ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh thận mạn tính là một bệnh lý nặng và phổ biến gặp trong các bệnh thận tiết niệu, đồng thời cũng là biến chứng của một số bệnh nội khoa như đái tháo đường, tăng huyết áp, gout [1]. Đây là vấn đề sức khoẻ có tính toàn cầu, tần suất tăng nhanh và đòi hỏi chi phí điều trị cao [2]. Theo “Nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật toàn cầu” năm 2010, bệnh thận mạn từ vị trí thứ 27 (1990) đã lên vị trí thứ 18 trong nguyên nhân tử vong toàn cầu năm 2010 [3]. Hiện có khoảng 1,5 triệu người suy thận mạn giai đoạn cuối đang điều trị thay thế thận (thận nhân tạo, lọc màng bụng, ghép thận) trên thế giới, và con số này dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020.
Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu quy mô toàn quốc, nhưng tác giả Võ Tam cho biết tỷ lệ bệnh thận mạn với mức lọc cầu thận < 60 ml/phút ở Thừa Thiên Huế là 0,92% [2]. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền thống kê trong số 300 bệnh nhân mắc bệnh thận mạn đang điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ từ năm 2017 - 2019 gồm tỷ lệ bệnh nhân điều trị lọc máu chiếm 39,3%, điều trị nội khoa 59,4%, ghép thận 1,3% [4]. Bệnh thận mạn có diễn tiến âm ỉ và ảnh hưởng đến nhiều cơ quan khác, nếu không điều trị hiệu quả sẽ đe dọa sức khỏe người bệnh. Với tác động lớn đến sức khỏe cộng đồng, việc phòng ngừa, điều trị và làm chậm tiến triển của bệnh là thách thức quan trọng.
Trong những năm gần đây, các phương pháp điều trị thay thế như chạy thận nhân tạo, ghép thận và lọc màng bụng đã k o dài tuổi thọ cho nhiều bệnh nhân giai đoạn cuối. Tuy nhiên, những phương pháp này có chi phí cao, nguồn cung ghép thận hạn chế, và không phù hợp với bệnh nhân ở giai đoạn đầu và giai đoạn 3, 4. Do đó, nhiều bệnh nhân không thể tiếp cận điều trị, dẫn đến bệnh nặng hơn hoặc tử vong. Trong các phương pháp điều trị, y học cổ truyền ngày càng được ưa chuộng nhờ dễ sử dụng, ít tác dụng phụ, và có hiệu quả trong việc giảm triệu chứng, ngăn ngừa biến chứng và làm chậm tiến triển bệnh, nên cần được áp dụng rộng rãi.
Lê Thị Thanh Nhạn và cộng sự sử dụng bài thuốc “thăng thanh giáng trọc thang” để điều trị 30 bệnh nhân suy thận mạn tại Khoa Thận tiết niệu Bệnh viện Tuệ Tĩnh, từ tháng 4/2010 đến tháng 5/2011, có hiệu quả điều trị đạt 80% [5]. 2 Nhưng sử dụng thuốc dưới dạng thuốc sắc còn bất tiện như việc sắc thuốc tốn nhiều thời gian, khó bảo quản, người bệnh cần đi xa. Vì vậy nhằm thuận tiện cho người sử dụng, chúng tôi bước đầu tiến hành: “Nghiên cứu độc tính cấp và tác dụng của cao khô “thăng thanh giáng trọc” trên mô hình bệnh thận mạn cắt 5/6 thận chuột” với hai mục tiêu: 1. Đánh giá độc tính cấp của cao khô “thăng thanh giáng trọc”.
Đánh giá tác dụng của cao khô “thăng thanh giáng trọc” trên mô hình bệnh thận mạn cắt 5/6 thận chuột. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về một số phƣơng pháp xác định độc tính cấp của thuốc 1. Định nghĩa độc tính cấp Độc tính (toxicity) của một loại thuốc là đặc điểm được thể hiện thông qua tác dụng không mong muốn, gây hại cho cơ thể.
