CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Những vấn đề chung về Thalassemia 1.1: Định nghĩa về bệnh Thalassemia Thalassemia là bệnh khiếm khuyết di truyền trong sự tổng hợp chuỗi globin, làm cho hemoglobin không bình thường, hồng cầu bị vỡ sớm gây thiếu máu. Bệnh được gọi tên theo chuỗi globin bị thiếu hụt. Khi thiếu hụt chuỗi α – globin thì bệnh được gọi là α – thalassemia. Khi thiếu hụt chuỗi β – globin bệnh được gọi là β – thalassemia.2: Dịch tễ học Những trường hợp Thalassemia được công bố đầu tiên vào năm 1925 là thể β – thalassemia ở bờ biển Địa Trung Hải, sau đó bệnh đã được phát hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Cho đến nay, thalassemia được biết đến là một trong những bệnh rối loạn di truyền phổ biến nhất trên thế giới. Tỉ lệ mang gen bệnh của các dân tộc dao động trong khoảng từ rất thấp 0,1% đến rất cao 40% như ở một số bộ lạc của người Ấn Độ [2]. Ở Đông Nam Á, tỉ lệ người mang gen bệnh thalassemia rất cao [3]. Tại Việt Nam, Theo Nguyễn Công Khanh bệnh β-Thalassemia là nguyên nhân hàng đầu gây thiếu máu, tan máu nặng ở trẻ em [1].
Tỷ lệ người mang gen bệnh phân bố trong cả nước và khác nhau tùy từng địa phương, từng nhóm dân tộc. Đặc biệt, tỷ lệ mang gen bệnh rất cao ở các dân tộc ít người như: Mông (25%), Catu (14%), Tày (11%), Pako (8.3 Cơ chế bệnh sinh và cơ chế di truyền 1.1 Cơ chế bệnh sinh [4] [5] Trong hội chứng Thalassemia có một hiện tượng chung nhất là sự thiếu hụt một loại chuỗi polypeptit của phần globin, gây ra dư thừa tương đối loại chuỗi kia. Hiện tượng này xảy ra ở các mức độ rất khác nhau phụ thuộc vào thể bệnh, song hậu quả của nó gây ra: - Giảm tổng hợp Hb do thiếu phần globin - Mất cân bằng giữa các chuỗi α và “không α” 4 * Hiện tượng thứ nhất: giảm tổng hợp Hb Là hậu quả trực tiếp của việc thiếu hụt tổng hợp phần Globin do thiếu một loại chuỗi polypeptit nào đó nên làm giảm tổng hợp Hb. Biểu hiện là hồng cầu nhược sắc và tăng sinh các hồng cầu non trong tủy.
Ở các thể nhẹ, sự mất cân bằng giữa chuỗi α và chuỗi β không nặng nề nên biểu hiện sự giảm tổng hợp Hb là không rõ rệt * Hiện tượng thứ hai: mất cân bằng giữa 2 loại chuỗi globin do thiếu hụt một loại chuỗi globin nào đó. Việc thiếu hụt một loại chuỗi globin này sẽ gây ra sự dư thừa tương đối loại kia. Đây là cơ chế chủ yếu gây ra những biến đổi về lâm sàng và huyết học ở những bệnh nhân β -Thalasemiathể nặng.2 Cơ chế di truyền [4] Thalassemia không phải là bệnh lây nhiễm như các bệnh lao, viêm gan. mà là bệnh di truyền do người bệnh nhận cả hai gen bệnh của bố và mẹ.
Nếu hai người bị bệnh mức độ nhẹ kết hôn với nhau, khi sinh con có 25% khả năng con bị bệnh Thalassemia mức độ nặng, do nhận được cả gen bệnh của bố và gen bệnh của mẹ truyền cho; 50% khả năng con bị mức độ nhẹ hoặc là người mang gen do nhận được một gen bệnh từ bố hoặc từ mẹ truyền cho; 25% khả năng con bình thường. Nếu một người bị bệnh mức độ nặng kết hôn với người bị bệnh mức độ nhẹ, khi sinh con có 50% khả năng con bị mức độ nặng do nhận được cả gen bệnh của bố và gen bệnh của mẹ truyền cho; 50% khả năng con bị bệnh mức độ nhẹ do nhận được một gen bệnh từ bố hoặc mẹ truyền cho.4 Phân loại Dựa theo kết quả điện di huyết sắc tố, bệnh thalassemia được phân loại thành ba thể: thể α – thalassemia, β – thalassemia, HbE/β – thalassemia. Bệnh β – thalassemia được phân loại thành 3 thể: - Thể nặng: thiếu máu nặng, khởi phát sớm (dưới 2 tuổi). Trẻ phụ thuộc vào truyền máu.
