ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư vú là loại ung thư phổ biến ở phụ nữ nhiều nước trên thế giới với tỷ lệ chẩn đoán mới cao và cũng là nguyên nhân tử vong hàng đầu trong các bệnh lý ung thư ở phụ nữ. Năm 2020, trên thế giới có khoảng 2,3 triệu người phát hiện mắc ung thư vú, chiếm 11,7% trong tổng số các loại ung thư [19]. Tại Việt Nam, ung thư vú chiếm tỷ lệ mới mắc cao nhất trong các loại ung thư ở nữ giới với số ca mắc mới là 21555 ca và số ca tử vong lên đến 9345 ca trong năm 2020 [1], [20]. Mặc dù tỷ lệ mắc ung thư vú có xu hướng tăng cao theo thời gian nhưng tỷ lệ tử vong ngày càng được cải thiện nhờ các thành tựu trong phát hiện, chẩn đoán và điều trị, trong đó phải kể đến vai trò của hóa trị liệu.
Hóa trị đóng một vai trò quan trọng trong điều trị cho bệnh nhân ung thư. Việc sử dụng hóa chất mang lại những đáp ứng lâm sàng và lợi ích đáng kể trong kéo dài thời gian sống thêm và sống thêm không bệnh [1], [7]. Tuy nhiên, hóa trị thường gây ra nhiều tác dụng không mong muốn do hóa chất trong điều trị là các thuốc gây độc tế bào, có cơ chế nhắm vào các tế bào đang nhân lên nhanh chóng, tuy nhiên lại ít có khả năng phân biệt tế bào lành với tế bào ung thư [44], [59]. Các tác dụng không mong muốn cấp tính có thể xảy ra như dễ chảy máu, thiếu máu, nhiễm trùng, tổn thương niêm mạc miệng, buồn nôn/nôn, tiêu chảy, ….
Bệnh nhân đang điều trị hóa chất có thể phải đối mặt đồng thời với nhiều tác dụng không mong muốn dẫn đến thể trạng có thể yếu hơn và chất lượng cuộc sống thấp hơn so với trước khi điều trị, từ đó trong trường hợp bệnh nhân không có kiến thức về hóa trị sẽ cảm thấy điều trị không đem lại hiệu quả và giảm tuân thủ trong quá trình điều trị [69]. Kiến thức hóa trị được hiểu là lượng thông tin mà bệnh nhân có được về mục tiêu và thời gian điều trị, các tác dụng phụ có thể xảy ra, việc điều chỉnh lối sống và các lưu ý khác trong quá trình điều trị bằng hóa chất [25], [55]. Việc được cung cấp và vận dụng phù hợp các thông tin về bệnh lý cũng như về hóa trị liệu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân trong việc tuân thủ các chu kỳ hóa trị, giúp bệnh nhân nhanh chóng nhận biết mức độ nghiêm trọng của tác dụng không mong muốn nhằm phân biệt với những trường hợp cần chăm sóc khẩn cấp [18], [54]. Kiến thức và kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe cũng rất cần thiết đối với việc đảm bảo chất lượng cuộc sống của bệnh nhân hóa trị.
Do đó, việc đánh giá về kiến thức hóa trị và các hành vi tự chăm sóc là vấn đề cần được quan tâm, nhằm đưa ra các giải pháp giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, tăng khả năng tuân thủ và cải thiện hiệu quả điều trị. Bệnh viện K là bệnh viện tuyến cuối về chuyên khoa ung bướu tại miền Bắc, tiếp nhận khám chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế cho bệnh nhân từ nhiều tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Cụ thể, năm 2018, bệnh viện K đã tiếp đón 417491 lượt bệnh nhân, tăng 6,8% so với năm 2017 [5]. Với quy mô điều 1 trị lớn và tính chất đa dạng, lâu dài của việc điều trị, chất lượng của dịch vụ chăm sóc trong đó có cung cấp thông tin cho bệnh nhân luôn cần được chú trọng nhằm đảm bảo tuân thủ điều trị cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư vú, đặc biệt trong giai đoạn điều trị hóa chất tại bệnh viện [71].
Việc cung cấp thông tin cần dựa trên thực trạng đặc điểm kiến thức và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân. Khảo sát đặc điểm kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc trên đối tượng bệnh nhân ung thư vú đang điều trị hóa chất, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc, là cơ sở để đưa ra các đề xuất can thiệp phù hợp. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Khảo sát đặc điểm kiến thức và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư vú đang điều trị hóa chất tại Bệnh viện K năm 2021” với hai mục tiêu: Mục tiêu 1: Mô tả đặc điểm kiến thức và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện K. Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan đến đặc điểm kiến thức và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện K.
Tổng quan về bệnh ung thư vú và hóa trị liệu trong điều trị ung thư vú 1. Bệnh lý ung thư vú 1. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh ung thư vú Ung thư vú là loại ung thư phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới, với tỷ lệ mới chẩn đoán cao và cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh lý ung thư ở phụ nữ [1], [20]. Năm 2020, ung thư vú chiếm tỷ lệ mới mắc cao nhất thế giới với khoảng 2,3 triệu ca mắc mới trong năm 2020, chiếm 11,7% trong tổng số các loại ung thư [1], [65].
