Nghiên cứu xây dựng danh mục tương tác thuốc tại khoa Thận - Tiết niệu, Bệnh viện E

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xây dựng danh mục tương tác thuốc tại khoa thận tiết niệu bệnh viện E, góp phần nâng cao chất lượng điều trị.

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2017

73
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ TƯƠNG TÁC THUỐC

1.1. Khái niệm về tương tác thuốc

1.2. Phân loại tương tác thuốc

1.2.1. Tương tác dược động học

1.2.2. Tương tác dược lực học

1.3. Dịch tễ học tương tác thuốc

1.4. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến tương tác thuốc

1.4.1. Yếu tố liên quan đến thuốc

1.4.2. Yếu tố liên quan đến bệnh nhân

1.4.3. Yếu tố khác

1.5. Hậu quả của tương tác thuốc

1.6. Tương tác thuốc có ý nghĩa trong lâm sàng

1.7. Quản lí tương tác thuốc trên lâm sàng

1.8. Phương pháp phát hiện tương tác thuốc

1.9. Một số cơ sở dữ liệu thường dùng tra cứu tương tác thuốc hiện nay

1.10. Các biện pháp phòng ngừa tương tác thuốc

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu

2.4.2. Nội dung nghiên cứu

2.5. Xử lý số liệu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu

3.1.1. Tuổi và giới tính bệnh nhân

3.1.2. Đặc điểm bệnh lí và các phẫu thuật thủ thuật can thiệp trên nhóm bệnh nhân

3.1.3. Thời gian điều trị tại khoa và tình trạng bệnh nhân sau khi rời khoa

3.1.4. Chức năng thận ban đầu của nhóm bệnh nhân

3.2. Thực trạng tương tác thuốc tại Khoa Thận – Tiết niệu, Bệnh viện E

3.2.1. Số cặp tương tác thuốc xuất hiện trong quần thể nghiên cứu

3.2.2. Phân bố tương tác thuốc theo bệnh án

3.2.3. Phân bố tương tác thuốc theo đơn

3.2.4. Mức độ tương tác thuốc

3.2.5. Sự trùng hợp về kết quả tương tác thuốc khi tra cứu bằng 2 cơ sở dữ liệu

3.2.6. Mối tương quan giữa số lượng bệnh mắc phải và sự xuất hiện tương tác thuốc

3.2.7. Danh mục TTT có ý nghĩa lâm sàng

3.2.8. Đặc điểm tương tác thuốc trên nhóm bệnh nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu xây dựng danh mục tương tác thuốc tại khoa thận tiết niệu

Nghiên cứu xây dựng danh mục tương tác thuốc tại khoa thận tiết niệu Bệnh viện E là một bước quan trọng trong việc nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân. Tương tác thuốc có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt trong các trường hợp bệnh nhân có nhiều bệnh lý đồng thời. Việc xây dựng danh mục này không chỉ giúp bác sĩ và dược sĩ dễ dàng tra cứu mà còn nâng cao tính an toàn trong điều trị.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của tương tác thuốc

Tương tác thuốc là hiện tượng xảy ra khi một thuốc ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc khác. Điều này có thể dẫn đến tăng cường hoặc giảm hiệu lực của thuốc, gây ra phản ứng bất lợi cho bệnh nhân. Việc hiểu rõ về tương tác thuốc là rất cần thiết để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

1.2. Mục tiêu của nghiên cứu tại khoa thận tiết niệu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là khảo sát thực trạng tương tác thuốc tại khoa thận tiết niệu, từ đó xây dựng danh mục tương tác thuốc cần chú ý. Điều này nhằm giảm thiểu nguy cơ xuất hiện các biến cố bất lợi do tương tác thuốc trong quá trình điều trị.

II. Vấn đề và thách thức trong quản lý tương tác thuốc

Quản lý tương tác thuốc là một thách thức lớn trong thực hành lâm sàng. Sự đa dạng trong loại thuốc và bệnh lý của bệnh nhân làm tăng nguy cơ xảy ra tương tác. Các bác sĩ và dược sĩ cần phải nắm vững thông tin về tương tác thuốc để có thể đưa ra quyết định điều trị hợp lý.

2.1. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến tương tác thuốc

Nhiều yếu tố có thể làm tăng nguy cơ xảy ra tương tác thuốc, bao gồm số lượng thuốc bệnh nhân sử dụng, tính chất dược động học của thuốc, và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Việc nhận diện các yếu tố này là rất quan trọng để giảm thiểu rủi ro.

2.2. Hậu quả của tương tác thuốc trong điều trị

Tương tác thuốc có thể dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng, từ việc giảm hiệu quả điều trị đến việc gây ra các phản ứng bất lợi. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân mà còn làm tăng chi phí điều trị và thời gian nằm viện.

III. Phương pháp nghiên cứu xây dựng danh mục tương tác thuốc

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong việc xây dựng danh mục tương tác thuốc bao gồm khảo sát thực trạng, phân tích dữ liệu và xây dựng danh mục dựa trên các cơ sở dữ liệu hiện có. Việc này giúp đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của danh mục.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng khảo sát

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp hồi cứu, với đối tượng khảo sát là bệnh nhân điều trị tại khoa thận tiết niệu. Việc lựa chọn đối tượng phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo tính đại diện cho kết quả nghiên cứu.

