Đánh giá hiệu quả của phương pháp nhĩ châm trong giảm đau sau phẫu thuật răng khôn hàm dưới

Luận án phân tích hiệu quả của phương pháp nhĩ châm trong giảm đau sau phẫu thuật răng khôn hàm dưới, cung cấp thông tin hữu ích cho y học.

Chuyên ngành

Y Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

134
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Các vấn đề liên quan răng khôn ở người theo Y học hiện đại

1.2. Các vấn đề liên quan răng khôn ở người theo Y học cổ truyền

1.3. Liệu pháp loa tai

1.4. Các công trình nghiên cứu liên quan

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Giai đoạn 1: Xác định các vùng giảm cảm giác đau ngoài da ở đầu mặt (theo khoanh tủy và vùng da của các nhánh V1, V2, V3)

2.2. Giai đoạn 2: Xác định hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới bằng phương pháp nhĩ châm

2.3. Vấn đề y đức trong nghiên cứu và tính an toàn của phương pháp

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Mục tiêu 1: Xác định các vùng giảm cảm giác đau ngoài da ở đầu mặt khi nhĩ châm

3.2. Mục tiêu 2: Đánh giá tác dụng đau sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới của phương pháp nhĩ châm

3.3. Mục tiêu 3: Xác định tác dụng không mong muốn (nếu có) của phương pháp nhĩ châm

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Bàn luận về các vùng giảm cảm giác đau ngoài da ở đầu mặt khi nhĩ châm

4.2. Bàn luận về tác dụng đau sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới của phương pháp nhĩ châm

4.3. Bàn luận về tác dụng không mong muốn của phương pháp nhĩ châm

4.4. Ưu điểm của đề tài

4.5. Hạn chế của đề tài

4.6. Tính mới và ứng dụng

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đặt Vấn Đề

Phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới là một trong những can thiệp phổ biến trong nha khoa. Tuy nhiên, đau sau phẫu thuật là một vấn đề thường gặp, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Việc sử dụng thuốc giảm đau như NSAID và paracetamol có thể gây ra tác dụng phụ không mong muốn. Do đó, việc tìm kiếm các phương pháp giảm đau không dùng thuốc là cần thiết. Nhĩ châm đã được chứng minh là một phương pháp hiệu quả trong việc giảm đau, đặc biệt là trong các trường hợp đau do phẫu thuật. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của nhĩ châm trong việc giảm đau sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới.

II. Tổng Quan Về Răng Khôn

Răng khôn, hay còn gọi là răng cối lớn thứ ba, có tần suất mọc ngầm cao. Theo thống kê, khoảng 95% răng khôn mọc ngầm, trong đó răng khôn hàm dưới chiếm 82,5%. Việc nhổ răng khôn là cần thiết để tránh các biến chứng như viêm lợi trùm, sâu răng và các tổn thương mô mềm xung quanh. Chẩn đoán và chỉ định phẫu thuật dựa vào phim X-quang và triệu chứng lâm sàng. Việc nhổ răng khôn cần được thực hiện cẩn thận để hạn chế các tai biến có thể xảy ra. Đau sau phẫu thuật là một trong những vấn đề chính mà người bệnh gặp phải, do đó việc tìm kiếm phương pháp giảm đau hiệu quả là rất quan trọng.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên xác định các vùng giảm cảm giác đau ngoài da ở đầu mặt khi thực hiện nhĩ châm. Giai đoạn thứ hai đánh giá hiệu quả của nhĩ châm trong việc giảm đau sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới. Các huyệt được chọn bao gồm Nhĩ Thần môn, Giao cảm, Răng, Hàm và Thượng thận. Đánh giá hiệu quả giảm đau được thực hiện thông qua sự thay đổi điểm VAS và nhu cầu sử dụng paracetamol. Nghiên cứu cũng xem xét các tác dụng không mong muốn của phương pháp này.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả cho thấy nhĩ châm có tác dụng giảm đau rõ rệt sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới. Sự thay đổi điểm VAS cho thấy người bệnh cảm thấy ít đau hơn sau khi thực hiện nhĩ châm. Ngoài ra, nhu cầu sử dụng paracetamol cũng giảm đáng kể. Các tác dụng không mong muốn của phương pháp này rất ít và không đáng kể, cho thấy nhĩ châm là một phương pháp an toàn và hiệu quả trong việc giảm đau sau phẫu thuật. Kết quả này mở ra hướng đi mới trong việc điều trị đau sau phẫu thuật mà không cần sử dụng thuốc giảm đau có tác dụng phụ.

V. Bàn Luận

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhĩ châm không chỉ giúp giảm đau mà còn an toàn cho người bệnh. Việc áp dụng phương pháp này trong thực hành lâm sàng có thể giúp giảm thiểu việc sử dụng thuốc giảm đau, từ đó hạn chế các tác dụng phụ không mong muốn. Nhĩ châm có thể được coi là một phương pháp bổ sung hiệu quả trong điều trị đau sau phẫu thuật. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu để khẳng định tính hiệu quả và an toàn của phương pháp này trong các trường hợp khác nhau. Việc áp dụng nhĩ châm trong điều trị đau sau phẫu thuật cần được khuyến khích và phát triển hơn nữa.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. Các vấn đề liên quan răng khôn ở người theo Y học hiện đại 1. Tổng quan về răng khôn Răng khôn chính là răng cối lớn thứ ba, là răng có tần suất mọc ngầm, mọc kẹt cao nhất, chiếm đến khoảng 95% tổng số lượng răng mọc ngầm, cụ thể: - Răng khôn hàm dưới: chiếm 82,5% tổng số răng mọc ngầm1. - Răng khôm hàm trên: chiếm 15,6% tổng số răng mọc ngầm1.

Trong tổng số răng khôn hàm dưới thì có đến hơn 50% răng khôn gây ra các tổn thương mô mềm xung quanh nó1. Một số biến chứng thường gặp của răng khôn mọc kẹt hoặc ngầm là4,25: Bệnh nha chu, sâu răng, viêm quanh thân răng (viêm lợi trùm), tiêu chân răng, u và nang, gãy xương hàm bệnh lý, răng hàm dưới mọc chen chúc. Chẩn đoán, phân loại, chỉ định, chống chỉ định phẫu thuật nhổ răng khôn 1. Chẩn đoán, phân loại Chẩn đoán răng khôn mọc kẹt hoặc ngầm chủ yếu dựa vào phim X-quang.

Nhiều trường hợp gợi ý chẩn đoán trên lâm sàng bằng các triệu chứng cơ năng (khi mà người bệnh đã có biểu hiện tổn thương xung quanh) và triệu chứng thực thể dựa trên thăm khám bất thường hoặc tầm soát25. X-quang là cần thiết để xác nhận bất kỳ tình trạng liên quan đến răng khôn và hỗ trợ trong việc phát triển chiến lược điều trị hiệu quả nhất. Hình ảnh X-quang cần cung cấp thông tin về răng khôn ảnh hưởng, răng lân cận, xương xung quanh và cấu trúc cơ bản gần đó. Các hình ảnh X-quang hai chiều thông thường thường được sử dụng như phim răng cánh cắn, phim quanh chóp, phim cắn, phim toàn cảnh26.

Răng khôn thường hay mọc kẹt, mọc ngầm. Mọc kẹt là tình trạng răng thiếu chỗ để mọc lên đâm khỏi nướu, răng mọc nghiêng, xiêu vẹo hoặc thậm chí mọc nằm ngang. Trong khi đó, mọc ngầm là răng mọc bị kẹt trong xương hàm hoặc không thể xuyên qua nướu nhô ra ngoài3. 4 Khi răng khôn mọc kẹt hay mọc ngầm trong xương hàm, nhổ răng bằng phương pháp thông thường có thể xảy ra các tai biến như: gãy chân răng, chấn thương răng bên cạnh, vỡ xương ổ răng, thủng xoang hàm.