Mặc dù tỷ lệ mắc ung thư vú có xu hướng tăng cao theo thời gian, tỷ lệ tử vong lại ngày càng được cải thiện nhờ vào các tiến bộ trong sàng lọc phát hiện ở giai đoạn sớm và điều trị hiệu quả [1]. Tại Việt Nam, năm 2020, số ca ung thư vú mới mắc ghi nhận là 21555 ca, chiếm 11,8% trong tổng số các loại ung thư ở cả hai giới, đứng thứ 3 sau ung thư gan và ung thư phổi. Ở phụ nữ, ung thư vú chiếm tỷ lệ mới mắc cao nhất, chiếm hơn 1/4 số trường hợp, trong đó số ca tử vong lên đến 9345 ca/năm [20]. Có nhiều yếu tố tham gia vào cơ chế bệnh sinh phức tạp của các bệnh lý ung thư.
Tuổi càng cao, nguy cơ mắc bệnh càng gia tăng. Nguy cơ mắc cao nhất rơi vào nhóm phụ nữ ở độ tuổi từ 55-64 tuổi, tuy nhiên bệnh cũng có thể xuất hiện ở những người rất trẻ [1], [7], [72]. Phụ nữ có tiền sử gia đình là người thân mắc ung thư vú có nguy cơ xuất hiện ung thư vú cao hơn [1], [7], tỷ lệ ung thư vú di truyền chiếm khoảng 5%-10% trong tổng số ca mắc [1], [72]. Ngoài ra, các yếu tố như có kinh nguyệt lần đầu sớm, mãn kinh muộn, phụ nữ độc thân, không sinh con, không cho con bú, sinh con đầu lòng muộn,… cũng góp phần làm tăng nguy cơ bị bệnh [1], [63].
Phân loại giai đoạn bệnh ung thư vú Giai đoạn bệnh là căn cứ giúp bác sĩ xác định mục tiêu điều trị phù hợp từng người bệnh, lựa chọn phác đồ điều trị mang lại kết quả điều trị cao nhất mà tác dụng không mong muốn thấp nhất, đồng thời đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt nhất. Do đó việc xác định chính xác giai đoạn bệnh của bệnh nhân khi chẩn đoán có vai trò rất quan trọng [1]. Hiệp hội kiểm soát Ung thư quốc tế (Union for International Cancer Control - UICC) và Hội Ung thư Hoa Kỳ (American Joint Committee on Cancer - AJCC) đã phát triển hệ thống phân chia giai đoạn các khối u ác tính TNM (T: tumor - khối u, N: node - hạch lympho, M: metastasis - di căn xa) để đánh giá mức độ xâm lấn của khối u [1], [49]. Trong đó: - U nguyên phát (T): • Tx: không đánh giá được u nguyên phát.
3 • T0: không có bằng chứng u nguyên phát. • Tis: ung thư biểu mô thể ống tại chỗ (DCIS) hoặc bệnh Paget của núm vú nhưng không kèm theo ung thư xâm lấn và/hoặc DCIS ở nhu mô phía dưới. • T1, T2, T3, T4: biểu hiện kích thước khối u và mức độ xâm lấn tới các mô lân cận. Con số sau T càng cao thì kích thước khối u và mức độ phát triển thành các mô lân cận càng lớn.
- Hạch vùng (N): • Nx: hạch vùng không đánh giá được. • N0: không di căn hạch vùng. • N1, N2, N3: biểu hiện số lượng và vị trí các hạch bạch huyết mà có ung thư di căn. Con số sau N càng cao thì càng nhiều hạch bạch huyết có chứa ung thư.
- Di căn xa (M): • Mx: không đánh giá được di căn xa. • M0: không có di căn xa • M1: có di căn xa Bảng 1.1 trình bày phân loại giai đoạn ung thư vú theo hệ thống TNM được phát triển bởi hiệp hội kiểm soát Ung thư quốc tế và Hội Ung thư Hoa Kỳ [1]. Phân loại giai đoạn ung thư vú theo hệ thống TNM Giai đoạn T N M 0 Tis N0 M0 IA T1 N0 M0 T0 N1mi M0 IB T1 N1mi M0 T0 N1 M0 IIA T1 N1 M0 T2 N0 M0 T2 N1 M0 IIB T3 N0 M0 T0 N2 M0 T1 N2 M0 IIIA T2 N2 M0 T3 N1 M0 T3 N2 M0 T4 N0 M0 IIIB T4 N1 M0 T4 N2 M0 IIIC Bất kỳ T N3 M0 IV Bất kỳ T Bất kỳ N M1 Bệnh nhân được phân loại giai đoạn từ 0, I đến IV bằng cách kết hợp đặc điểm TNM, trong đó giai đoạn 0 tương ứng với chưa xác định ung thư; giai đoạn I, II là ung 4 thư giai đoạn sớm; giai đoạn III tương ứng với bệnh tiến triển tại chỗ và giai đoạn IV tương ứng với bệnh di căn [29], [14]. Các biện pháp điều trị ung thư vú Lựa chọn điều trị ung thư vú phụ thuộc vào giai đoạn bệnh lúc chẩn đoán, đặc điểm bệnh học của khối u (thể mô bệnh học, độ mô học, tình trạng thụ thể nội tiết, HER2, chỉ số tăng sinh khối u, các đột biến gen, các yếu tố nguy cơ về gen…), tốc độ phát triển trên lâm sàng của bệnh, mong muốn của bệnh nhân và các bệnh mắc kèm [1], [10].
Bệnh nhân mắc ung thư vú ở giai đoạn sớm và tiến triển tại chỗ được điều trị với mục tiêu chữa khỏi bệnh [40]. Trong khi đó, mục tiêu điều trị của ung thư vú giai đoạn di căn hoặc tái phát là giúp giảm nhẹ các triệu chứng và duy trì hoặc cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Hiện nay, phần lớn tiếp cận điều trị là đa mô thức, thông qua phối hợp các biện pháp khác nhau giúp giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú.