ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới, chiếm gần 10 triệu ca tử vong vào năm 2020 [72]. Số ca bệnh mới không ngừng gia tăng, vào năm 2020 có khoảng 19 triệu ca mắc mới, phổ biến là ung thư vú (2,26 triệu ca); phổi (2,21 triệu ca); đại trực tràng (1,93 triệu ca); tuyến tiền liệt (1,41 triệu ca); và dạ dày (1,09 triệu ca) [74]. Tại Việt Nam, theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO – World Health Organization), năm 2020 có khoảng 183 ngàn ca ung thư mới, và khoảng 123 ngàn ca tử vong do ung thư. Tỉ lệ tử vong do ung thư hiệu chỉnh theo độ tuổi tại Việt Nam là 106/100000 dân [73].
Hiện nay có nhiều biện pháp điều trị bệnh ung thư nhưng hóa trị vẫn là phương pháp phổ biến, đóng vai trò quan trọng trong điều trị cho bệnh nhân ung thư. Việc sử dụng hóa chất mang lại đáp ứng lâm sàng, kéo dài thời gian sống thêm và sống thêm không bệnh [11], [16], [53]. Tuy nhiên, hóa trị lại tiềm tàng rất nhiều các tác dụng không mong muốn do hóa chất tiêu diệt tế bào ung thư nhưng cũng đồng thời hủy hoại tế bào lành, đồng thời có khoảng điều trị hẹp nên gây ra tác dụng không mong muốn toàn thân cho bệnh nhân, đặc biệt là các mô/tế bào tăng sinh nhanh như tiêu hoá, tủy xương, tóc,… [4]. Dựa trên thời gian xuất hiện, tác dụng không mong muốn bao gồm cấp tính và mạn tính.
Trong đó, các tác dụng không mong muốn cấp tính có thể xảy ra trên da, tóc, tủy xương và huyết học, hệ tiêu hóa hoặc thận,… Các tác dụng không mong muốn lâu dài của hóa trị bao gồm sự kháng thuốc, khả năng gây ung thư, hoặc gây vô sinh [49], [58]. Các tác dụng này tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến hiệu quả, an toàn, tuân thủ điều trị và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [14], [27], [57]. Kiến thức hóa trị là những thông tin bệnh nhân thu được về mục tiêu, thời gian điều trị, các tác dụng phụ có thể xảy ra, các lưu ý trong điều chỉnh lối sống,…[19]. Nhiều nghiên cứu cho thấy việc trang bị kiến thức cho bệnh nhân giúp bệnh nhân giảm bớt lo âu, giảm các gánh nặng bệnh tật, tăng khả năng tự chăm sóc, giúp đạt được hiệu quả điều trị và tăng mức độ hài lòng của người bệnh [8], [19], [45], [52].
Tự chăm sóc là hành vi của bản thân tự thực hiện để duy trì sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật và chống chọi với bệnh tật dù có hoặc không có sự hỗ trợ của nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe [48], [64]. Bệnh nhân ung thư tự chăm sóc sẽ góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống, kiểm soát các triệu chứng và sự hài lòng của bệnh nhân [38]. Vì thế, việc cải thiện kiến thức về hóa trị và kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân là rất cần thiết để phòng tránh, giảm thiểu và quản lý các tác dụng không mong muốn một cách phù hợp. Bệnh viện Trung ương Quân đội (TWQĐ) 108 là bệnh viện hạng đặc biệt, đa khoa, chuyên khoa sâu, tuyến cuối toàn quân.
Với quy mô lớn và trang thiết bị hiện đại, số lượng bệnh nhân nhập viện điều trị bệnh ung thư tương đối lớn. Theo báo cáo của Ban pha chế – khoa Dược, mỗi tháng Ban pha chế tiếp nhận khoảng 1000 – 2000 đơn 1 hóa trị liệu, tính riêng năm 2021 là 18497 đơn. Với phương châm lấy người bệnh làm trung tâm phục vụ để đổi mới và phát triển, bệnh viện luôn chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân ung thư. Trong đó, một hoạt động đang được thực hiện bởi Dược sĩ lâm sàng là triển khai kế hoạch thông tin thuốc và tư vấn sử dụng thuốc hóa trị cho bệnh nhân ung thư.
Hoạt động này nhằm giúp bệnh nhân hiểu hơn về hóa trị, biết cách quản lý phù hợp khi gặp vấn đề sức khỏe, nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Do đó, với mục đích hỗ trợ các NVYT xác định được thực trạng về kiến thức và hành vi tự chăm sóc của các bệnh nhân đang hoá trị tại bệnh viện, từ đó có cơ sở cho việc tối ưu hoá nội dung và quy trình tư vấn, chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát đặc điểm kiến thức và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư điều trị hoá chất tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108” với 2 mục tiêu: Mục tiêu 1: Khảo sát kiến thức và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư đang điều trị hóa chất tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư đang điều trị hóa chất tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Tổng quan về bệnh lý ung thư và hóa trị trong điều trị ung thư 1.
Bệnh lý ung thư 1. Đặc điểm bệnh học ung thư Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách bất thường và không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể [4]. Đa số bệnh ung thư hình thành các khối u. Khác với các khối u lành tính chỉ phát triển tại chỗ, thường rất chậm, có vỏ bọc xung quanh, các khối u ác tính (ung thư) có khả năng xâm lấn vào các tổ chức lành xung quanh.
