ĐẶT VẤN ĐỀ Thoái hóa khớp (THK) gối là bệnh lý thường gặp, theo NHANES III có khoảng 35% phụ nữ và đàn ông từ 60 tuổi trở lên có dấu hiệu THK gối trên X-Q 1,2. Tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên ở Châu Á ước tính tăng gấp đôi trong hai thập kỷ tới từ 6,8% năm 2008 lên 16,2% vào năm 2040 và tỷ lệ THK gối ở người Châu Á tăng cao hơn so với người da trắng 3. Ở Việt Nam tỷ lệ đau khớp gối là 18% trong số những người từ 16 tuổi trở lên 1,4. Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị THK gối được áp dụng: thay đổi lối sống, vật lý trị liệu, điều trị bằng thuốc và phẫu thuật…, mỗi phương pháp đều có ưu điểm và khuyết điểm 5-9.
Hiện nay, điều trị bảo tồn thường được áp dụng cho THK gối giai đoạn sớm và trung bình chưa có biến dạng khớp gối 10 và chưa có một biện pháp điều trị bằng thuốc nào có thể làm ngừng sự tiến triển của tình trạng hủy khớp do thoái hóa, trong đó giảm đau được xem là mục tiêu hàng đầu. Y học cổ truyền (YHCT) với các phương pháp điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc đã được chứng minh có hiệu quả trong điều trị THK gối, nhằm khắc phục những nhược điểm, tăng hiệu quả giảm đau, và theo hướng bảo tồn khớp một cách tự nhiên. Trong phương pháp dùng thuốc, bài thuốc Đỗ ngưu bát vị 11 đã được nghiên cứu và chứng minh có hiệu quả trong điều trị THK gối trong hội chứng can thận âm hư. Trong phương pháp không dùng thuốc, cấy chỉ được chứng minh ức chế đau tốt, cải thiện chức năng khớp gối, tác dụng kéo dài nên người bệnh không cần đến điều trị mỗi ngày 9,10,12-28.
Nghiên cứu của Nguyễn Công Minh và cs (2019) cho thấy cấy chỉ trên người bệnh THK gối làm giảm đau khớp 58,05%, giảm cứng khớp 53,8%; chức năng vận động cải thiện 47,55%, và kết quả này cao hơn có ý nghĩa so với phương pháp điện châm 12. Mặc dù các nghiên cứu trước đây chứng minh rằng hiệu quả điều trị tăng lên khi cá thể hóa điều trị theo chẩn đoán hội chứng bệnh theo YHCT. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu về cấy chỉ trong điều trị THK gối vẫn chưa đánh giá hiệu quả trong hội chứng bệnh YHCT cụ thể 29-36. Nghiên cứu của Nguyễn.
2 Thị Kim Yến báo cáo cho thấy trên các người bệnh THK gối, tỷ lệ có hội chứng can thận âm hư chiếm tỷ lệ 48% nhiều hơn so với các hội chứng khác 37. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả giảm đau của phương pháp cấy chỉ catgut phối hợp bài thuốc Đỗ ngưu bát vị trên người bệnh THK gối có hội chứng can thận âm hư. Câu hỏi nghiên cứu được đưa ra là dùng phương pháp cấy chỉ catgut phối hợp bài thuốc Đỗ ngưu bát vị trên người bệnh THK gối có hội chứng can thận âm hư thì tác dụng giảm đau có tốt hơn điện châm phối hợp với bài thuốc Đỗ ngưu bát vị không?. 3 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI MỤC TIÊU TỔNG QUÁT Đánh giá hiệu quả điều trị giảm đau của phương pháp cấy chỉ catgut phối hợp đỗ ngưu bát vị trên người bệnh thoái hoá khớp gối có hội chứng can thận âm hư.
MỤC TIÊU CỤ THỂ 1. So sánh tỷ lệ người bệnh cải thiện thang điểm đau WOMAC từ trên 50% của phương pháp cấy chỉ catgut phối hợp Đỗ ngưu bát vị với điện châm phối hợp Đỗ ngưu bát vị sau 4 tuần điều trị. So sánh tỷ lệ người bệnh cải thiện đạt mức hết đau theo thang điểm VAS của phương pháp cấy chỉ catgut phối hợp Đỗ ngưu bát vị với điện châm phối hợp Đỗ ngưu bát vị sau 4 tuần điều trị. So sánh mức độ cải thiện triệu chứng của hội chứng Can Thận âm hư của phương pháp cấy chỉ catgut phối hợp Đỗ ngưu bát vị so với điện châm phối hợp Đỗ ngưu bát vị sau 4 tuần điều trị.
