CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về cây Ô đầu 1. Đặc điểm thực vật 1. Tên khoa học, họ thực vật Hình 1.1 Ảnh minh họa của Aconitum cacarmichael[56] A, cách mọc; B, ab, cuống lá; C, lá (a, bề mặt trục; b, bề mặt trục); D, cụm hoa; E, hoa; G, lá bắc con; H, lá đài (a, lá đài dưới; b, lá đài bên; c, lá đài trên; I, những cánh hoa; J, nhị hoa; K, nang noãn; L, hạt giống.
Cây Ô đầu còn được biết đến với tên Xuyên ô, Thảo ô. Nó có tên khoa học là Aconitum fortunei Hemsl hoặc Aconitum carmichaeli Debx., thuộc họ Hoàng liên (Ranunculaceac)[1]. Họ này chứa khoảng 50-65 chi, với khoảng 1.500 loài, Tieu luan chủ yếu là cây thân thảo, nhưng có một vài loài là loại dây leo thân gỗ (chẳng hạn chi Clematis). Chúng được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới[2].
Đặc điểm hình thái Hình 1.2 Ảnh chụp Aconitum carmichaelii [56] Tieu luan A, cách mọc; B, củ; C, cuống lá; D, lá; E và F, cụm hoa; G, cuống; H và K, lá đài và nhị hoa; L, cánh hoa; M và N, nang noãn; O, hạt giống. Cây Ô đầu là cây thảo sống lâu năm, cao chừng 0,6 – 1m. Rễ phát triển thành củ, có củ mẹ, củ con, hình mác đến thuôn dài, màu nâu sẫm[56]. Rễ cái to mang nhiều rễ nhỏ.
Củ hái ở những cây trồng có thể có đường kính 5cm. Thân đứng, hình trụ mọc thẳng, cao 0,5–1,5 ma, đường kính 1–1,5 cm, màu nâu nhạt, ít khi phân nhánh ở giữa[56]. Lá có khoảng 10–22 lá, mọc so le; ở giữa có cuống lá dài, dài 1,5–5 (–9) cm; phiến lá hình ngũ giác, 6–12 × 9–18 cm, có gân hình chân vịt, lá của cây có hình tim tròn, có răng cưa to, phiến lá rộng 5 – 12cm, xẻ thành 3 – 5 thùy to không đều, 2 thùy 2 bên lại xẻ làm 2, thùy giữa lại xẻ thành 3 thùy con nữa. Mép các thùy đều có răng cưa thô, to.
Hai mặt lá có lông ngắn, mặt trên lục bóng, mặt dưới nhạt.3 Ảnh chụp hoa Aconitum carmichaelii A, Cấu trúc hoa (a, lá đài trên; b, lá đài bên; c, lá đài dưới; d, cánh hoa; e, cuống lá và nhị hoa); B, Các loại lá đài và cánh hoa (a, lá đài trên; d, cánh hoa). Cụm hoa mọc ở ngọn hoặc ở nách, hoa to, dài 10 – 20cm, cây có khoảng 10-60 hoa, hoa màu xanh lam mọc sít nhau, bao hoa gồm 5 lá đài, lá đài trên thẳng và cong hình mũ chụp kín tràng hoa đã tiêu giảm, nhị nhiều, bầu có 3 ô chứa nhiều lá noãn. Hoa mọc đối xứng hai bên, cao 2,0–3,5 cm. Hoa nở vào tháng 6 – 7.
Các đài hoa rụng trước khi đậu quả, màu xanh tím hoặc trắng hơi vàng, có hình răng cưa ở Tieu luan rìa; lá đài dưới dài 1–1,8 cm, một cái thuôn dài, những cái còn lại hình trứng, có lông ngắn và xòe ra; lá đài bên hình tròn, dài 1,4–1,8 cm, hình lông chim xòe ra ở trục; lá đài trên màu xám bạc, hình bán cầu đến hình nón tròn, thường có mỏ, cao 1,8–2,5 cm, rộng 1,5–2,7 cm, hình chóp xòe rộng theo trục, mép hơi lõm ở gốc. Cánh hoa màu trắng đục, màu xanh tím đến xanh lam, giấu trong mũ, hiện có mật hoa[56]. Quả nang, dài 1–2 cm, mọc thẳng, thuôn dài, không cuống. Hạt 10-12 trên mỗi nang.
Dài 2–5 mm, màu nâu sẫm; phiến nhỏ, có cánh không đều và có màng[56]. Quả thu hoạch vào tháng 7-8[3]. Phân bố Chi Aconitum là một chi lớn thuộc họ Ranunculacae với khoảng 331 loài, đặc điểm thực vật giữa các loài khác nhau ở một số điểm nhất định. Chi này phân bố ở khu vực phía bắc ôn đới, khu vực lạnh ở bán cầu bắc, chủ yếu ở vùng núi Đông Á, Đông Nam Á, Trung Âu, một số ở phía tây bắc.