Các tế bào của khối u ác tính còn có khả năng di căn tới các hạch bạch huyết hoặc các tạng ở xa, hình thành các khối u mới và cuối cùng dẫn tới các hậu quả nghiêm trọng như tử vong. Cùng với di căn xa, tính chất bệnh ung thư hay tái phát đã khiến việc điều trị bệnh khó khăn và ảnh hưởng xấu đến tiên lượng bệnh [4]. Ung thư không phải là một bệnh. Người ta đã biết có đến hơn 200 loại ung thư khác nhau trên cơ thể người.
Những loại ung thư này tuy có đặc điểm giống nhau về bản chất nhưng có nhiều điểm khác nhau về nguyên nhân, tiến triển bệnh, tiên lượng bệnh và phương pháp điều trị [4]. Dịch tễ bệnh ung thư Số ca ung thư mắc mới không ngừng gia tăng. Theo thống kê của GLOBOCAN vào năm 2020 có khoảng 19 triệu ca ung thư mắc mới. Trong đó, những loại ung thư có tỷ lệ mắc mới cao bao gồm: vú (2,26 triệu ca); phổi (2,21 triệu ca); đại tràng và trực tràng (1,93 triệu ca); tuyến tiền liệt (1,41 triệu ca); và dạ dày (1,09 triệu ca) [74].
Tại Việt Nam, tính chung cả hai giới nam và nữ thì các bệnh ung thư thường gặp là: ung thư gan, phổi, vú, dạ dày, đại trực tràng. Năm loại bệnh ung thư thường gặp ở nam giới là: ung thư gan, phổi, dạ dày, đại trực tràng, tuyến tiền liệt; ở nữ giới là: ung thư vú, phổi, đại trực tràng, dạ dày, gan [73]. Theo số liệu của tổ chức y tế thế giới năm 2020, Việt Nam có khoảng 183 ngàn ca ung thư mới, và khoảng 123 ngàn ca tử vong do ung thư. Tỉ lệ tử vong do ung thư hiệu chỉnh theo độ tuổi tại Việt Nam là 106/100 000 dân [67], [73].
Hiện nay, chỉ có 185/204 quốc gia có báo cáo thống kê về tình hình bệnh ung thư theo GLOBOCAN. Năm 2020, Việt Nam xếp thứ 91/185 về tỷ suất mắc mới và thứ 50/185 về tỷ suất tử vong trên 100. Thứ hạng này tương ứng của năm 2018 là 99/185 và 56/185. Như vậy, có thể thấy là tình hình mắc mới và tử vong do ung thư ở Việt Nam đều đang tăng nhanh [67].
Theo đánh giá của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (The International Agency for Research on Cancer - IARC), Việt Nam có tỷ lệ chữa khỏi bệnh ung thư đạt 40%. Tỷ lệ này chưa được như mong muốn, lý do chủ yếu 3 là phần lớn bệnh nhân ung thư ở nước ta phát hiện và điều trị khi bệnh đã ở giai đoạn muộn [2]. Chẩn đoán giai đoạn ung thư Chẩn đoán giai đoạn là đánh giá sự xâm lấn và lan tràn của ung thư, bao gồm đánh giá tình trạng tại chỗ, tại vùng và di căn xa [4]. Chẩn đoán giai đoạn có vai trò quan trọng giúp đánh giá được tiên lượng bệnh, chọn lựa phác đồ điều trị thích hợp và giám sát hiệu quả điều trị [4], [32].
Có nhiều cách phân loại giai đoạn ung thư, trong đó có 2 phân loại được áp dụng phổ biến đó là phân loại theo giai đoạn và phân loại theo hệ thống TNM [7]. Cụ thể: - Phân loại theo giai đoạn dựa trên mức độ xâm lấn của khối u, từ đó chia thành 4 giai đoạn: (I) – khối u giới hạn ở vị trí ban đầu, không có xâm lấn cục bộ; (II) – xâm lấn cục bộ; (III) – khối u lan rộng đến các hạch bạch huyết tại chỗ; (IV) – di căn xa [32]. - Hệ thống phân giai đoạn TNM của Tổ chức chống ung thư quốc tế (UICC – Union for International Cancer Control) và Ủy ban liên hợp ung thư Hoa Kỳ (AJCC – American Joint Committee on Cancer) gồm ba yếu tố chính: T (Tumor): u nguyên phát; N (Node): hạch tại vùng; M (Metastase): di căn xa [7]. TNM được đánh giá trước khi điều trị và theo quy định được trình bày tại bảng sau: Bảng 1.
Quy định chung về phân loại giai đoạn theo hệ thống TNM T (U nguyên To: chưa có dấu hiệu u nguyên phát. phát) Tis(insitu): ung thư tại chỗ. T1 - T4: theo kích thước tăng dần hoặc mức xâm lấn tại chỗ của u nguyên phát. Tx: không thể đánh giá được u nguyên phát.
N (Hạch tại No: chưa có dấu hiệu xâm lấn hạch tại vùng. vùng) N1 - N3: mức độ tăng dần sự xâm lấn của hạch tại vùng. Nx: mhông thể đánh giá được hạch tại vùng. M (Di căn xa) Mo: chưa có di căn xa.
Trong 2 phân loại trên, TNM chính xác hơn, nhiều thông tin hơn, cho phép theo dõi tiến triển và đáp ứng điều trị nên được áp dụng nhiều hơn trong thực hành lâm sàng [4], [32]. Các phương pháp điều trị bệnh ung thư Đặc tính chung của bệnh ung thư là phát triển tại chỗ, xâm lấn tổ chức xung quanh, di căn theo đường bạch huyết và di căn xa qua đường máu tới các cơ quan khác [2], [4], [72].