiên cứu và sản xuất Vaccine SARS-CoV-2 đã đạt được nhiều kết quả tốt. Nhiều loại vaccine đã được ra đời giúp cơ thể phát triển khả năng miễn dịch chống lại virus SARS-CoV-2 mà không cần nhiễm bệnh, từ đó giảm nhẹ các triệu chứng khi mắc bệnh, giảm số ca trở nặng cũng như tỷ lệ tử vong. Số liệu thống kê vào ngày 22 tháng 3 năm 2022 Việt Nam đã có 82,1% dân số tiêm ít nhất 1 liều; 79,9% dân số đã tiêm đủ liều và có 46,7% đã tiêm mũi tăng cường. SARS-CoV-2 lây truyền qua các giọt bắn và các giọt có chứa virus.

Những bệnh nhân có triệu chứng và không có triệu chứng là nguồn lây nhiễm chính. Virus cũng có thể lây lan qua tiếp xúc gián tiếp khi chạm vào mắt mũi hoặc miệng bằng tay có virus trên đó. Các biểu hiện COVID-19 ở người được mô tả là kết hợp nhiều hệ thống cơ thể với mức độ khởi phát và mức độ nghiệm trọng khác nhau. Các triệu chứng phổ biến nhất là sốt và ho.

COVID-19 được chia thành ba cấp độ tùy theo mức độ bệnh: nhẹ, nặng và nguy kịch. Ngoài bệnh về hô hấp, COVID-19 có thể gây tổn thương nhiều cơ quan như: tổn thương cơ tim, biến chứng loạn nhịp tim, các biến chứng thần kinh, các triệu chứng tiêu hóa, tổn thương gan, biến chứng tăng đông máu, suy đa chức năng cơ quan… đã được báo cáo. Người cao tuổi và bệnh nhân mắc các bệnh nền là nhóm người có nguy cơ có tiên lượng xấu hơn [69]. Mặc dù hiện nay đã có nhiều loại vaccine được phát triển và sử dụng nhưng các triệu chứng biểu hiện khi bị bệnh cũng như các triệu chứng kéo dài sau khi mắc bệnh vẫn gây ảnh hưởng rất nhiều đến người bệnh.

Do đó việc phát triển các loại thuốc điều trị nhiễm virus SARS-CoV-2 là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, việc phát triển thuốc mới tốn rất nhiều thời gian cũng như chi phí. Các mô hình in silico giúp tiết kiệm cả thời gian cũng như chi phí so với các mô hình thực nghiệm. Vì vậy việc sử dụng in silico rất có ích trong việc nghiên cứu thuốc điều trị COVID-19, giúp đẩy nhanh khả năng nghiên cứu một thuốc ra thị trường.

1 Men chuyển angiotensin 2 (ACE2) của tế bào chủ là thụ thể quan trọng để virus SARS-CoV-2 xâm nhập vào cơ thể thông qua việc tạo liên kết với spike protein. Sau khi vào cơ thể RNA sẽ được dịch mã tạo ra các protein sao chép của virus, các protein này được phân cắt thông qua các protease của vật chủ và virus. Main protease là một trong số các protease có vai trò quan trọng giúp phân cắt các polyprotein thành các protein phi cấu trúc. Đặc biệt là nsp12 hay còn được gọi là RNA polymerase phụ thuộc RNA (RdRp).

Đây là một enzyme quan trọng đối với vòng đời RNA của virus vì nó tham gia vào quá trình phiên mã và dịch mã của bộ gen SARS-CoV-2. Do đó ACE2, Spike protein, Main protease và RdRp đã trở thành mục tiêu nghiên cứu tiềm năng các thuốc để điều trị COVID-19 [63]. Trên cơ sở đó đề tài “Nghiên cứu tác dụng ức chế các đích phân tử virus SARS-CoV-2 của các hợp chất có trong cây Cam thảo (Glycyrrhiza glabra L.)” được tiến hành với hai mục tiêu chính:  Sàng lọc các hợp chất có trong cây cam thảo (Glycyrrhiza glabra L.) có tác dụng ức chế các đích phân tử của virus SARS-CoV-2 bao gồm: Men chuyển angiotensin 2, Spike protein, Main protease và RNA polymerase phụ thuộc RNA.  Phân tích các đặc điểm giống thuốc và tính toán các thông số dược động học và độc tính của các hợp chất tốt nhất thu được sau sàng lọc.1 Tổng quan về bệnh COVID-19 1.1 Tổng quan về virus SARS-CoV-2 Hội chứng hô hấp cấp tính (COVID-19) do virus SARS-CoV-2 gây ra.

Đây là virus RNA sợi dương thuộc họ Coronaviridae, phân họ Coronavirinae và bộ Nidovirales [16]. Cấu tạo của SARS-CoV-2 gồm một RNA sợi đơn dương. RNA của SARS-CoV-2 có độ dài khoảng 29.9 kb, đây là virus có bộ gen lớn nhất trong các loài virus RNA. Bộ gen bao gồm các vùng 5’UTR, khung đọc mở và cuối cùng là đuôi poly A.

Hai phần đầu của cấu trúc bộ gen là các khung đọc mở mã hóa cho mười sáu protein phi cấu trúc. Phần cuối của bộ gen mã hóa các protein cấu trúc gồm protein gai, protein vỏ, protein màng, protein nucleocapsid. RNA được bao ngoài bởi một lớp capsid được tạo thành từ protein nucleocapsid. Bao ngoài lớp capsid này là một lớp bao khác được liên kết bởi ba protein cấu trúc: protein màng, protein gai và protein vỏ [69].

Quá trình xâm nhập vào cơ thể người của SARS-CoV-2 thông qua hai cơ chế là cơ chế hòa màng hoặc cơ chế thực bào trong đó cơ chế hòa màng là cơ chế chính giúp SARS-CoV-2 xâm nhập vào cơ thể. Protein spike có trên bề mặt tế bào chính là chìa khóa giúp virus xâm nhập vào tế bào thông qua thụ thể enzyme chuyển đổi angiotensin 2. Sau khi spike protein liên kết với thụ thể ACE2 trên bề mặt tế bào, spike protein sẽ thay đổi hình dạng, cấu trúc không gian và làm lộ ra vị trí cắt S1/S2. Lúc này TMPRSS2 – một serine protease trên màng tế bào chủ sẽ cắt protein S thành 2 tiểu đơn vị S1 và S2.

Các peptid dung hợp có trên tiểu đơn vị S2 sẽ giúp hòa màng virus và màng của tế bào vật chủ và giải phóng bộ gen virus vào tế bào. Ngoài ra SARS-CoV-2 còn xâm nhập vào tế bào vật chủ thông qua con đường thực bào. Khi không có sự hiện diện của các protease ngoại bào và protease màng, virus không thể hòa màng của chúng và màng tế bào chủ với nhau, chúng đi vào tế bào chất bằng các bong bóng làm bằng tế bào chủ (endosome). Trong endosome, cathepsin L một loại enzyme hoạt động ở pH thấp có trong tế bào chủ đã phân cắt protein S tại vị trí S2’ và quá trình hòa màng diễn ra từ đó giúp giải phóng bộ gen của virus vào tế bào vật chủ.

Sau khi RNA của virus được giải phóng chúng sẽ sử dụng ribosome của cơ thể vật chủ để dịch mã thành các protein sao chép. Khung đọc mở 1a và 1b được dịch mã thành các polyprotein. Các polyprotein này sau đó được phân cắt nhờ các protease của tế bào vật chủ và virus thành các protein phi cấu trúc, bao gồm RNA polymerase phụ thuộc RNA và helicase, để xúc tác sự sao chép bộ gen của virus và tổng hợp 3 protein. ORFs còn lại mã hóa cho các protein phụ và cấu trúc.

Sau khi lắp ráp thêm, các virion trưởng thành được vận chuyển đến bề mặt tế bào trong các túi và được giải phóng bằng quá trình xuất bào [51, 63].2 Triệu chứng và chẩn đoán nhiễm COVID-19 Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), các triệu chứng của COVID-19 rất đa dạng. Những trường hợp nhẹ thường bị sốt, ho, mệt mỏi. Trường hợp trung bình có thể khó thở hoặc viêm phổi nhẹ. Trong khi trường hợp nặng có thể bị viêm phổi nặng, suy các cơ quan khác và có thể tử vong.

