ĐẶT VẤN ĐỀ Đau vùng cổ gáy có mã số quốc tế (M54.2) là một chứng bệnh rất phổ biến, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tỉ lệ mắc nhiều hơn ở những người lao động tư thế tĩnh. Đau vùng cổ gáy thường không nguy hiểm, song có thể gây ra cảm giác khó chịu và làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh [4]. Đau vùng cổ gáy do thoái hóa cột sống cổ là bệnh lý cột sống mạn tính, tiến triển chậm, điển hình bởi tổn thương của toàn bộ khớp, bao gồm tổn thương sụn là chủ yếu kèm theo tổn thương xương dưới sụn, dây chằng, các cơ cạnh khớp và màng hoạt dịch. Bệnh thường gặp từ 30 tuổi trở lên và tỷ lệ càng cao ở những năm tiếp theo nhưng hiện nay độ tuổi ngày càng trẻ hóa [1],[3].
Thoái hóa cột sống cổ là bệnh hay gặp đứng thứ hai chiếm khoảng 14% chỉ sau thoái hóa cột sống thắt lưng với 31%. Bệnh tuy không gây nguy hiểm đến tính mạng tuy nhiên ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống cũng như hiệu quả công việc của bệnh nhân, qua đó gây ảnh hưởng đến kinh tế mỗi cá nhân và chi phí điều trị cho bệnh. Theo thống kê, chi phí điều trị cho các bệnh nhân thoái hóa cột sống cổ tại Mỹ lên tới 40 tỷ USD với 151000 bệnh nhân mắc phải, con số này ở Pháp là 6 tỷ France [44],[46],[47]. Tại Việt Nam, đau vùng cổ gáy không những gây khó chịu cho người bệnh, giảm năng suất lao động mà còn làm giảm chất lượng cuộc sống.
Vì vậy, việc điều trị đau vùng cổ gáy hiện nay đang là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều thầy thuốc [16],[18],[21],[35],[38] Y học hiện đại (YHHĐ) có nhiều phương pháp điều trị đau vùng cổ gáy do thoái hóa cột sống nhưng điều trị nội khoa và vật lý trị liệu vẫn là lựa chọn hàng đầu. Một trong số đó là chiếu đèn hồng ngoại. Phương pháp này vừa có tác dụng giảm đau, giãn cơ, vừa có tác dụng tăng tuần hoàn vùng tác động, giảm các triệu chứng viêm và được áp dụng trong trị liệu. 2 Theo Y học cổ truyền (YHCT), đau vùng cổ gáy do thoái hóa cột sống cổ được xếp vào phạm vi chứng tý.
Bệnh do chính khí cơ thể suy yếu, ngoại tà xâm phạm, bế tắc kinh lạc gây đau [17],[22] và được điều trị bằng nhiều phương pháp, cả dùng và không dùng thuốc y học cổ truyền. Trong số các phương pháp YHCT được sử dụng, phương pháp cấy chỉ từ lâu đã khẳng định được những hiệu quả nhất định. Đây được coi là một biện pháp hữu hiệu trong tăng cường chuyển hóa tại vị trí chỉ được chôn, giúp giảm đau tốt. Với xu hướng đa trị liệu nhằm đưa đến hiệu quả tốt nhất cho bệnh nhân, hiện nay, bên cạnh cấy chỉ, xoa bóp bấm huyệt cùng với chiếu đèn hồng ngoại cũng là hai phương pháp phổ biến được áp dụng, bởi những lợi ích điều trị rất rõ ràng.
Xuất phát từ thực tế lâm sàng đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác dụng của phương pháp cấy chỉ kết hợp xoa bóp bấm huyệt và chiếu đèn hồng ngoại điều trị đau vùng cổ gáy do thoái hóa cột sống” với hai mục tiêu: 1. Đánh giá tác dụng của phương pháp cấy chỉ kết hợp xoa bóp bấm huyệt và chiếu đèn hồng ngoại điều trị đau vùng cổ gáy do thoái hóa cột sống. Theo dõi tác dụng không mong muốn của phương pháp điều trị. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Định nghĩa đau vùng cổ gáy Đau vùng cổ gáy là một nhóm các triệu chứng lâm sàng liên quan đến các bệnh lý cột sống cổ có kèm theo các rối loạn chức năng rễ, dây thần kinh cột sống cổ và/hoặc tủy cổ, không liên quan tới bệnh lý viêm. Đau vùng cổ gáy cấp tính hay vẹo cổ cấp: thường xảy ra sau một lao động nặng, mệt mỏi, căng thẳng, lạnh; đau xuất hiện ở vùng gáy một bên, lan lên chẩm, đầu lệch về một bên, khó vận động xoay cổ. Thường khỏi sau vài ngày, dễ tái phát. Đau vùng cổ gáy mạn tính: đau âm ỉ khi tăng khi giảm, lan ít, khó vận động một động tác vì đau, đôi khi thấy lạo xạo khi quay cổ [1],[23],[27].
Giải phẫu cột sống cổ [5],[30] Cột sống cổ (CSC) là đoạn nối giữa lỗ chẩm tới cột sống lưng, là trụ cột để giữ và vận động đầu. Cột sống cổ bao gồm 7 đốt sống từ C1 đến C7, 5 đĩa đệm và 1 đĩa đệm chuyển đoạn giữa C7 và D1, giữa đốt sống C1 và C2 không có đĩa đệm. Cột sống cổ được chia làm 2 vùng: CSC trên bao gồm C1-C2 và CSC dưới bao gồm C3-C7, hai vùng này có cấu trúc khác nhau do đó khả năng chịu lực và vận động rất khác nhau. Cột sống cổ cong ra trước, di động nhiều nên dễ bị tổn thương, các mỏm khớp hơi nghiêng nên dễ bị tổn thương.
Mỗi đốt sống gồm 2 phần: Thân đốt sống ở phía trước, cung đốt sống ở phía sau. Thân đốt sống có đường kính ngang dài hơn đường kính trước sau. Mỗi cung đốt sống gồm 2 cuống cung nối 2 mảnh cung đốt sống vào thân đốt sống, có một mỏm gai, hai mỏm ngang, bốn mỏm khớp (2 mỏm khớp trên và 2 mỏm khớp dưới) 4 Khớp đốt sống tạo nên bởi các mấu sống trên và mấu sống dưới của hai thân đốt kế cận. Khớp này có diện khớp thực thụ, có bao hoạt dịch, có chất synovial bôi trơn trong khớp.
Khớp mỏm móc-đốt sống (khớp Luschka): chỉ duy nhất ở cột sống cổ mới có. Mỗi thân đốt sống có 2 mấu bán nguyệt ở góc trên ngoài, hợp với 2 góc dưới ngoài của thân đốt trên để tạo nên 2 khớp bán nguyệt ở mỗi khe gian đốt Đốt sống cổ C1 (còn được gọi là đốt đội): Không có thân đốt, chỉ gồm hai cung trước và sau nối với nhau bằng hau khối bên làm điểm tựa cho sọ, trong đó cung sau khá mỏng là điểm yếu khi có chấn thương. Lỗ đốt sống C1 rất rộng và có dây chằng đi ngang qua chia làm 2 phần không đều nhau, phần trước nhỏ hơn có mỏm rang, phần sau rộng có chứa tủy sống. Đốt sống cổ C2 (còn được gọi là đốt trục): Có thân đốt nhưng có thêm cấu trúc mỏm nha dính liền vào thân đốt có nhiệm vụ làm trục tựa để C1 có thể quay quanh mỏm nha này làm cho cổ có biên độ xoay rất rộng.
Các đốt sống cổ dưới từ C3-C7: Đốt sống có hình trụ ngắn, chiều rộng lớn hơn chiều cao, đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau, bề mặt thân đốt hình bầu dục. Bám vào thân đốt sống là các cấu trúc mỏm ngang có lỗ cho động mạch đốt sống đi qua, và cuống sống cho tủy sống đi qua, trong đó lỗ sống có hình tam giác đỉnh ở phần gai sống. Các gai sống dài dần từ trên xuống dưới và dài nhất ở đốt sống C7. Chức năng cột sống cổ [6],[25],[30] Cột sống cổ cùng với đầu, mắt, thân mình đồng thời tham gia phối hợp vào quá trình vận động của cơ thể, định hướng không gian và điều khiển tư thế.