Cây thường mọc trong rừng cây bụi khô hoặc trên sườn đồng cỏ, ở độ cao 100–2.200 m, và phân bố ở hầu hết các vùng của Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam[57] Hình 1.4 Vùng phân bố của Aconitum carmichaelii [56] Ở Trung Quốc, Ô đầu chủ yếu được trồng ở các tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam và Sơn Tây[28]. Tieu luan Ở Việt Nam cũng ghi nhận cây Ô đầu có ở một số tỉnh vùng núi cao, khí hậu lạnh mát như: Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Cao Bằng. Ngoài ra cây Ô đầu cũng đang được trồng nhiều tại Sa Pa (Lào Cai)[4][5]. Điều kiện sinh thái Ô đầu sống ở các sườn núi râm mát và các thung lũng ẩm ướt ở độ cao 10–100 m so với mực nước biển, cũng như các sườn ẩm ở độ cao 200–300m, trên các núi có độ cao 500–600m[56]; có điều kiện khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình từ 15- 25 độ C, độ ẩm không khí khoảng 70-95%, đất giữ ẩm và thoát nước tốt[6].
Ô đầu là cây của vùng ôn đới ấm, cây trồng ở Việt Nam thích nghi cao với điều kiện khí hậu ẩm mát của vùng nhiệt đới núi cao như Sa Pa, Hà Giang, Quản Bạ[12]. Cây ưa sáng, khi còn nhỏ là cây chịu bóng[12]. Thành phần hóa học của cây Ô đầu Hoạt chất chính của củ Ô đầu là aconitin (chất gây tê đầu lưỡi) và các alcaloid khác. Ngoài ra còn tinh bột, đường, manit, chất nhựa, các acid hữu cơ.
+ Higenamine, Demethylcoclaurine, Coryneinechloride, Methyldopa hydrochloride[8] + Isodephinine, Aconitine, Benzoylmesaconine, Neoline, Fuziline Hydroxy neoline[9]. Bộ phận dùng và công dụng của cây Ô đầu 1. Bộ phận dùng Từ những củ nhánh của cây Ô đầu Aconitum carmichaeli. Debx, sau khi chế biến bằng nhiều phương pháp khác nhau sẽ thu được phụ tử chế với các tên khác nhau như hắc phụ, bạch phụ, diêm phụ[13].
Củ chính gọi là ô đầu. Mô tả dược liệu: Tieu luan + Diêm Phụ Tử: hình dài tròn, dài khoảng 6,6cm, đường kính 3,3cm. Đầu củ rộng, chính giữa có vết mầm trở xuống, thân trên béo, đầy, chung quanh có phân chi nổi lên như cái bướu thường được gọi là Đinh giác. Bên ngoài màu đen tro, chỗ cắt ngang có những đường gân lệch hoặc giữa ruột có khe hồng nhỏ, trong đó có muối.
Không mùi, vị mặn mà tê, cay. Loại củ lớn, cứng, bên ngoài nổi bậc muối là mầu nâu tro, tôt + Hắc Phụ Phiến: Những miếng cắt dọc không giống nhau, trên rộng, dưới hẹp, dài 2 - 4cm, rộng 1,6 - 2,6cm, dầy 0,5cm. Ngoài vỏ mầu nâu đen, trong ruột mầu vàng mờ, nửa trong suốt dâu nhuận sáng bóng, thấy được đường gân chạy dọc. Chất cứng don, chỗ vỡ nát giống như chất sừng.
Không mùi, vị nhạt. Lựa thứ đều, bên ngoài có dầu nhuận sáng là tốt. + Bạch Phụ Phiến: giống Hắc Phụ Phiên nhưng toàn bộ đều mầu trắng vàng, nửa trong suốt miếng mỏng hơn, dài 0. Không mùi, vị nhạt.
Lựa thứ phiến đều mầu trắng vàng, dầu nhuận nửa trong suốt là tốt. Công dụng Ô đầu có vị cay, ngọt, tính nhiệt, có độc mạnh. Ô đầu có tác dụng khu phong, táo thấp, khử hàn[12]. Trong y học hiện đại, ô đầu được dùng làm thuốc chữa ho, sưng đau dưới dạn cồn thuốc tỉ lệ 1:10, người lớn mỗi lần dùng 5-10 giọt, liều dùng tối đa trong ngày là 40 giọt; trẻ em từ 30 tháng đến 15 tuổi dùng liều 5-10 giọt/ ngày[12].