Những người từ 60 tuổi trở lên, người mang thai và những người có các vấn đề y tế tiềm ẩn như huyết áp, các vấn đề về tim phổi, tiểu đường, béo phì hoặc ung thư có nguy cơ mắc bệnh nặng cao hơn. Tuy nhiên, bất kỳ ai cũng có thể bị bệnh COVID-19 và trở thành bệnh nặng hoặc tử vong ở mọi lứa tuổi [50]. Để xác định virus SARS-CoV-2 có thể thực hiện qua ba phương pháp: nuôi cấy virus, xét nghiệm miễn dịch học và thử nghiệm kiểm tra acid nucleic. Việc nuôi cấy virus SARS-CoV-2 rất hữu ích để phân lập và xác định đặc tính của virus; nhưng về cơ bản, việc nuôi cấy tế bào để phân lập virus không được khuyến khích cho mục đích chẩn đoán.

Xét nghiệm miễn dịch học bao gồm xét nghiệm kháng nguyên và kháng thể. Việc xét nghiệm kháng thể thường không được sử dụng trong chẩn đoán nhiễm COVID-19 mà thường được dùng để đánh giá khả năng đáp ứng miễn dịch của những người đã từng nhiễm SARS-CoV-2 hoặc đã được tiêm vaccine. Đối với xét nghiệm kháng nguyên, đây là xét nghiệm miễn dịch phát hiện sự hiện diện của một kháng nguyên virus cụ thể, cho biết được tình trạng nhiễm virus hiện tại. Các xét nghiệm kháng nguyên cho kết quả nhanh chóng và có thể dễ thực hiện tại điểm y tế hoặc tại nhà, tuy nhiên xét nghiệm kháng nguyên thường kém nhạy hơn so với thử nghiệm kiểm tra acid nucleic.

Xét nghiệm acid nucleic có thể kiểm tra sự xuất hiện của vật chất di truyền của virus với lượng rất nhỏ thông qua việc khuếch đại, tạo ra nhiều bản sao của vật chất di truyền. Việc kiểm tra khuếch đại acid nucleic có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như: RT-PCR hoặc khuếch đại đẳng nhiệt [6, 28].3 Vaccine và thuốc được sử dụng trong điều trị COVID-19 Veklury (remdesivir) là thuốc kháng virus đầu tiên được FDA chấp thuận vào ngày 22 tháng 10 năm 2020. Thuốc được sử dụng cho bệnh nhân người lớn, trẻ em từ 12 tuổi trở lên và nặng ít nhất 40kg để điều trị COVID-19 cần nhập viện. Đối với 4 nhóm đối tượng bệnh nhi nhập viện có cân nặng từ 3,5 đến dưới 40kg hoặc bệnh nhi dưới 12 tuổi nặng ít nhất 3,5kg tính an toàn và hiệu quả của thuốc vẫn đang được đánh giá [44].

Remdesivir là một tiền chất tương tự adenosine nucleotide được dùng theo đường tĩnh mạch. Sau khi vào cơ thể thuốc được chuyển thành chất chuyển hóa nucleoside triphosphate có hoạt tính được tích hợp vào chuỗi RNA của virus mới sinh trong tế bào vật chủ. Thuốc làm chấm dứt quá trình tổng hợp RNA của virus bằng cách ức chế enzyme RNA polymerase phụ thuộc RNA [22]. Kháng thể đơn dòng cũng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu để điều trị SARS-CoV-2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết với tiêu đề "Tác dụng ức chế virus SARS-CoV-2 của hợp chất trong cây cam thảo" khám phá những lợi ích tiềm năng của hợp chất chiết xuất từ cây cam thảo trong việc ức chế virus SARS-CoV-2. Nghiên cứu chỉ ra rằng các thành phần tự nhiên trong cây cam thảo có khả năng ngăn chặn sự phát triển của virus, mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các phương pháp điều trị và phòng ngừa COVID-19. Điều này không chỉ mang lại hy vọng cho việc kiểm soát dịch bệnh mà còn khẳng định giá trị của các sản phẩm thiên nhiên trong y học hiện đại.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe và bệnh lý, hãy tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, nơi bạn có thể tìm hiểu về mối liên hệ giữa các yếu tố sinh học và nguy cơ tim mạch. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu lâm sàng xquang đánh giá hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp điều trị hiện đại trong y học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các lĩnh vực liên quan đến sức khỏe.