ĐẶT VẤN ĐỀ Đau dây thần kinh tọa (ĐDTKT) hiện nay là bệnh khá phổ biến ở nước ta và có xu hướng ngày càng gia tăng. Tỷ lệ mắc bệnh ở vùng nông thôn nhiều hơn thành thị, người lao động chân tay nhiều hơn người lao động trí óc, bệnh gặp ở cả hai giới tuy nhiên nam mắc nhiều hơn nữ (3/1), thường gặp ở độ tuổi 30-60 tuổi [26]. Bệnh đau dây thần kinh tọa có triệu chứng chính là tình trạng đau từ thắt lưng lan xuống dưới chân theo đường đi của dây thần kinh. Bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên trong đó chủ yếu là nhóm nguyên nhân tại cột sống thắt lưng.
Bệnh tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng thường kéo dài, gây đau đớn và ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng lao động, học tập và sinh hoạt của người bệnh [31], [47]. Ở Việt Nam theo thống kê của Bệnh Viện Châm cứu Trung ương, số bệnh nhân đau dây thần kinh tọa hàng năm đến viện điều trị chiếm khoảng 50% số bệnh nhân tổn thương dây thần kinh ngoại vi [58]. Theo thống kê của Trần Ngọc Ân và cộng sự thì đau thần kinh tọa chiếm tới 41,45% trong nhóm bệnh thần kinh cột sống và là một trong 15 bệnh cơ xương khớp hay gặp nhất [39]. Theo Y học hiện đại (YHHĐ) điều trị đau thần kinh tọa chủ yếu sử dụng các nhóm thuốc giảm đau, chống viêm không steroid, giãn cơ kết hợp dùng nhiệt, điện xung, sóng ngắn, kéo giãn.
Trong đó điện xung là phương pháp có tác dụng giãn mạch, làm tăng cường tuần hoàn, tăng cường chuyển hóa dinh dưỡng tại chỗ và thư giãn các cơ bị tăng trương lực, từ đó có tác dụng giảm đau đối với các chứng đau mạn tính [42], [46], [59]. Theo Y học cổ truyền (YHCT) đau thần kinh tọa được mô tả trong phạm vi “chứng tý” với các bệnh danh: Tọa cốt phong, Yêu cước thống,…do các nguyên nhân ngoại tà, chấn thương, nội thương gây nên. YHCT sử dụng rất nhiều phương pháp như: Châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, cấy chỉ, thuốc Luan van 2 thang sắc uống [26], [31], [69]….Trong đó châm cứu và xoa bóp bấm huyệt là phương pháp chữa bệnh phổ biến nhất của YHCT, được áp dụng từ lâu, ở nhiều quốc gia trên thế giới và đạt được hiệu quả cao trong điều trị đau thắt lưng. Các phương pháp này không những làm giảm đau nhanh mà còn nhanh chóng khôi phục tầm vận động cột sống, dễ áp dụng, không gây hại cho bệnh nhân [32],[36], [40], [68].
Thực tế lâm sàng điều trị cho thấy việc kết hợp giữa các phương pháp vật lý trị liệu với các phương pháp của YHCT đem lại hiệu quả cao trên lâm sàng. Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu nào đánh giá tác dụng điều trị kết hợp phương pháp xoa bóp bấm huyệt, điện châm của YHCT với điện xung của YHHĐ trong điều trị đau thần kinh tọa trên lâm sàng. Vì vậy, nhằm tận dụng các ưu thế điều trị của YHHĐ và YHCT với mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả điều trị cho bệnh nhân, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả của phương pháp xoa bóp bấm huyệt, điện châm kết hợp với điện xung điều trị đau dây thần kinh tọa” nhằm hai mục tiêu: 1. Đánh giá kết quả trên một số chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng của phương pháp xoa bóp bấm huyệt, điện châm kết hợp điện xung điều trị đau dây thần kinh tọa thể phong hàn thấp kết hợp can thận hư.
