Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiền Chúng tôi tiến hành lựa chọn, phân tích, tng hợp các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài của khoá luận và làm rõ khái niệm “thye hành va trải nghiệm Toán”. Nghiên cứu về day học hàm số mũ. Lợi ích của việc dạy học trên điện thoại di động. Chương 2: Phan tích nội dung hàm sé mũ trong Chương trình giáo dục pho thông 2018 món Toán va trong các bộ sách giáo khoa Nội dung chính của chương nay lả tim hiểu các quy định về thực hành và trải nghiệm trong chương trình 2018; phân tích nội dung ham số mũ trong chương trình 2018 va trong các bộ sách giáo khoa hiện hành; cuối cùng là đề xuất một tinh huỗng thực hành và trải nghiệm toán trong day học dé hình thành kiến thức về các tinh chất hảm số mũ cho học sinh.
Chương 3: Phản tích hậu nghiêm Tình huỗng được xây dựng sẽ được trién khai trên déi tượng học sinh trung học phỏ thông. Cudi cùng, chúng tôi phân tích kết qua đạt được. Một số khái niệm 111. Thực hành Trong giáo dục, “thực hành” có thẻ được hiéu theo 2 khía cạnh: thực hành có thé chí một hành động mà thông qua nó học sinh có thê chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng mới; ngược lại, thực hành cũng chỉ hành động vận dụng các kỹ năng, kiến thức đã học vao một tình huéng cụ thé.
Có thé thấy, tuỳ theo ngữ cảnh ma “thực hành” được hiệu theo các nghĩa khác nhau, thậm chí các hàm nghĩa của nó còn đối lập nhau (Carr, 1993), Cũng theo Carr, trong tình huéng đầu tiên, “thực hành” mang nghĩa “làm dé học” được gọi là "thực hành day học” (teaching practice); ở tình huỗng thứ hai, “thực hành” mang nghĩa “lam dé kiêm chứng” được gọi là “thực hành tốt" (good practice). Trong khuôn khô bài nghiên cứu này, "thực hành" có thé được định nghĩa là quá trinh tham gia tích cực vảo các hoạt động học tập hoặc nghiên cứu, thông qua đó học sinh có thé tiếp thu được kiến thức mới. Trải nghiệm Theo Hoàng Phê (2004). trải nghiệm là những gi con gnười đã từng trải qua thực tế, từng biết, từng chịu.
Qua quá trình trải nghiệm giúp con người hình thành vốn kinh nghiệm, vốn song, hình thành những phẩm chat và năng lực can thiết (Tran Minh Phung, 2019). Theo Dinh Thị Kim Thoa (2014), hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dụ thông qua sự trải nghiệm của cá nhân trong việc kết nỗi kinh nghiệm học được trong nha trường với thực tiễn đời sống mà nhờ đó các kinh nghiệm được tích luy thém va dan chuyền hoá thanh nang lực. Thông qua 2 khái niệm trên, có thê nói thực hành và trải nghiệm Toán là hoạt động học sinh thực hành tên vật cụ thẻ, từ đó tích luỹ kinh nghiệm hình thành kiến thức mới. Học tập trải nghiệm Đề xây dựng được các tình huống thực hành và trải nghiệm một cách hiệu quả và xây dựng được hệ thống chương trình áp dụng hoạt động thực hành và trải nghiệm vào việc dạy học, một nhân tô không thẻ thiếu trong việc đưa ra tính kha thi cho nó lả phải có một cơ sở lý thuyết đáng tin cậy.
Hiện nay, trên thế giới có nhiều học thuyết, lý thuyết giáo dục với quan điểm lay người hoc lam trung tâm, học thông qua thực hanh,. § tuy nhiên, lý thuyết học tập được áp đụng rộng rãi cũng như phù hợp với Chương trình giáo dục phé thông 2018 đó chính là Lý thuyết học tập trải nghiệm (Experiential Learning Theory) của David A. Kolb, Học tập trai nghiệm (Experiential Learning) theo David A. Kolb (1984) định nghĩa là “qua trình trong đó kién thức được tạo ra thông qua việc chuyên đôi kinh nghiệm.
Kiến thức là kết quả của sự kết hợp giữa nam bat và chuyên hóa kinh nghiệm”. Nam 1971, Lý thuyết học tập trải nghiệm của D. Kolb chính thức được công bố lần đầu tiên với tư cách là một lí thuyết tương đối toàn điện về một phương thức học tập tích lũy, chuyền hóa kinh nghiệm. Lí thuyết học tập trai nghiệm “Experiential leaming” do David Kolb đề xuất là sự kế thừa va phát triển lí thuyết học tập có liên quan đến kinh nghiệm của các nha tâm lí học, giáo duc học như: John Dewey (1859-1952), Mary Parker Follett (1868-1933); Kurt Lewin (1890-1947); Jean Piaget (1896-1980); Lev Vygotsky (1896- 1934); Carl Jung (1875-1961); Carl Rogers (1902-1987); Paulo Freire (1921-1997) va các nha Tam li học, Giáo dục học khác.
Các nghiên cứu vẻ mô hình học tập trải nghiệm của các tác giả nêu trên được Kolb coi như cơ sở khoa học nên tảng đề xây dựng nên lí thuyết của mình, Lý thuyết nay dựa vào nên tang quan điểm học tập từ kinh nghiệm xuất phát từ nghiên cứu trí tuệ trong các nghiên cứu tâm lí của J. Piaget và vai trò của kinh nghiệm trong quá trình học tập của J. Theo lí thuyết học tập trải nghiệm, học tập là một quá trình mà ở đó tri thức được tạo ra thông qua sự biên đôi, chuyển hóa kinh nghiệm. Đó là quá trình thông qua hành động (việc làm).
chủ thé tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế. dựa trên đánh giá, phân tích những kinh nghiệm, kiến thức sẵn có nhờ sự tác động của “kiến thức” tiếp thu được qua hành động với đối tượng. Và cũng theo đó, D. Kolb đưa ra sau đặc điểm chính của học tập từ trải nghiệm: Một là, việc học tốt nhất cần chú trọng đến quá trình chứ không phải kết quá (Kolb, &Kolb, 1984, tr.
Hai là, học là một quá trình trên nên tang kinh nghiệm (Kolb, &Kolb, 1984, tr. Ba là, học tap đỏi hỏi việc giải quyết xung đột giữa mô hình lí thuyết với cuộc sông thực tiễn (Kolb, &Kolb, 1984, tr. Bon là, học tập là quá trình toan diện vẻ thích ứng với cuộc sống thực tiễn (Adaption to the World) (Kolb, &Kolb, 1984, tr. Nam là, học tập là sự kết nỗi giữa con người với môi trường (Kolb, &Kolb, 1984, tr.
Sau lả, học tập là quá trình kiến tao ra tri thức, nó là kết quả của sự chuyên hoá giữa kiến thức xã hội và kiến thức cá nhân (Kolb, &Kolb, 1984, tr. Nghiên cứu của Nguyen va Wong (2017) đã chứng minh sự hiệu quả của việc áp dụng học tập trải nghiệm vao day toán, nơi học sinh không chi được khuyên khích giải quyết các bài toán thông thường mà còn được hướng dẫn phân tích và suy ngẫm vẻ quá trình giải quyết của chính họ. Cụ thẻ, trong nghiên cứu này, các học sinh đã tham gia vào các hoạt động học tập được thiết kế để kích thích suy nghĩ có phản ánh, qua đó giúp học sinh nắm bắt được các khái niệm toán học một cách sâu sắc hơn. Kết quả cho thấy học sinh không chi cải thiện được kỳ năng giải toán mà còn phát triển kỳ năng tư duy phản biện và khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn (Nguyen & Wong, 2017).
