ĐẶT VẤN ĐỀ Suy giảm chức năng buồng trứng-SGCNBT (Premature Ovarian Insufficience) là một hội chứng lâm sàng được định nghĩa bởi sự giảm hoặc ngừng hoạt động chức năng của buồng trứng ở phụ nữ trước tuổi 40. Bệnh được đặc trưng bởi sự rối loạn kinh nguyệt như mất kinh hoặc thưa kinh, tăng hormon điều hòa sinh dục của tuyến yên Follicle stimulating hormone (FSH) và giảm Estrogen máu [1]. Theo YHCT suy buồng trứng thuộc phạm vi chứng kinh nguyệt không đều, thiểu kinh, vô kinh, vô sinh. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu đã chứng minh dùng thuốc thảo dược, bên cạnh hiệu quả trong điều trị suy giảm chức năng buồng trứng, các thuốc này còn có tác dụng bảo vệ mô buồng trứng khỏi tác dụng phụ của các liệu pháp trị liệu cũng như do môi trường sống …[2][3][4].
Bài thuốc HV (Dật kinh thang gia Kỷ tử, Thỏ ty tử, Tỏa dương), có tác dụng bổ thận ích tinh, bổ khí, tán uất [5]. Bài thuốc đã được thử độc tính cấp, bán trường diễn và bước đầu đánh hiệu quả trên mô hình chuột nhắt trắng gây SGCNBT bằng Tripterygiumglycoside (TG) đường uống [6][7]. Kết quả cho thấy thuốc an toàn trên động vật thực nghiệm và bước đầu có hiệu quả hồi phục chức năng buồng trứng bị gây suy giảm bởi uống TG, thể hiện qua sự thay đổi chu kỳ động dục, một số chỉ số nội tiết sinh dục và quan sát định tính biểu mô buồng trứng cũng như niêm mạc tử cung [7][6]. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu về tác dụng của bài thuốc trên chuột gây suy buồng trứng mới chỉ được đánh giá bước đầu, trên mô hình gây suy buồng trứng là mô hình cho chuột uống TG đã được đánh giá là gây suy buồng trứng ở mức độ kém hơn so với mô hình dùng TG đường tiêm.
Nhằm khẳng định hiệu quả của bài thuốc HV không chỉ ở tác dụng điều trị mà còn ở cả tác dụng dự phòng, trên mô hình chuẩn gây suy buồng trứng dùng TG đường tiêm, đồng thời đánh giá sâu hơn về cơ chế tác dụng của bài thuốc, đề tài được thực hiện với hai mục tiêu sau: 2 1. Đánh giá tác dụng bảo vệ của bài thuốc HV trên buồng trứng và tử cung chuột nhắt trắng trên mô hình thực nghiệm. Đánh giá hiệu quả phục hồi suy giảm chức năng buồng trứng của bài thuốc HV trên mô hình thực nghiệm. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Suy giảm chức năng buồng trứng theo YHHĐ 1. Vai trò trục dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng đối với chức năng sinh sản 1.Vùng dưới đồi Trung khu sinh dục của vùng dưới đồi nằm trong nền của trung não, gồm một nhóm các nhân thần kinh giàu mạch máu, có khả năng chế tiết hormone. Củ xám, nhân bụng giữa, nhân lưng giữa và nhân cung tiết ra hormone giải phóng Gn-RH. Hóc môn này theo hệ tĩnh mạch gánh của Poga và Fielding được chuyển xuống thùy trước tuyến yên [8].
Gn-RH kích thích thùy trước của tuyến yên tiết FSH và LH. Gn-RH được bài tiết theo nhịp, cứ 1- 3 giờ bài tiết một lần, mỗi lần thời gian kéo dài trong vài phút.Tuyến yên Tuyến yên nằm trong hố yên, nặng khoảng 0,5g, có hai thùy. Thùy trước là một tuyến nội tiết chế tiết các hóc môn kích thích các tuyến sinh dục là FSH và LH, đồng thời chế tiết prolactin kích thích tuyến vú. FSH kích thích nang noãn của buồng trứng phát triển và trưởng thành.
FSH đơn độc không làm chế tiết estrogen, nhờ tác dụng cộng đồng của một chút ít LH, nang noãn mới chế tiết estrogen. LH kích thích nang noãn trưởng thành phóng noãn, kích thích hình thành hoàng thể và kích thích hoàng thể chế tiết. LH còn có tác dụng kích thích sinh sản các tế bào kẽ của tinh hoàn [8].Buồng trứng Là tuyến sinh dục nữ, thường có 2 buồng trứng, mỗi buồng trứng có kích thước 2,5-5 x 2,0 x 1,0 cm và nặng 4-8g. Trọng lượng của chúng thay đổi trong thời kỳ kinh nguyệt.
Có hai chức năng: chức năng ngoại tiết tạo noãn bào và chức năng nội tiết tạo các hormon sinh dục. Buồng trứng có rất nhiều nang noãn. Số lượng nang noãn này giảm rất nhanh theo thời gian. Khi thai nhi với tuổi 20 tuần, hai bên buồng trứng có 1,5 – 2 triệu nang noãn nguyên thủy.
Nhưng khi em bé ra đời số lượng nang noãn 4 này đã giảm chỉ còn chừng 200. Vào tuổi dậy thì số lượng nang noãn chỉ còn 20. Suốt cuộc đời phụ nữ số noãn bào chín và phóng khỏi buồng trứng không quá 400-500 [8]. Hội chứng SGCNBT 1.
Dịch tễ Theo các nghiên cứu của Hiệp hội Sinh sản người và Phôi thai học Châu Âu (ESHRE) tỷ lệ mắc SGCNBT như sau: Trước tuổi 40 tỷ lệ mắc bệnh là 1/100. Trước tuổi 30 bệnh có tỷ lệ mắc là 1/1000. Trước tuổi 20 bệnh có tỷ lệ mắc là 1/10000. Theo phân tích dữ liệu về Ung thư ở trẻ em cho thấy 6,3% bệnh nhi cho thấy sự giảm mạnh chức năng buồng trứng ngay sau khi điều trị, và 8% mắc SGCNBT sau điều trị so với tỷ lệ 0,8 ở nhóm chứng [9][10].
Theo nghiên cứu của Hội Liên hiệp sức khỏe phụ nữ xuyên quốc gia (Women is Health Across the Nation) cho thấy sự phổ biến của POI là khác nhau ở các chủng tộc. Sự khác nhau mang ý nghĩa thống kê được thể hiện rõ ở nhiều nhóm, dạo động từ 0,1% đối với người Nhật, tới 1% với người da trắng và 1,4% với người Mỹ gốc Phi và người Tây Ban Nha [11][10]. Chẩn đoán SGCNBT Tiêu chuẩn được đồng thuận của ESHRE 2016: Một phụ nữ được bị SGCNBT sớm khi tuổi nhỏ hơn 40 và có bộ 3 tiêu chuẩn sau [10]: 1. Thiểu kinh hoặc vô kinh trên 04 tháng.
Nồng độ FSH > 25 IU/L ở 2 lần thử cách nhau ít nhất 4 tuần. Nồng độ E2 < 50 pg/ml cùng thời điểm xét nghiệm FSH. Cơ chế bệnh sinh. Cơ chế chính xác của SGCNBTchưa được biết rõ.
Nó có thể do: Suy giảm lượng nang trứng nguyên thủy ban đầu. Sự tăng nhanh tốc độ phân hủy nang trứng. Sai sót trong quá trình phát triển hay tuyển chọn nang trứng. 5 Hơn nữa, sự tăng lên của tốc độ phân hủy nang trứng có thể do sự thay đổi tốc độ của quá trình chết theo chương trình, sai sót làm ngăn chặn quá trình trứng chín và bất thường trong hoạt hóa nang trứng nguyên thủy làm giảm số lượng nang trứng có chức năng hay làm tăng tốc độ phân giải nang trứng.