Theo dõi tác dụng không mong muốn của phương pháp trên. Luan van 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Quan điểm của Y học hiện đại về đau dây thần kinh tọa Định nghĩa: Đau dây thần kinh tọa biểu hiện đau vùng thắt lưng lan xuống dưới dọc theo đường đi của dây thần kinh, tùy theo vị trí tổn thương của rễ thần kinh mà hướng lan có thể khác nhau. Khi tổn thương rễ L5: thường đau lan xuống mông, về phía sau ngoài đùi, phần trước ngoài cẳng chân, qua trước mắt cá ngoài rồi tới mu chân, tân hết ở ngón chân cái.
Trường hợp tổn thương rễ S1, đau lan xuống mặt sau của đùi, mặt sau cẳng chân, tới mắt cá ngoài, tận hết ở gan chân hoặc bờ ngoài gan chân, phía các ngón chân út [33],[47], [49], [67]. Giải phẫu cột sống thắt lưng và dây thần kinh tọa Cột sống là một cấu trúc hình cong được chia làm nhiều đoạn khác nhau gồm: Đoạn cột sống cổ, đoạn cột sống ngực, đoạn cột sống thắt lưng và đoạn đốt sống cùng cụt. Trong từng đoạn đốt sống lại có nhiều đơn vị chức năng gọi là đơn vị vận động được cấu tạo bởi đốt sống, đĩa đệm, khoảng gian đốt, dây chằng và phần mềm. Đoạn cột sống thắt lưng có năm đốt sống, bốn đĩa đệm (L1-L2; L2-L3; L3-L4; L4-L5) và hai đĩa đệm chuyển đoạn (T12-L1, L5-S1).
Do thường xuyên phải chịu áp lực lớn nên cấu trúc đốt sống ở đoạn này có những đặc điểm khác biệt so với các đoạn khác [1], [32]. Đặc điểm giải phẫu đốt sống thắt lưng. Hình ảnh cấu trúc một đốt sống [1] Mỗi đốt sống gồm các phần chính là thân đốt sống, cung đốt sống, mỏm gai và lỗ đốt sống. Thân đốt sống: Hình trụ dẹt, có hai mặt gian đốt sống và một vành chung quanh.
Thân đốt sống có kích thước tăng dần từ đốt trên đến đốt dưới, phù hợp với sự tăng dần của trọng lượng từng phần của cơ thể và lực tác dụng lên các đốt phía dưới. Cung đốt sống: Gồm hai phần, phần trước dính với thân đốt sống gọi là cuống, phần sau gọi là mảnh đốt sống. Các mỏm đốt sống: Đi từ cung đốt sống ra, mỗi cung đốt sống có mỏm ngang, mỏm diện khớp và mỏm gai. Lỗ đốt sống: Nằm giữa thân đốt sống ở phía trước và cung đốt sống ở phía sau.
Các lỗ đốt sống khi chồng lên nhau tạo thành ống sống [16], [41]. Đặc điểm giải phẫu dây thần kinh tọa [16], [33], [47]. Dây thần kinh tọa (dây thần kinh hông to) là dây thần kinh to và dài nhất cơ thể, xuất phát từ đám rối thắt lưng cùng do các rễ L4,L5,S1,S2,S3 hợp thành, trong đó rễ L5,S1 là chủ yếu. Sau khi các rễ hợp lại thành dây thần kinh hông to để đi ra ngoài ống sống phải qua một khe hẹp gọi là khe gian đốt đĩa đệm – dây chằng.
Khe này có cấu tạo phía trước là thân đốt sống, đĩa đệm, Luan van 5 phía bên là cuống giới hạn lỗ liên hợp, phía sau là dây chằng. Khi các thành phần này bị tổn thương đều có thể gây đau dây thần kinh hông to do chèn ép hoặc dầy dính. Ra khỏi ống xương sống dây thần kinh tọa đi qua phía trước khớp cùng chậu, sau đó nó chạy qua lỗ ngồi lớn của xương chậu để vào mông, ở mông dây thần kinh toạ đi qua phía trước khớp cùng chậu, sau đó nó chạy qua lỗ ngồi lớn của xương chậu để vào mông, đi giữa ụ ngồi và mấu chuyển lớn. Từ đây dây thần kinh toạ chạy theo đường thẳng đến điểm giữa nếp lằn khoeo chân.
Tại trám khoeo dây thần kinh tọa chia làm hai nhánh là dây thần kinh hông khoeo ngoài (thần kinh mác chung) và dây thần kinh hông khoeo trong (thần kinh chầy): + Thần kinh hông khoeo ngoài (thần kinh mác chung): Thần kinh hông khoeo ngoài đi chếch xuống dọc theo gân cơ nhị đầu, tới dưới chỏm xương mác thì vòng ra trước quanh cổ xương mác và tận cùng bằng hai nhánh là thần kinh mác nông và thần kinh mác sâu. Thần kinh mác nông (dây cơ bì) vào khu cẳng chân ngoài xuống mu bàn chân và ngón chân. Thần kinh mác sâu (thần kinh chày trước) chạy vào khu cẳng chân trước qua khớp cổ chân vào mu bàn chân và ngón chân. Thần kinh mác chung chi phối vận động cơ cẳng chân trước ngoài và cơ mu chân, cảm giác một phần mặt sau đùi, mặt trước ngoài cẳng chân, ba ngón rưỡi trước mu chân và một phần phía sau cẳng chân.
+ Thần kinh hông khoeo trong (thần kinh chầy): Thần kinh hông khoeo ngoài tiếp tục đi xuống qua hố khoeo rồi qua khe giữa hai lớp cơ vùng cẳng chân sau và phân nhánh vào tất cả các cơ quan của vùng này. Khi tới dưới mắt cá trong, nó chia thành hai ngành cùng là thần kinh gan chân trong và thần kinh gan chân ngoài. Thần kinh chày chi phối cho các cơ phía sau cẳng chân, cơ gan bàn chân, chi phối phản xạ gân gót, cảm giác vùng bàn chân và một ngón rưỡi phía ngoài mu chân, cảm giác một phần phía sau cẳng chân. Luan van 6 Dây thần kinh hông to chi phối vận động tất cả các cơ ở đùi sau và một phần cơ khép lớn bởi các nhánh bên.
Vận động và cảm giác ở cẳng chân và bàn chân ở các nhánh tận của nó. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh gây đau thần kinh tọa 1. Thoát vị đĩa đệm Theo Castaigne P, thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra đau thần kinh tọa (chiếm 75%) [48]. Cơ chế gây thoát vị đĩa đệm: Tổ chức đĩa đệm phải đảm bảo thích nghi về cơ học lớn, đồng thời nó phải chịu áp lực cao thường xuyên do hầu hết trọng lượng phần trên cơ thể dồn hết vào hai đĩa đệm L4–L5 và L5-S1.
Do đó TVĐĐ hay xảy ra ở vị trí này. Bệnh thường xảy ra sau chấn thương hoặc sau gắng sức hay vận động sai tư thế. Bệnh nhân cúi xuống bê vật nặng, lực ép tập trung phía trước đĩa đệm do hai đốt sống trên và dưới khít lại ở phía trước, hở ra ở phía sau và dồn nhân ra phía sau ép nhân vào vòng sợi. Nếu các vòng sợi mất tính đàn hồi sẽ bị rạn nứt, BN thấy đau chói ở sau lưng và đứng thẳng dậy, lúc này khe gian đốt khép lại ở phía sau, lực ép dồn ra phía sau đĩa đệm làm rách các vòng sợi và đẩy nhân tụt vào ống sống lưng, chèn ép vào rễ L5 hoặc S1 hoặc cả 2 rễ.
Thoát vị đĩa đệm diễn biến qua 2 thời kỳ: Đau thắt lưng cục bộ và đau dây thần kinh hông. Trên lâm sàng biểu hiện bằng 2 hội chứng: Hội chứng cột sống và hội chứng chèn ép rễ. Cận lâm sàng chụp cộng hưởng từ nhìn thấy rõ vị trí và mức độ thoát vị [33], [47], [61], [62]. Các bệnh lý tại cột sống thắt lưng - Thoái hóa cột sống thắt lưng: Thoái hóa CSTL mạn tính thường dẫn đến các tổn thương: loãng xương, nhuyễn xương, mọc gai xương, biến dạng thân đốt sống, cầu gai xương một hay nhiều đốt sống kèm phì đại dây chằng.