Lách to sớm. Xét nghiệm: Hb thấp dưới 7 g/dl, điện di cho thấy HbF >50%, HbA2 <4%. 5 - Thể trung gian: biểu hiện lâm sàng nhẹ hơn, triệu chứng lâm sàng xuất hiện sau 2 tuổi. Lách to độ 2 hoặc 3.
Nồng độ Hb: 8 – 10 g/dl. Kết quả điện di: HbF: 10 – 50% và HbA2 >4%. - Thể nhẹ: thường không biểu hiện lâm sàng. Hồng cầu nhỏ nhược sắc.
Chia làm 3 thể: thể nặng, thể trung gian và thể nhẹ [6]. - Thể nặng: triệu chứng lâm sàng tương tự β – thalassaemia thể nặng, trẻ phụ thuộc truyền máu, nồng độ Hb thấp 4 – 5 g/dl. - Thể trung bình: triệu chứng lâm sàng tương tự β – thalassaemia thể trung bình, trẻ không phụ thuộc truyền máu, nồng độ Hb từ 6 – 7 g/dl. - Thể nhẹ: tình cờ phát hiện qua xét nghiệm thấy số lượng hồng cầu tăng, hồng cầu nhỏ, nhược sắc, nồng độ Hb từ 9 – 12 g/dl.
Dựa theo số lượng gen α – globin còn lại, bệnh được chia thành các thể: - Thể ẩn (người mang gen): bệnh nhân còn 3 gen α – globin. Không biểu hiện triệu chứng lâm sàng, không thay đổi trên công thức máu. - Thể nhẹ (còn 2 gen): không có biểu hiện lâm sàng, xét nghiệm Hb trong giới hạn bình thường, hồng cầu nhỏ nhược sắc - Thể HbH (còn 1 gen): lâm sàng có thiếu máu nhẹ đến vừa, thỉnh thoảng có đợt tan máu cấp khi có điều kiện thuận lợi như sốt. - Thể Hb – Bart’s (không còn gen nào): biểu hiện lâm sàng rất nặng, trẻ thường chết ngay trong giai đoạn bào thai hoặc chết ngay trong ngày đầu sau sinh.5 Lâm sàng bệnh Thalassemia 1.1 Lâm sàng α-Thalassemia [5] Tình trạng người lành mang gen không triệuchứng: Thiếu hụt một gen chuỗi α-Globin gây ra tình trạng người lành mang gen không triệu chứng xảy ra rộng khắp trên thế giới.Thiếu máu mức độ trung bình và hồng cầu nhỏ nhược sắc.
Thiếu hoặc bất thường của ba gen chuỗi Globin gây ra bệnh HbH, thường đặc trưng bởi thiếu máu mức độ trung bình, lách to và những cơn thiếu máu tán huyết cấp, chủ yếu do phản ứng với các loại thuốc có tính oxy hóa hoặc nhiễm trùng. 6 Phù nhau thai Hb Bart,biểu hiện lâm sàng nặng nhất của α-Thalassemia, có đặc điểm chung là thiếu hụt tất cả bốn gen của chuỗi α-Globin và thai chết trong tử cung. Gặp phổ biến ở vùng Đông Nam Á nhưng lại hiếm gặp ở vùng Địa Trung Hải và ở Châu Phi thì càng hiếm hơn nữa. Lâm sàng β-Thalassemia [4] Bệnh β-Thalasemiabiểu hiện lâm sàng được chia thành 3 thể chính * Thể nặng (major): còn gọi là bệnh Cooley, là thể đồng hợp tử Bệnh thường xuất hiện sớm trong những năm đầu của cuộc sống và tiến triển nặng dần lên.
Bệnh nhân có thiếu máu, tan máu mạn tính mức độ nặng (Hb < 60 g/l) với các triệu chứng thiếu máu, lách to, gan to, da bị nhiễm sắc tố, biến dạng xương, chậm phát triển thể chất. * Thể trung gian (intermedia): Có thể là đồng hợp tử, dị hợp tử hay thểphối hợp. Thể này có thiếu máu vừa hoặc nhẹ (Hb 70 -80 g/l), bệnh tiến triểnchậm và nhẹ, thường kèm theo vàng da và gan, lách to. Bệnh nhân không có thay đổi về thể trạng, chỉ bị thiếu máu mức độ trung bình và đôi khi mới cần truyền máu hoặc không cần truyền.6 Điều trị Truyền máu - Chỉ định khi: Hb < 7 g/dl - Duy trì: Hb 9 – 10 g/dl - Truyền 10 – 15 ml/kg KHC / 1 lần trong 3 – 4 giờ.