Như vậy, những nhân tố gây ra cơ chế này là rất đa dạng và phức tạp, nó có thể là kết quả của đột biến gen, đột biến trên nhiễm sắc thể (NST), lây nhiễm, rối loạn tự miễn, các vấn đề chuyển hóa và các tác nhân hậu phẫu [10]. Nguyên nhân gây SGCNBT Có nhiều nguyên nhân gây SGCNBT như di truyền, bệnh tự miễn, nhiễm trùng hoặc có nguyên nhân iatrogenic, bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hoặc hóa trị, yếu tố môi trường, .hoặc vô căn Bảng 1. Nguyên nhân của SGCNBT [10][12]: Nguyên nhân di truyền của POI Rối loạn nhiễm sắc thể X Monosomy X, hội chứng Turner X isochromosome Rối loạn di truyền trên cánh tay dài và ngắn của nhiễm sắc thể X Các microdeletions khác nhau POI ở nữ 46, XX Rối loạn tiền đình Tiểu não và rối loạn chức năng tuyến sinh dục Rối loạn tiền đình và hội chứng dị tật nhiều Đột biến trong enzyme cần thiết cho sinh sản Thiếu hụt galactose 1-phosphate uridylyltransferase (galactosemia) Thiếu glycoprotein thiếu carbohydrate Thiếu hụt 17-hydroxylase / 17,20 desmolase 6 Đột biến Aromatase Đột biến trong thụ thể / hành động của hormon Đột biến trong thụ thể hoóc môn FSH / luteinizing Nguyên nhân tự miễn liên quan đến POI Hội chứng polyendocrine tự miễn Suy giáp, suy tuyến thượng thận, suy tuyến cận giáp và đái tháo đường tuýp 1 Hội chứng khô mắt Bệnh nhược cơ Viêm khớp dạng thấp Lupus ban đỏ hệ thống Bất sản tuyến ức bẩm sinh Quai bị Nguyên nhân Iatrogenic của POI Hóa trị Xạ trị Phẫu thuật 1. Điều trị SGCNBT Việc quản lý và điều trị SGCNBT nên được bắt đầu ngay lập tức để ngăn chặn hậu quả lâu dài.
Phụ nữ mắc SGCNBT có nhu cầu chăm sóc tâm lý và sinh lý rất phức tạp do vậy cần tiếp cận đa ngành là rất cần thiết bao gồm: phụ khoa, nội tiết, sinh sản, hiếm muộn, tâm lý học, chuyên gia về chế độ ăn uống và đội ngũ hỗ trợ bệnh nhân. Liệu pháp hormon thay thế là trụ cột chính, chiến lược chính về dược lý trong điều trị SGCNBT để giảm bớt các triệu chứng và các hệ quả lâu dài của sự thiếu hụt estrogen. Đối với các trẻ vị thành niên đều này giúp kích thích các đặc điểm sinh dục thứ cấp [10]. 7 Liệu pháp estrogen Trừ khi có chống chỉ định tuyệt đối không thể sử dụng liệu pháp estrogen, phụ nữ SGCNBT nên được sử dụng liệu pháp estrogen để ngăn ngừa giảm mật độ xương.
Nếu còn tử cung, phải kèm theo progestogen [13] Ngoài biện pháp Estrogen để ngăn ngừa giảm mật độ xương, các biện pháp quan trọng khác cho sức khỏe cần được nhấn mạnh, bao gồm: tập thể dục, ăn uống lành mạnh, hấp thu đầy đủ caxi và vitamin D và đặc biệt là bệnh nhân cần được tư vấn bỏ thuốc lá [14]. Cách tiếp cận điều trị hiện nay là sử dụng hormon estrogen thay thế với liều gần giống nhất với liều sinh lý bình thường cho đến độ tuổi trung bình của thời kỳ mãn kinh tự nhiên, khoảng 51 tuổi. Các estrogen có chức năng bình thường trước mãn kinh là 17β-estradiol. Vẫn còn chưa rõ nồng độ estrogen tối ưu cho phụ nữ SGCNBT.
Hiện tại phác đồ thường dùng là sử dụng điều trị thay thế estrogen hoàn toàn bằng miếng dán estradiol (phóng thích 100mcg mỗi ngày) hoặc estradiol đường uống thường cho liều 2mg/ngày [15][10]. Điều trị miếng dán estradiol có một số lợi thế so với các chế phẩm thuốc viên [16][17]. Miếng dán phóng thích qua da có cấu trúc giống 17β-estradiol của buồng trứng. Tránh được chuyển hóa của gan, tránh được tác động của các yếu tố đông máu.
Hấp thu ổn định hơn. Giảm nguy cơ huyết khối tĩnh mạch và giảm nguy cơ các bệnh về túi mật. Estrogen nên được sử dụng phối hợp với progestin để giảm nguy cơ tăng sản nội mạc tử cung và ung thư nội mạc tử cung. Nghiên cứu cho thấy nên sử dụng 10mg medroxyprogesterone acetate (MPA) mỗi ngày trong 12 ngày đầu của mỗi tháng.
Ngoài ra một số tác giả khuyến cáo sử dụng micronized progesterone dạng uống, có thể uống theo chu kỳ 200mg trong 12 ngày hoặc uống liên tục 100mg/ngày suốt chu kỳ [18].