So sánh mức độ hài lòng của người bệnh đối với phương pháp cấy chỉ catgut phối hợp Đỗ ngưu bát vị hoặc với điện châm phối hợp Đỗ ngưu bát vị sau 4 tuần điều trị. Khảo sát tác dụng không mong muốn (nếu có) của phương pháp cấy chỉ catgut và phương pháp điện châm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thoái hoá khớp gối theo y học hiện đại Thoái hoá khớp (THK) gối là hậu quả của quá trình cơ học và sinh học làm mất cân bằng giữa tổng hợp và huỷ hoại của sụn và xương dưới sụn, dây chằng, các cơ cạnh khớp và màng hoạt dịch, trong đó tế bào sụn khớp là tế bào quan trọng nhất đáp ứng với sự thay đổi trong quá trình THK 5,38,39.
Sự mất cân bằng này được bắt đầu bởi nhiều yếu tố như: gen, phát triển, chuyển hóa, sinh hóa, phân tử và cơ sinh học của tế bào và chất cơ bản của sụn kèm theo các quá trình viêm xảy ra thứ phát, chấn thương. Biểu hiện cuối cùng của THK gối là tổn thương tiến triển chậm tại sụn kèm theo các biến đổi hình thái dẫn đến hiện tượng hẹp khe khớp, tân tạo xương và xơ xương dưới sụn 5,7,40,41. Dịch tễ học Thoái hoá khớp là rối loạn khớp mạn tính phổ biến nhất, chủ yếu xảy ra trong cuộc sống sau này, tiến triển chậm và là nguyên nhân hàng đầu gây đau và tàn phế ở hầu hết các nước trên thế giới 3,41-45. Thoái hoá khớp được đánh giá là nguyên nhân đứng hàng thứ 4 gây tàn tật ở người cao tuổi và phần lớn tổn thương ở các khớp chịu lực như khớp gối hoặc khớp háng 3, là một trong những nguyên nhân chính gây giảm, mất khả năng vận động, làm suy giảm chất lượng sống, ngày càng có xu hướng gia tăng, khoảng 85% phải thay khớp gối và khớp háng do THK 3,46,47.
Tỷ lệ mắc THK dao động từ 12,3% đến 21,6%, thường gặp ở phụ nữ 48,49. Thoái hoá khớp là nguyên nhân chính gây đau cơ xương khớp, ở Châu Âu tỷ lệ đau cơ xương khớp khoảng 30-80% 50. Tình trạng lão hoá dân số nhanh ở Châu Á sẽ gây ra một gánh nặng đáng kể cho bệnh lý cơ xương khớp trong tương lai. Tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên ở Châu Á ước tính tăng gấp đôi trong hai thập kỷ tới từ 6,8% năm 2008 lên 16,2% vào năm 2040 và tỷ lệ THK gối ở người Châu Á tăng cao hơn so với người da trắng 3.
Tỷ lệ mắc phải THK ở khớp bàn tay, khớp háng, khớp gối tăng dần theo tuổi, và phụ nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới, đặc biệt là sau 50 tuổi 41. Ở Mỹ, THK gối ảnh hưởng đến 28% người trưởng thành trên 45 tuổi và 37% người trưởng thành. Ở Trung Quốc người trên 60 tuổi, có tỷ lệ mắc THK gối là 22% ở đàn ông và 43% ở phụ nữ, và tỷ lệ mắc này cao hơn 45% so với người Mỹ da trắng 1,52. Người dân ở vùng nông thôn Nhật Bản, có tỷ lệ mắc THK gối là 30% ở phụ nữ và 11% ở nam giới 1,53.
