ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm quanh khớp vai là một bệnh khớp gặp khá phổ biến ở nước ta. Bệnh có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, nhưng biểu hiện trên lâm sàng thường là đau và hạn chế vận động khớp vai, các triệu chứng này gây ảnh hưởng nhiều đến lao động và sinh hoạt của người bệnh. Tổn thương của bệnh viêm quanh khớp vai là tổn thương ở phần mềm quanh khớp mà chủ yếu là gân, cơ, dây chằng và bao khớp. VQKV tuy không ảnh hưởng đến sinh mạng của người bệnh nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến lao động và sinh hoạt của bệnh nhân.
Bệnh thường diễn biến kéo dài t 6 tháng đến vài năm. Nếu không được điều trị đúng và đầy đủ ngay t đầu, có thể để lại di chứng như teo cơ, giảm trương lực cơ, hạn chế cử động của vai và bàn tay, …ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày. Tỷ lệ tái phát sau điều trị khỏi khoảng 20% [1]. Điều trị VQKV thường bằng nội khoa, chủ yếu sử dụng thuốc kháng viêm, giảm đau (nonsteroid, corticoid, ), giãn cơ.
Tuy nhiên chưa có bằng chứng rõ ràng về hiệu quả lâu dài cũng như chưa có phác đồ cụ thể được khuyến cáo [3]. Hơn nữa các thuốc này thường có các tác dụng phụ loãng xương, loét dạ dày, tổn thương gan, thận… [7]. Do đó, việc tìm ra phương pháp đơn giản, hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân là một vấn đề cần đặt ra. Tại Mỹ có 80% dân số trong đời ít nhất một lần bị viêm quanh khớp vai [5].
Theo y học cổ truyền, bệnh VQKV thuộc phạm vi chứng kiên tý,người xưa đã có nhiều phương pháp khác nhau như: châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, dùng thuốc sắc uống. Thực tế lâm sàng cho thấy phối hợp các phương pháp điều trị thì hiệu quả sẽ khả quan hơn nhiều. 2 Tại Việt Nam, các tác giả nghiên cứu phương pháp điều trị viêm quanh khớp vai bằng xoa bóp bấm huyệt YHCT, bằng châm loa tai, bằng điện châm, xoa bóp kết hợp vận động trị liệu, bằng vật lí trị liệu phục hồi chức năng đơn thuần …. Hiện nay Cấy chỉ là một phương pháp châm đặc biệt; là phương pháp đưa một đoạn chỉ catgut (protein) trong y khoa chôn sâu ở đúng vị trí huyệt vị cần châmcủa hệ kinh lạc nhằm đạt hai yêu cầu cơ bản là tạo cường độ kích thích cần thiết, với thời gian tương đối dài, kích thích cơ thể tạo kháng thể đủ sức chống lại có hiệu quả với bệnh tật [14].
Phương pháp này có xuất sứ tại Trung Quốc và đã được nghiên cứu, ứng dụng tại Việt Nam t những năm 70 của thế kỷ 20, có tác dụng điều trị tốt với nhiều bệnh mạn tính như: Hen phế quản, viêm lo t dạ dày tá tràng, viêm mũi dị ứng, thoái hóa khớp gối, di chứng vận động sau tai biến.Trên thực tế điều trị lâm sàng, chúng tôi nhận thấy phương pháp cấy chỉ kết hợp xoa bóp bấm huyệt vùng vai, đã được sử dụng nhiều trên lâm sàng và có hiệu quả tốt trong điều trị VQKV. Tuy nhiên, chưa có tác giả nào nghiên cứu phương pháp điều trị viêm quanh khớp vai bằng phương pháp cấy chỉ catgut kết hợp xoa bóp bấm huyệt. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu "Đánh giá tác dụng điều trị tổn thương vai bằng phương pháp cấy chỉ catgut kết hợp xoa bóp bấm huyệt”nhằm mục tiêu: 1. Đánh giá tác dụng điều trị tổn thương vai thể viêm quanh khớp vai đơn thuần bằng phương pháp cấy chỉ kết hợp xoa bóp bấm huyệt trên một số chỉ tiêu lâm sàng.
Theo dõi tác dụng không mong muốn của phương pháp kết hợp này 3 C ƣơn 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. G ả p ẫu ứ năn pv Khớp vai là khớp linh hoạt của cơ thể, nhưng cũng dễ bị tổn thương nhất vì bao khớp mỏng, lỏng lẻo, dây chằng không đủ chắc và cũng do động tác của khớp đa dạng, biên độ lớn gồm các động tác của cánh tay (ra trước, ra sau, lên trên, vào trong, ra ngoài, xoay tròn) và động tác của riêng vai (lên trên, ra trước, ra sau) [1], [3], [10], [12], [13]. Có được nhiều động tác như vậy là do khớp vai có cấu tạo rất phức tạp với sự tham gia của nhiều xương, khớp, gân, cơ, dây chằng [13], [14]. Chỏm xương cánh tay 2.
Mỏm cùng vai 5. Xương bả vai Hình 1. Cấu tạo của khớp vai, phần xương khớp * Khớp vai được cấu tạo bởi 3 xương (Xương bả vai, Xương đòn, chỏm xương cánh tay) và 5 khớp sau [1], [3], [15], [17], [18]. + Khớp giữa ổ chảo xương bả vai và chỏm xương cánh tay.
Đây là khớp lớn nhất và quan trọng nhất. 4 + Khớp giữa mỏm cùng vai và chỏm xương cánh tay: Khớp này bao gồm cả bao thanh mạc dưới mỏm cùng vai và bao thanh mạc dưới cơ delta. + Khớp giữa xương bả vai và lồng ngực. + Khớp cùng vai đòn: Khớp giữa mỏm cùng vai và đầu ngoài xương đòn.
+ Khớp ức đòn: Khớp giữa xương ức và đầu trong xương đòn. * Động tác: Khớp vai có thể quay 3 trục thẳng góc với nhau nên động tác rất rộng rãi [19]: + Quanh trục trước - sau: Dạng 180O, khép 0O (Tầm 180O) + Quanh trục ngang: Gập trước 180O, duỗi sau 45O (Tầm 225O). + Quanh trục thẳng đứng: Xoay trong 70O, xoay ngoài 90O (Tầm 160O). Động tác xoay vòng là kết quả phối hợp của các động tác quanh ba trục trên.
Phần mềm * Bao khớp: Bao khớp rất mỏng và có kích thước lớn, ở trên bám vào xung quanh sụn viền (gờ ổ chảo), ở dưới bám quanh đầu trên xương cánh tay: nửa trên ở cổ giải phẫu, nửa dưới ở cổ phẫu thuật, cách sụn khớp độ 1 cm. * Dây chằng: + Dây chằng ổ chảo - cánh tay: Đi t ổ chảo đến đầu trên xương cánh tay, gồm 3 dây: dây trên, dây giữa và dây dưới. + Dây chằng cùng quạ: Đi t mỏm cùng vai tới mỏm quạ. + Dây chằng quạ - đòn: Đi t mỏm quạ tới xương đòn.
+ Dây chằng quạ - cánh tay: Đi t mỏm quạ tới đầu trên xương cánh tay, có 2 chẽ chắc và khoẻ. Khớp cùng vai đòn 3. Khớp ức đòn Hình 1. Các khớp liên quan hoạt động của khớp vai và hệ thống dây chằng * Cơ, gân (hình 1.3): Các cơ quanh khớp như một tấm khăn bằng gân phủ chùm lên xương cánh tay, có chức năng cố định đầu trên xương cánh tay, hướng tâm chỏm xương cánh tay với ổ chảo.
+ Cơ delta: Nâng vai, dạng cánh tay, xoay cánh tay vào trong hay ra ngoài. + Cơ ngực to, cơ lưng to, cơ tròn to: Đi t ngực hoặc lưng tới hai mép của rãnh cơ nhị đầu xương cánh tay. Động tác: Kh p và xoay trong cánh tay. Cơ nhị đầu: Gồm 2 bó, bó ngắn đi t mỏm quạ xương bả vai, bó dài đi t diện trên ổ chảo chui qua rãnh nhị đầu cùng với bó ngắn bám tận vào lồi củ xương quay.
Động tác: Gấp cẳng tay vào cánh tay. Cơ trên gai, cơ dưới gai, cơ tròn nhỏ đi t hố trên gai, hố dưới gai, cạnh ngoài xương bả vai tới mấu động lớn: Động tác: Dạng và xoay cánh tay ra ngoài. Cơ dưới vai: Đi t mặt trước xương bả vai tới mấu động nhỏ xương cánh tay. Động tác: Xoay cánh tay vào trong.
Gân của 4 cơ này (cơ trên gai, cơ dưới gai, cơ tròn nhỏ, cơ dưới vai) hợp thành chụp của các cơ xoay (Rotator Cuff) bao bọc chỏm xương cánh tay, đây là phần hay bị tổn thương nhất.Nhóm gân mũ cơ quay 2. Mỏm cùng vai 3. Cơ nhị đầu cánh tay 6. Xương cánh tay 7.
Cơ dưới vai Hình 1.Cấu tạo gân cơ quay và các cơ tham gia vào hoạt động của khớp vai * Hệ thống bao thanh mạc dưới mỏm cùng vai (hình 1.4): Gồm có bao thanh mạc dưới mỏm cùng và bao thanh mạc dưới cơ delta, nằm giữa cơ delta và chụp các cơ xoay, hệ thống này giúp cho sự vận động của các cơ xoay, trong khi đó ở phía trên nó dính lỏng lẻo vào cơ delta. Do đó, khi bao thanh mạc bị tổn thương sẽ làm hạn chế vận động của khớp vai. Vì thế bao thanh mạc này được gọi là "khớp phụ" dưới mỏm cùng [1], [15]. Bao thanh dịch dưới mỏm cùng 2.
Bao khớp vai 3. Dây chằng mỏm quạ - cùng vai 4. Sụn viền ổ khớp 5. Bao khớp và nếp bao hoạt dịch 7.
Bao thanh dịch dưới cơ delta 10. Gân nhị đầu 11. Dây chằng ngang cánh tay Hình 1. Các thành phần liên quan khớp vai qua diện cắt đứng [15],[16] 7 * Mạch máu thần kinh: Các thành phần của khớp vai được nuôi dư ng bởi các ngành bên và ngành tận của bó mạch - thần kinh cánh tay.
Ngoài ra, vùng khớp vai còn liên quan đến các rễ thần kinh của vùng cổ và phần trên của lưng, liên quan đến các hạch giao cảm cổ, ở đây có những đường phản xạ ngắn, vì vậy khi có một tổn thương gây kích thích ở vùng đốt sống cổ, vùng trung thất, lồng ngực đều có thể gây nên các dấu hiệu ở vùng khớp vai [1]. á n ệm v êm qu n pv Năm 1872 lần đầu tiên Duplay dùng danh t viêm quanh khớp vai để chỉ các trường hợp đau và đông cứng khớp vai. T 1981, Weling và các tác giả đều thống nhất rằng: Viêm quanh khớp vai là một thuật ngữ để chỉ tất cả những trường hợp đau và hạn chế vận động của khớp vai mà tổn thương là ở phần mềm quanh khớp, chủ yếu là gân, cơ, dây chằng, bao khớp. Viêm quanh khớp vai không bao gồm những bệnh có tổn thương đặc thù của đầu xương, sụn khớp, màng hoạt dịch như viêm khớp, chấn thương [1], [3].
Thuật ngữ này mô tả một cách toàn thể chứ không phải chẩn đoán đặc hiệu và nó cũng không nói lên cụ thể vị trí tổn thương cũng như là mức độ của bệnh. Cơ bện s n v êm qu n pv Tổn thương hay gặp nhất trong viêm quanh khớp vai là tổn thương của gân của các cơ xoay, bó dài gân cơ nhị đầu, bao thanh mạc dưới mỏm cùng [3], [14]. Gân là tổ chức có tính chất đặc biệt về quá trình dinh dư ng và chuyển hoá. Những mạch máu đi t cơ, xương, tổ chức quanh gân chỉ đi tới lớp ngoài cùng của bó gân thứ hai.
Do vậy bó gân thứ nhất, các tế bào xơ, sợi Collagen được coi là tổ chức dinh dư ng hoàn toàn bằng con đường thẩm thấu. Vì thế gân được coi là tổ chức dinh dư ng chậm. Các gân ở xung quanh khớp vai có thể bị tổn thương do những nguyên nhân sau [1], [13]: 8 a.