Độc tính của thuốc có thể nhẹ như buồn nôn, mẩn ngứa, thay đổi vận động, hành vi; nhưng cũng có thể rất nặng, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Độc tính cấp (acute toxicity) của một loại thuốc là độc tính xảy ra sau khi sử dụng thuốc một lần hoặc vài lần trong ngày. Mục tiêu nghiên cứu độc tính cấp trên động vật thực nghiệm là xác định liều gây tử vong trung bình (mean lethal dose), tức là liều lượng làm chết 50% số động vật thí nghiệm dưới điều kiện nhất định; điều này được biểu thị bằng ký hiệu LD50 (lethal dose 50%) [6], [7]. Mục tiêu Thử nghiệm độc tính cấp được thực hiện để cung cấp thông tin hỗ trợ việc phân loại mức độ độc của thuốc, điều trị ngộ độc cấp, và xác định mức liều cần thiết cho các thử nghiệm độc tính tiếp theo [8], [9].
Đối tượng nghiên cứu và liều dùng Thử nghiệm độc tính trên ít nhất 2 loài động vật có vú, trong đó có một loài không gặm nhấm. Tùy thuộc vào từng điều kiện, có thể quyết định thử nghiệm trên một loài động vật. Các loài gặm nhấm thường sử dụng gồm chuột nhắt và chuột cống, trong khi loài không gặm nhấm thường là chó hoặc khỉ. Trong nghiên cứu của chúng tôi sử dụng chuột nhắt làm động vật thực nghiệm [6].
Đường d ng tương tự đường d ng cho người, bao gồm đường uống, tiêm, hô hấp. Một số mô hình gây độc tính cấp Mô hình Litchfield-Wilcoxon: Động vật thường dùng là chuột nhắt trắng, cả 2 giống, khoẻ mạnh. Chuột được nhịn ăn 12 giờ trước khi uống thuốc, vẫn uống nước 4 đầy đủ. Cho từng lô chuột uống mẫu thuốc nghiên cứu theo liều tăng dần.
Theo dõi các triệu chứng bất thường xảy ra ngay sau khi uống thuốc. Tìm liều cao nhất không gây chết chuột, liều thấp nhất gây chết 100% số chuột và các liều trung gian, số chuột chết ở các liều trung gian (nếu có). Đây là mô hình được sử dụng phổ biến ở nghiên cứu trong và ngoài nước. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã sử dụng mô hình này.
Mô hình thử Tăng-Giảm: Thực hiện thử nghiệm bằng cách áp dụng các liều theo thứ tự, mỗi liều được đưa vào một thời điểm, và giữa các liều phải có khoảng thời gian ít nhất là 48 giờ. Đối với động vật đầu tiên, liều thấp nhất được thử nghiệm gần với liều LD50 được ước tính [10]. Nếu động vật sống, liều cho động vật tiếp theo sẽ được tăng lên 3,2 lần so với liều đã thử trước đó; nếu động vật chết, liều sẽ giảm xuống 3,2 lần. Quan sát tình trạng của từng động vật để quyết định liều tiếp theo [11].
Mô hình phân loại độc: Thử nghiệm theo quy trình bậc thang, mỗi bước sử dụng 3 con cùng giới. Tuỳ thuộc động vật có chết hay không trong một bước thử mà xác định cho bước thử tiếp theo, như không cần thử thêm nữa, hoặc thử thêm 3 con nữa với cùng mức liều đó hoặc thử thêm trên 3 con nữa ở mức liều cao hơn hoặc thấp hơn [10]. Chỉ tiêu theo dõi Theo dõi các biểu hiện nhiễm độc sớm bao gồm quan sát tình trạng chung của chuột, quá trình diễn biến bắt đầu và có dấu hiệu nhiễm độc (như nôn, co giật, kích động, bài tiết…), khả năng và thời gian hồi phục và số lượng chuột chết trong vòng 72 giờ sau khi uống thuốc. Theo dõi các biểu hiện nhiễm độc muộn và khả năng hồi phục các biểu hiện nhiễm độc bao gồm tiếp tục quan sát tình trạng của chuột đến hết ngày thứ 7 sau khi uống thuốc.
Các chỉ tiêu theo dõi tương tự như theo dõi trong 72 giờ đầu. Tổng quan về bệnh thận mạn 1. Theo Y học hiện đại 1. Giải phẫu thận Thận có hình dạng hạt đậu, dài khoảng 10 – 12,5cm, rộng khoảng 5 – 6cm và 5 dày khoảng 3 – 4cm.