Ô đầu được coi là một trong những chất độc bảng A, khi dùng phải hết sức thận trọng. Hiện nay ô đầu chủ yếu được dùng để làm phụ tử chế. Thu hái và sơ chế cây Ô đầu 1. Thu hái Củ ô đầu thu hái vào cuối tháng 6 (hạ chí) đầu tháng 7 (tiểu mmãn.
Tùy theo yêu cầu muốn có ô đầu, phụ tư hay hắc phụ lựa chọn những củ và chế biến theo phương pháp khác nhau[3]. Có tài liệu nêu rằng, thu hoạch rễ củ ô đầu vào tháng 8-9 sau khi cây ra hoa, bắt đầu vàng lụi[13]. Nếu không thu hạt, vào tháng 7-8 người ta tiến hành ngắt bỏ nụ hoa làm cho cây tập trung dinh dưỡng nuôi củ để thu hoạch vào cuối năm. Nếu Tieu luan cần thu hạt thì không ngắt nụ để cho cây ra hoa.
Đến cuối năm thu hạt xong tiếp tục chăm sóc để thu củ vào mua hoa quả năm sau. Năng suất có thể đạt 4-5 tấn củ tươi củ/ha[12]. Chế biến sơ bộ Thu hoạch củ ô đầu rồi lấy rễ củ, bỏ rễ con, rễ tua, tách riêng củ cái và củ nhánh, rửa sạch, sấy hoặc phơi khô[1]. Củ cái nhẹ, xốp gọi là ô đầu.
Củ nhánh hình con quay, chắc, vỏ màu đen, gọi là phụ tử. Ô đầu chri dùng ngoài, phụ tử chế biến thành dạng phiến để dùng trong. Thường chế biến ngay sau khi thu hoạch, khi củ còn tươi[13]. Tổng quan về vị thuốc Phụ tử chế 1.
Giới thiệu vị thuốc Phụ tử chế 1. Tên khoa học Tên khoa học: Radix Aconiti lateralis[1] Tên tiếng việt: Phụ tử[1] Họ thực vật: họ Hoàng liên (Ranunculaceae)[1] 1. Bộ phận dùng Phụ tử là rễ củ nhánh đã phơi hay sấy khô của cây Ô đầu[1]. Tính vị Vị: cay, ngọt Tính: đại nhiệt, có độc[13] 1.
Quy kinh Quy kinh: qua 3 kinh tâm, thận, tỳ[13] 1. Bào chế Phụ tử từ Ô đầu 1. Mục đích chế biến Phụ tử là vị thuốc độc bảng A. Liều dùng rất gần liều độc nên độ an toàn thấp.
Vì vậy, nhất thiết phải chế biến để an toàn khi dùng trong. Tieu luan Giảm độc tính của phụ tử: Thành phần gây độc là alcaloid diester; hypaconitin aconitin. Chế biến làm giảm lượng diester theo cách sau: + Ngâm: để loại trừ diester theo cơ chế hoà tan. Ngâm phụ tử trong nước sẽ thuỷ phân aconitin thành benzoylaconin, aconin có độc tính bằng 1/1000-1/2000 so với aconitin.
+ Nấu: nấu phụ tử với nước hay dịch phụ liệu. Trong điều kiện này, aconitin bị thuỷ phân nhanh hơn; ở 100°C aconitin bị phân huỷ nhanh thành benzoylaconin; aconin. + Sử dụng một số phụ liệu như cam thảo, đậu đen, đậu xanh, phòng phong. Đánh giá sơ bộ về độ độc; dựa vào mức độ tế khi nấu.
Aconitin có vị cay tê mạnh; vị cay tê giảm có nghĩa là lượng aconitin giảm. Tăng tác dụng bổ hoả, bổ thận: Chế với muối NaCl, tăng tác dụng dẫn thuốc vào kinh thận và để bảo quản tốt hơn. + Tác dụng bổ hoả của phụ tử là tác dụng bổ tâm hoả (quân hoả) và thận hoả (tướng hoả). Theo một số nhà nghiên cứu cho rằng, tác dụng bổ hoả có liên quan đến tác dụng cường tim, điều hoà nội tiết tố tuỷ thượng thận hệ adrenecgic.
+ Tác dụng cường tim của phụ tử do 3 thành phần: Aconitin có tác dụng mạnh nhưng liều tác dụng gần liều độc nên nguy hiểm khi dùng. Trong quá trình chế biến thì hàm lượng aconitin giảm nhiều. Hygenamin: là chất có tác dụng cường tim ngay ở liều 1/20000- 1/10000.