Ở Việt Nam, một quốc gia có hơn 90 triệu dân, tỷ lệ THK chưa được nghiên cứu nhiều, nhưng tỷ lệ đau khớp gối là 18% trong số những người từ 16 tuổi trở lên 1,4. Nghiên cứu của Đinh Thị Diệu Hằng về thực trạng bệnh THK gối ở tỉnh Hải Dương cho thấy: hơn 2153 người dân trên 40 tuổi có 27,1% đủ tiêu chuẩn chẩn đoán THK gối theo ACR 1991. Các đặc điểm trên X-Q có 78,0% hẹp khe khớp, tỷ lệ gai xương là 65% 54. Nguyễn Thị Ngọc Lan và cs nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của 116 NB THK gối cho kết quả: đau khớp khi hoạt động 80,2%, lạo xạo khớp khi cử động 85,3%, dấu hiệu bào gỗ 74,1%, phì đại xương 51,7%, dị dạng trục chân 37,1%; đặc điểm X-Q khớp gối: 73,3% ở giai đoạn 3, 4 theo Kellgren và Lawrence, gai xương khe đùi chày chiếm 82,7%, gai xương khe đùi chè 74,4%, hẹp khe khớp 73,3% 55.
Tỷ lệ THK gối tăng dần theo tuổi, 30% ở người từ 50-59 tuổi và 61,1% ở người từ 60 tuổi trở lên và thường gặp ở phụ nữ 1,5,41,49. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm: tuổi, giới tính, dân tộc và chủng tộc, bệnh béo phì, di truyền học, dinh dưỡng, loãng xương, hút thuốc lá, chấn thương khớp gối, tiền căn phẫu thuật khớp gối, rối loạn chuyển hoá và rối loạn nội tiết, bệnh khớp gối có viêm, hoạt động nghề nghiệp và hoạt động thể thao 7,41,44,56-58. Phác đồ điều trị THK gối đang được sử dụng gồm kết hợp các phương pháp không dùng thuốc và điều trị dùng thuốc như: giảm đau, thuốc kháng viêm không steroid, tiêm acid hyalorunic, tiêm corticoid tại khớp gối có hiệu quả nhanh chóng nhưng dùng kéo dài có thể gây tổn thương thoái hóa sụn khớp hoặc gây biến chứng 59,60. Nếu điều trị nội khoa không đạt hiệu quả hoặc có biến chứng thì thường kết hợp ngoại khoa trong giải phẫu khớp và thường gây tốn kém nhiều cho NB 7,8.
Tổn thương giải phẫu bệnh khớp gối Khi bị tổn thương thoái hoá, sụn khớp có màu vàng nhạt, mờ đục, khô, mềm, mất tính đàn hồi, mỏng và nứt rạn, có thể xuất hiện những vết loét, tổ chức sụn mất. 6 đi để lộ cả phần xương dưới sụn, nhân nhày của đĩa đệm mất tính chất căng phồng (khi cắt ngang) mà trở nên mềm xẹp 61. Về mặt vi thể thấy tế bào sụn thưa thớt, các sợi collagen gãy, đứt nhiều chỗ, cấu trúc lộn xộn, có những phần xương dưới sụn dầy, xơ hoá lên và có một số hốc nhỏ (do đứt gãy của bè xương) trong chứa chất hoạt dịch, phần rìa xương và sụn mọc gai xương. Những thay đổi giải phẫu bệnh này được thể hiện trên hình ảnh X- Q của THK gối 61.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh 1. Nguyên nhân Sự lão hoá 61: các tế bào sụn với thời gian tích tuổi lâu dần sẽ già, khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi collagen và mucopolysaccharide sẽ giảm sút và rối loạn, chất lượng sụn sẽ kém dần, tính đàn hồi và chịu lực giảm. Yếu tố cơ giới 61: là yếu tố thúc đẩy nhanh quá trình thoái hoá. Yếu tố cơ giới thể hiện ở sự tăng bất thường lực nén trên một đơn vị diện tích của mặt khớp hoặc đĩa đệm, là yếu tố chủ yếu trong thoái hoá khớp thứ phát, gồm: + Các dị dạng bẩm sinh làm thay đổi diện tích tì nén bình thường của khớp và cột sống.
+ Các biến dạng thứ phát sau chấn thương, viêm, khối u, loạn sản hay làm thay đổi hình thái, tương quan của khớp và cột sống.