Đối với các trường hợp này, nên sử dụng phương pháp phẫu thuật thay cho việc nhổ răng bằng phương pháp thông thường để lấy răng mọc kẹt hoặc ngầm sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn và hạn chế tối thiểu các tai biến nêu trên3. Chỉ định - Phòng ngừa các biến chứng như viêm nướu trùm, viêm nhiễm tại chỗ, sâu răng bên cạnh, u, nang thân răng, rối loạn cảm giác và phản xạ,…25,27,28 - Răng mọc kẹt, mọc ngầm.25,27,28 - Nhổ theo yêu cầu của phục hình, chỉnh hình răng mặt, tai mũi họng,…25,27,28 - Có dấu hiệu bệnh lý trên lâm sàng hoặc phát hiện qua phim X quang: viêm quanh thân răng, nang thân răng, sâu răng kế bên,…25,27,28 1. Chống chỉ định Tuổi: ở người bệnh trên 35 tuổi, độ mềm dẻo của xương giảm, nếu nhổ phải mở nhiều xương hơn, do đó không nhổ răng khôn trên đối tượng này nếu răng ngầm hoàn toàn trong xương và không có dấu hiệu bệnh lý. Tình trạng bệnh toàn thân: người bệnh có bệnh lý như tim mạch, hô hấp, suy giảm miễn dịch, rối loạn đông máu; nếu không có triệu chứng gì thì không nên nhổ răng; nếu cần thiết phải nhổ thì phẫu thuật viên cần hội chẩn với các bác sĩ chuyên khoa, can thiệp tối thiểu và chăm sóc sau phẫu thuật.

Người bệnh có nguy cơ tổn thương nghiêm trọng cấu trúc lân cận như: thần kinh, răng kế cận, phục hình bên trên25,27,28. Đau sau phẫu thuật nhổ răng khôn Đường dẫn truyền đau cơ bản chung của cơ thể có thể được tóm lược như sau: các đầu tận dây thần kinh ngoại biên cảm thụ kích thích đau sau đó dẫn truyền tới sừng sau tủy sống rồi dẫn truyền tới hành não, cầu não, đồi não rồi cuối cùng là đến vỏ đại não. Tại vỏ đại não các xung thần kinh được phân tích và cho cảm nhận cảm giác đau, rồi từ vỏ não dẫn ngược về đồi thị rồi cho phản ứng lại đau27,29,30. Vùng răng hàm mặt cũng được dẫn truyền tương tự quy tắc chung nêu trên bởi dây thần kinh V (dây thần kinh sinh ba), gồm các nhánh: nhánh V1 (nhánh mắt), nhánh V2 (nhánh hàm trên), nhánh V3 (nhánh hàm dưới).

Các nhánh này nhận kích thích từ đầu tận cùng sợi thần kinh và truyền về bán cầu đại não qua ba chặng sau đây: Hình 1. Phân bố thần kinh vùng mặt Nguồn: Nandhaa Pazhaniappan, 2020 31 Chặng thứ nhất: các kích thích từ răng, xương, niêm mạc, cơ được tiếp nhận bởi đầu tận của các nhánh thần kinh V và được truyền về hạch Gasser (còn gọi là hạch bán nguyệt) sau đó dẫn đến cầu não. Tại cầu não có các hạch nhận cảm giác chính và các sợi tận cùng, các sợi này có sợi tách đôi hình thành bó sợi hướng lên và bó sợi hướng xuống. Bó sợi hướng lên (thường dẫn truyền cảm giác xúc giác): dẫn xung thần kinh lên đồi não.