Gồm các mặt trước và sau, các bờ trong và ngoài, các cực trên và dưới. Thận và tuyến thượng thận được vùi trong một bao mỡ, gọi là bao mỡ quanh thận. Mô liên kết sợi bao quanh bao mỡ này dày đặc lại thành mạc thận. Mạc thận có một chẽ ngang ngăn cách thận với tuyến thượng thận.
Trên thiết đồ cắt đứng ngang qua thận, ta thấy thận có 2 phần, phần đặc ở xung quanh là nhu mô thận, phần giữa rộng là xoang thận. Xoang thận mở ra phía trong một khe hẹp gọi là rốn thận để các thành phần trong cuống thận đi qua. Thành phần cuống thận nằm trong xoang thận gồm hệ thống đài bể-thận, các mạch máu và thần kinh thận. Phần còn lại của xoang thận được lấp đầy bởi các tổ chức mỡ.
Ngoài cùng bọc lấy thận là một bao xơ. Với chức năng ngoại tiết là bài tiết nước tiểu, thận có nhiệm vụ đào thải các sản phẩm chuyển hóa cuối c ng và lượng nước dư thừa trong cơ thể, do đó duy trì cân bằng nước, điện giải trong các mô. Thận cũng có chức năng nội tiết, sản sinh và đưa vào máu chất erythroprotein có tác dụng trong việc tạo hồng cầu và chất renin ảnh hưởng đến huyết áp [12], [13]. Định nghĩa Theo KDIGO 2012 (Kidney Disease Improving Global Outcomes), Bệnh thận mạn tính (Chronic kidney disease - CKD) được định nghĩa là những bất thường về cấu trúc hoặc chức năng thận, kéo dài trên 3 tháng và ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh.
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh thận mạn dựa vào 1 trong 2 tiêu chuẩn tồn tại kéo dài trên 3 tháng là triệu chứng tổn thương thận và giảm mức lọc cầu thận. Triệu chứng tổn thương thận có biểu hiện 1 hoặc nhiều các biểu hiện sau đây: - Có Albumine nước tiểu (tỷ lệ albumine/creatinine nước tiểu >30mg/g hoặc albumine nước tiểu 24 giờ >30mg/24giờ). - Bất thường cặn lắng nước tiểu: Trong nước tiểu có hồng cầu, bạch cầu, các trụ niệu. - Bất thường điện giải hoặc các bất thường khác do rối lọan chức năng ống thận.
6 - Tổn thương tại nhu mô thận được phát hiện qua sinh thiết thận. - Xét nghiệm hình ảnh học phát hiện thận bất thường: Siêu âm có hình ảnh kích thước thận giảm trong bệnh lý cầu thận mạn. Trường hợp ứ nước bể thận do sỏi có thể thấy nhu mô thận mỏng, đài bể thận giãn. Trường hợp bệnh thận đa nang hoặc bệnh thận do thoái biến dạng bột thấy kích thước thận tăng lên.
- Có tiền sử ghép thận. Mức lọc cầu thận (Glomerular filtration rate - GFR) <60mL/ph/1,73 m2 [14]. MLCT được đánh giá dựa vào MLCT ước tính qua công thức MDRD (Modification of Diet in Renal Disease Study) hoặc mức độ thanh thải creatinine ước tính theo công thức Cockcroft – Gault: - Công thức MDRD ước đoán độ lọc cầu thận (estimated GFR, eGFR) từ creatinine huyết thanh: MLCT ước đoán (mL/ph/1,73 m2 da) = 1,86 × (cre huyết thanh) – 1,154 × (tuổi) – 0,203 Nhân với 0,742 nếu là nữ, nhân với 1,21 nếu là người Mỹ gốc Phi. - Công thức Cockcroft Gault ước đoán độ thanh thải creatinine từ creatinine huyết thanh: ( ) ( ) Độ thanh thải creatinine (mL/ph) = ( ) Nếu là nữ: nhân với 0,85 Diện tích da (m2 da) = [cân nặng (kg) × chiều cao (cm)/3600]1/2 - Trong đó protein niệu kéo dài và liên tục là một trong những dấu ấn thường gặp và quan trọng trong việc xác định tổn thương thận trong thực hành lâm sàng [15].