- Thiếu máu nặng (Hb<5g/dl) hoặc suy tim: truyền 2ml/kg/giờ, Furosemide 1 – 2 mg/kg. - Khoảng cách giữa các lần truyền máu khoảng 4 – 6 tuần tùy theo mức độ tan máu. - Tan máu miễn dịch thứ phát do cơ thể tạo kháng thể chống hồng cầu: truyền hồng cầu phenotype. Thải sắt 7 - Chỉ định khi: ferritin > 1000 ng/ml hay sau truyền máu 10 – 12 lần (ở trẻ > 3 tuổi) - Viên uống – Deferiprone, liều: 75 mg/kg/ngày chia 3 – 4 lần - Theo dõi huyết đồ mỗi 3 – 4 tuần, Ferritin mỗi 3 – 4 tháng.
Cắt lách - Chỉ định: - Truyền KHC quá 225 – 250 ml/kg/năm, khoảng cách giữa 2 lần truyền máu < 3 tuần, hay khối lượng KHC cần truyền tăng gấp đôi. - Lách to quá rốn - Trẻ ≥ 6 tuổi. Điều trị hỗ trợ. - Acid folic 5mg/ngày - Calci D - Vitamin E Chủng ngừa: Chủng ngừa HBV, phế cầu, Hib, não mô cầu trước cắt lách 2 – 4 tuần, lặp lại sau mỗi 5 năm.
Ghép tủy phù hợp HLA. Nguyên tắc chung [4] Chế độ ăn giàu dinh dưỡng, cân bằng các thành phần. Tránh quá tải sắt Tránh nhiễm trùng: Biết giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, giữ ấm cơ thể khi trời lạnh, đảm bảo an toàn thực phẩm.Tập thể dục thường xuyên, các bài thể dục phù hợp theo lứa tuổi và tình trạng bệnh. Tiêm phòng các vaccin phòng bệnh như: Cảm cúm, Rubella, viêm não, viêm phổi, viêm gan B (đặc biệt cần thiết với những bệnh nhân bị cắt lách).
Nếu bị sốt hoặc có triệu chứng nhiễm trùng nên đi khám bác sĩ để được điều trị kịp thời. Dinh dưỡng cho trẻ thiếu máu huyết tán [5] Những bệnh nhân Thalassemia không đòi hỏi chế độ ăn đặc biệt, trừ khi họ có những quy định đặc biệt. Trong quá trình tăng trưởng, khuyến cáo cung cấp một lượng năng lượng bình thường với lượng chất béo và đường bình thường. Trong giai đoạn thiếu niên và trưởng thành, một chế độ ăn ít carbohydrate tinh luyện (đường, nước giải khát, đồ ăn nhẹ) có lợi cho việc ngăn ngừa hoặc trì hoãn sự xuất 8 hiện của hiện tượng bất dung nạp glucose hoặc bệnh tiểu đường.
Cần phải tránh những thực phẩm rất giàu sắt. Bệnh nhân Thalassemia không bao giờ được bổ sung chất sắt. Nhiều thực phẩm em bé, ngũ cốc ăn sáng và các chế phẩm đa sinh tố có chứa thêm chất sắt cùng với vitamin bổ sung khác. Vì vậy bệnh nhân nên thực hiện thói quen đọc nhãn thuốc cẩn thận, tìm kiếm chuyên gia tư vấn nếu cần thiết.
Nhiều yếu tố thúc đẩy sự thiếu hụt calcium ở bệnh nhân Thalassemia. Một thực đơn hàng ngày chứa đựng đầy đủ calcium (như sữa, phó mát, các sản phẩm từ bơ sữa) luôn được khuyến cáo. Tuy nhiên những bệnh nhân Thalassemia không nên tự uống thêm calcium hoặc vitamin D, chỉ được uống theo sự kê đơn của bác sĩ. Ứ sắt làm cho Vitamin C được oxy hóa với một tốc độ gia tăng dẫn đến thiếu hụt vitamin C trong một số bệnh nhân.
Chính vì vậy, một chế độ ăn nhiều trái cây tươi gồm các loại trái cây họ cam quýt và rau quả được khuyến khích dùng cho bệnh nhân Thalassemia.