Bó sợi hướng xuống (thường dẫn truyền cảm giác đau, nhiệt): đi đến hành tủy ngang mức đốt sống cổ số 2. Các tế bào A delta và sợi cảm thụ đau 6 C sẽ được kích hoạt và đi vào hệ thống thần kinh trung ương và nhân đuôi xinap của dây V khi có các kích thích ngoại vi, trong trường hợp này là vùng răng hàm mặt27,29,30. Chặng thứ hai: xung dẫn truyền từ hành tủy tới đồi não. Các bó sợi hướng xuống dẫn truyền xung thần kinh cảm giác đau đến hành tủy ngang mức đốt sống cổ số 2 tại sừng trước tủy sống.

Tại sừng trước tủy sống các nhánh trụ của tế bào thần kinh xuất phát từ hạch gai dẫn dẫn truyền xung thần kinh theo con đường bắt chéo ở tủy sống qua đường giữa, sau đó tiếp tục hướng lên để tiếp nối với các sợi hạch của não giữa tạo thành bó gai – đồi não của dây thần kinh V. Các bó này dẫn truyền đi lên và tận cùng ở vùng hạch thân sau đồi não. Tại đây một số sợi của bó gai - đồi não bên giúp gia tăng sự nhận biết kích thích đau và phản ứng lại đau bằng cách gây kích thích ở thể lưới27,29,30. Chặng thứ ba: xung dẫn truyền từ đồi não tới vỏ đại não.

Tại vỏ não các tế bào thần kinh cảm giác sẽ phân tích xung dẫn truyền và cho ra nhận biết cảm giác đau; từ đó có các sợi thần kinh dẫn ngược xuống đồi não góp phần vào phản ứng đau27,29,30. Trong suốt quá trình dẫn truyền xung thần kinh đau có sự hình thành hệ thống ức chế đau nội sinh. Trong nhân đuôi có mối liên quan chức năng của nhiều chất dẫn truyền cảm giác đau tại xinap đầu tiên. Sự hoạt hóa ngoại vi tế bào A delta và các sợi cảm thụ đau C sẽ kích thích sự phóng luồng thần kinh trong nhân đuôi (thân tế bào đệm) và thể xám quanh cống não (thể xám còn nhận thêm những thông tin từ những vùng khác).

Lúc này cống não sẽ tác động lại nhân vách lớn và nhân lục. Nhân vách lớn sẽ tiết serotonin (5-HT) và một số chất dẫn truyền khác, nhân lục tiết norepinephine sau đó dẫn truyền chúng thông qua các sợi thần kinh đến xinap đầu tiên trong nhân đuôi làm ức chế sự dẫn truyền cảm giác đau. Những tế bào thần kinh tiết các chất peptid opioid nội sinh thì có ở cả ba cấp độ trong hệ thống dẫn truyền này27,29,30. Cơ chế dẫn truyền: khi có kích thích, các tế bào thần kinh sẽ tiếp nhận kích thích, tạo xung và dẫn truyền xung kích thích đó.

Có hai cơ chế dẫn truyền xung thần kinh đó là cơ chế dẫn truyền dọc sợi thần kinh và qua xinap do cơ chế điện hóa học27,29,30: 7 Cơ chế dẫn xung qua sợi thần kinh: màng tế bào thần kinh đóng vai trò chủ chốt trong cơ chế dẫn truyền này, chúng là màng kép lipid bọc giữa lớp protein, trên bề mặt các nhiều lỗ và các kênh giúp trao đổi ion tạo ra các xung dẫn truyền. Về mô học, có sợi thần kinh có hoặc không có vỏ bao myêlin, chia sợi thần kinh thành nhiều khoảng Ranvier. Cơ chế dẫn truyền được tóm tắt như sau: o Trạng thái nghỉ: màng tế bào phân cực, điện thế màng là điện thế nghỉ. o Tình trạng nghỉ: màng tế bào tái phân cực, điện thế màng duy trì điện thế nghỉ.

o Khi có một kích thích: màng tế bào bị khử cực, điện thế màng là điện thế đảo ngược. Xung thần kinh được dẫn truyền dọc theo dây thần kinh, thông thường sự khử cực liên tiếp không quá hai Ranvier. Trước khi xung đến, tình trạng điện thế màng tế bào là phân cực. Cơ chế dẫn truyền qua sợi synap do điện hóa học: Khi xung thần kinh truyền tới vùng tiền xinap sẽ làm khử cực và mở kênh Ca2+, các luồn ion này làm cho các nang tại đây giải phóng acetylcholine và khe xinap (mỗi nang chứa khoảng 10.000 phân tử acetylcholine).

Acetylcholine gắn vào thụ thể tại hậu xinap làm cho dòng ion Na+ được dẫn qua khe xinap bởi các kênh chuyên biệt, từ đó xung thần kinh được dẫn truyền từ vùng tiền xinap của tế bào thần kinh này sang vùng hậu xinap của tế bào thần kinh kia. Ngay lúc xung thần kinh được dẫn truyền, men acetylcholinestease xuất hiện và phân hủy acetylcholine để kết thúc sự khử cực hay sự dẫn truyền xung thần kinh tại đây27,29,30. Ngoài dây thần kinh V đôi khi còn có sự tham gia của các nhánh nối với các dây thần kinh VII, IX, X, hay những sợi thần kinh lạc chỗ tham gia dẫn truyền cảm giác ở vùng đầu, mặt, cổ. Phác đồ điều trị giảm sau đau phẫu thuật nhổ răng khôn tại phòng khám chuyên khoa Răng Hàm Mặt – Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh Theo hướng dẫn của Bộ Y tế về quy trình kĩ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Răng Hàm Mặt ban hành vào năm 2013.

Hướng dẫn cụ thể điều trị sau phẫu thuật nhổ răng khôn bao gồm: - Chảy máu: xử trí cầm máu - Nhiễm trùng: kháng sinh toàn thân và chăm sóc tại chỗ. Amoxicilline 500mg, ngày uống 03 lần, mỗi lần 01 viên, uống trong 5 ngày. - Kháng viêm Ibuprofen 400mg, ngày uống 03 lần, mỗi lần 01 viên, uống trong 3 ngày. - Thuốc giảm đau sau phẫu thuật: Paracetammol 500 mg, 09 viên, uống khi đau, mỗi lần 01 viên, không quá 06 viên/ngày.

Paracetamol Paracetamol hay acetaminophen là một thuốc có tác dụng hạ sốt và giảm đau, tuy nhiên không như aspirin không hoặc ít có tác dụng chống viêm. Paracetamol được hấp thu bằng đường miệng hoặc hậu môn và cũng có thể tiêm tĩnh mạch. Tác dụng của thuốc trong vòng 2 đến 4 giờ sau khi dùng32.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá hiệu quả nhĩ châm trong giảm đau sau phẫu thuật răng khôn hàm dưới" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp nhĩ châm như một giải pháp giảm đau hiệu quả cho bệnh nhân sau khi phẫu thuật răng khôn. Nghiên cứu chỉ ra rằng nhĩ châm không chỉ giúp giảm cơn đau mà còn cải thiện sự phục hồi của bệnh nhân, mang lại lợi ích lớn trong việc quản lý đau sau phẫu thuật. Điều này có thể mở ra hướng đi mới cho các phương pháp điều trị không dùng thuốc, giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn trong quá trình hồi phục.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến tác dụng của các phương pháp điều trị khác, hãy tham khảo bài viết "Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số đặc điểm huyệt giáp tích l5 và tác dụng của điện châm huyệt này trong điều trị đau thắt lưng do thoái hóa cột sống", nơi khám phá tác dụng của điện châm trong điều trị đau lưng. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Luận án nghiên cứu tính an toàn tác dụng chống viêm giảm đau của cao xoa bách xà trên thực nghiệm và lâm sàng bệnh viêm khớp dạng thấp", một nghiên cứu về tác dụng giảm đau và chống viêm của một loại thảo dược. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị đau và cải thiện sức khỏe.