Nghiên cứu của Zhang và Barry (2019) cũng ghi nhận sự thành công tương tự khi áp dụng lý thuyết học tập trai nghiệm trong day học toán. Học sinh được khuyến khích tạo ra các mô hình toán học dựa trên các trái nghiệm hảng ngày của họ, điều này đã giúp họ liên kết kiến thức học được với thế giới thực tế và cải thiện đáng kế khả năng giải quyết van để (Zhang & Barry, 2019). Những nghién cứu nay cho thay rang áp dụng lý thuyết học tập trải nghiệm của Kolb vào day học toán không chi làm tăng sự hiểu biết sâu sắc về môn học ma còn góp phan vào việc phát triển kỹ năng sông thiết yeu cho học sinh. Các phương pháp này không chỉ tạo điều kiện cho học sinh học tập một cách chủ động mà còn giúp họ nhận thức được giá trị của việc học toán trong đời sông thực tiễn.
Day học hàm số mũ 1. Mỗi liên hệ giữa đồ thị hàm số và các tính chất của chúng Ham số là một trong những khái niệm cơ ban va quan trọng nhất trong toán học, có ứng đụng rộng rãi trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, kính tế và xã hội. Trong lĩnh vực kỹ thuật, ví dụ, hàm số được sứ dung dé mô hình hóa và thiết kế các hệ thông điêu khién va may móc. Bai báo của Smith et al.
(2020) đã minh họa cách mà các ham số phi tuyển đóng một vai trò thiết yêu trong việc phân tích động lực học của các hệ thông máy. Trong kinh tế, nghiên cứu của Jones va Sommers (2018) đã cho thay rang việc sử dụng ham sản xuất Cobb-Douglas không chi giúp hiéu rõ hơn về ảnh hưởng của 10 lao động và vốn đối với sản lượng ma còn là công cụ quan trọng để dự đoán tăng trưởng kinh tế. Sự hiểu biết sâu sắc vẻ ham số cũng mở ra cơ hội trong việc phát triển phan mềm vả công nghệ thông tin. Trong một nghiên cứu của Zhang và Lee (2019), các hàm số được áp dụng dé cai thiện thuật toán trong việc xử lý đữ liệu lớn, cho thấy tam quan trọng của toán học trong việc phát triển công nghệ mới.
Qua đó, có thé thay rằng việc nghiên cứu và hiểu biết về ham số là điều cần thiết, không chi trong toán học mà còn trong hầu hết các ngành khoa học va ứng dụng thực tế. Ham số là công cụ không thé thiếu trong việc phân tích, mô hình hóa vả giải quyết các van dé phức tạp trong thực tiễn. Ngay từ lớp 8, học sinh đã được tiếp cận với định nghĩa tường minh của ham số: *Nếu đại lượng y phụ thuộc vào một đại lượng thay đổi x sao cho mỗi giá trị của x ta luôn xác định được đuy nhất một giá trị tương ứng của w' thì y được gọi là ham so của biến số x” (Sách giáo khoa Toán 8 — Tập 2, Bộ sách Chân trời sáng tạo, NXBGD, trang 6). Trong toán học, hàm số (gọi tat là ham) là một loại ánh xa giữa hai tập hợp số liên kết mọi phan tử của tập số đầu tiên với đúng một phan tử của tập sô thứ hai.
Hàm số có thé được biểu diễn ít nhất dưới 4 dạng: hàm số được biểu diễn bang lời; hàm số được biểu dién bang bang giá tri; hàm số được cho bởi đồ thi, hình vẽ; hàm số được cho bằng công thức. Nếu định nghĩa hàm số theo định nghĩa chặt chẽ của toán học. ta phải chỉ rõ tập nguồn và tập đích của hàm số đó. Tuy nhiên, trong dạy học toán ở phé thông.
hàm số thường được cho dưới dạng công thức, ví dụ y = (x). Bên cạnh đó, tập nguồn và tập đích của hàm số thường không được nêu rõ. Trong trường hợp đó.