Trong quá trình này cột sống cổ có ba chức năng chính: 5 - Chức năng vận động: Do có cấu trúc mỏm nha đặc thù cùng với việc khớp đốt sống có góc nghiêng phù hợp giúp cho cột sống cổ có tầm vận động linh hoạt hơn vùng cột sống lưng và thắt lưng. Các động tác vận động của cột sống cổ [7] - Chức năng chịu tải trọng: Cột sống cổ có đặc điểm các thân đốt nhỏ, đĩa đệm cột sống không chiếm hết bề mặt đốt sống vì vậy tải trọng tác dụng lên đĩa đệm cột sống cổ lớn hơn các vùng khác của cột sống. Trong các đĩa đệm thì C2-3 và C5-6 chịu tải trọng lớn nhất, do đó chấn thương và thoái hóa hay gặp ở những đĩa đệm này. - Chức năng bảo vệ tủy: Bảo vệ cho phần tủy sống chạy trong ống sống bằng hệ thống đĩa đệm và dây chằng.
Nguyên nhân bệnh vùng cổ gáy [1],[25],[27],[31] 1. Nguyên nhân cơ học Sinh hoạt sai tư thế như: nằm ngủ gối đầu cao, dựa đầu vào ghế, nằm nghiêng và co quắp….sẽ ảnh hưởng đến quá trình cung cấp oxy cho các tế bào cơ. Khi cơ không được cung cấp đủ lượng máu cần thiết thì vùng cổ, gáy dễ bị đau nhức và cứng. Ngồi lâu trước quạt, máy lạnh; thói quen tắm đêm; dầm mưa dãi nắng thường xuyên sẽ làm rối loạn hệ mạch, thần kinh điều khiển việc cung cấp dưỡng chất cho các bó cơ vùng cổ gáy.
Làm việc quá sức hoặc tư thế hoạt động khiến cơ bị kéo căng quá lâu gây mất cân bằng vi chất trong cơ. Chấn thương phần mềm vùng cổ gáy, chấn thương cột sống cổ. Rối loạn chức năng thần kinh Các dây thần kinh vùng cổ gáy bị kéo dãn, hoặc kéo căng quá mức có thể gây ra sự rối loạn chức năng dây thần kinh khu vực này. Đây cũng là nguyên nhân thường gặp gây ra các cơn đau mỏi cổ gáy.
Bệnh lý xương khớp Các tổn thương xương khớp như thoái hóa đốt sống cổ, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, trượt đốt sống cổ, loãng xương, dị tật bẩm sinh cột sống, viêm,… Nếu không điều trị, lâu dần người bệnh có thể bị mất chức năng hoạt động. Sự lão hóa Do quá trình lão hóa tự nhiên nên hệ mạch máu, cơ, dây chằng vùng cổ gáy bị giảm tính dẻo dai, đàn hồi khiến việc lưu thông máu và trao đổi ô-xy ở đây suy giảm, từ đó gây ra đau mỏi, hạn chế vận động cổ [2],[6],[19],[31]. Tổng quan thoái hóa cột sống cổ Thoái hóa khớp hay còn gọi là hư khớp là những bệnh của khớp và cột sống mạn tính đặc trưng bởi tình trạng thoái hóa của sụn khớp và đĩa đệm cùng với sự thay đổi của xương dưới sụn và màng hoạt dịch mà không liên quan đến tình trạng viêm [2]. Nguyên nhân gây thoái hóa cột sống cổ Có hai nguyên nhân chính được xác định là ảnh hưởng chủ yếu đến quá trình thoái hóa cột sống cổ [2],[25],[27]: - Sự lão hóa: liên quan nhiều đến tuổi tác, các tế bào sụn và đĩa đệm giảm tổng hợp sợi collagen và mucopolysacaride vốn là hai thành phần tham gia quá trình đàn hồi và hấp thụ lực.
Quá trình hủy tế bào diễn ra nhanh hơn quá trình sản sinh và tái tạo dẫn đến mất tế bào sụn và đĩa đệm.