3.2. Phân tích và xử lý dữ liệu

Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích để xác định các cặp tương tác thuốc phổ biến và mức độ nghiêm trọng của chúng. Việc xử lý dữ liệu chính xác sẽ giúp xây dựng danh mục tương tác thuốc có giá trị thực tiễn cao.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều cặp tương tác thuốc cần được chú ý trong điều trị tại khoa thận tiết niệu. Danh mục tương tác thuốc được xây dựng sẽ là công cụ hữu ích cho bác sĩ và dược sĩ trong việc quản lý thuốc cho bệnh nhân.

4.1. Danh mục tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng

Danh mục tương tác thuốc được xây dựng từ nghiên cứu sẽ bao gồm các cặp thuốc có nguy cơ cao gây ra phản ứng bất lợi. Điều này giúp các bác sĩ có thể dễ dàng tra cứu và đưa ra quyết định điều trị an toàn hơn.

4.2. Ứng dụng danh mục trong thực hành lâm sàng

Danh mục tương tác thuốc sẽ được áp dụng trong thực hành lâm sàng tại khoa thận tiết niệu, giúp nâng cao chất lượng điều trị và giảm thiểu nguy cơ xảy ra các biến cố bất lợi cho bệnh nhân.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu xây dựng danh mục tương tác thuốc tại khoa thận tiết niệu Bệnh viện E đã chỉ ra tầm quan trọng của việc quản lý tương tác thuốc trong điều trị. Tương lai, cần tiếp tục cập nhật và hoàn thiện danh mục này để đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong điều trị.

5.1. Tầm quan trọng của việc cập nhật danh mục

Danh mục tương tác thuốc cần được cập nhật thường xuyên để phản ánh các nghiên cứu mới và thay đổi trong thực hành lâm sàng. Điều này sẽ giúp đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong điều trị.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực tương tác thuốc

Cần có thêm nhiều nghiên cứu sâu hơn về tương tác thuốc, đặc biệt là trong các nhóm bệnh nhân đặc biệt như người cao tuổi hoặc bệnh nhân có nhiều bệnh lý đồng thời. Điều này sẽ giúp nâng cao hơn nữa chất lượng điều trị cho bệnh nhân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xây dựng danh mục tương tác thuốc tại khoa thận tiết niệu bệnh viện e

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tương tác thuốc là vấn đề đáng quan tâm trong thực hành lâm sàng. Đặc biệt trong các trạng thái đa triệu chứng, đa bệnh lí, nguy cơ xảy ra tương tác khi kết hợp nhiều thuốc càng cao. Tương tác thuốc có thể mang lại lợi ích nếu phối hợp đúng cách nhưng cũng có khi gây hại, làm giảm hiệu lực của thuốc, và là một trong những nguyên nhân gây ra phản ứng bất lợi của thuốc [1,36]. Nghiên cứu của Freistein J và cộng sự thực hiện năm 2015 tại các bệnh viện nhi ở Hoa Kỳ cho thấy các hậu quả có thể xảy ra do tương tác tiềm tàng được ghi nhận qua việc khảo sát đơn thuốc bao gồm độc tính gây ức chế hô hấp (chiếm 21% tổng số tương tác), tăng nguy cơ chảy máu (chiếm 5%), kéo dài khoảng QT (chiếm 4%), giảm hấp thu sắt (chiếm 4%), ức chế hệ thần kinh trung ương (chiếm 4%), tăng kali máu (chiếm 3%) và làm thay đổi hiệu lực của thuốc lợi tiểu (chiếm 3%) [21].

Thêm vào đó, tương tác thuốc có thể ảnh hưởng đến kinh tế do kéo dài thời gian nằm viện, tăng chi phí điều trị [30]. Phát hiện, đánh giá, xử trí và dự phòng tương tác thuốc đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả. Ngày nay, sự phát triển của nhiều cơ sở dữ liệu tra cứu tương tác thuốc đã hỗ trợ cán bộ y tế một cách đắc lực trong việc phát hiện và kiểm soát tương tác thuốc. Tuy nhiên, giữa các cơ sở dữ liệu này có sự khác biệt, không đồng nhất về việc phát hiện tương tác thuốc, mức độ nghiêm trọng và khuyến cáo xử trí, đồng thời cũng xảy ra việc liệt kê tương tác thuốc thiếu tính chọn lọc, không có ý nghĩa trong lâm sàng.

Điều này dẫn đến những khó khăn nhất định trong việc lựa chọn nguồn thông tin phù hợp đối với các bác sĩ và dược sĩ lâm sàng [12,38]. Chính vì vậy việc xây dựng danh mục tra cứu nhanh tương tác thuốc thực sự cần thiết trong thực hành lâm sàng. Khoa Thận - Tiết niệu, Bệnh viện E Hà Nội là một trong những khoa có số lượng bệnh nhân điều trị lớn, với loại hình bệnh tật đa dạng. Do đó, tương tác thuốc là một vấn đề rất cần được quan tâm trong điều trị.

Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng danh mục Tƣơng tác thuốc tại Khoa Thận - Tiết niệu, Bệnh viện E” với những mục tiêu sau: 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khảo sát đặc điểm bệnh nhân tại Khoa Thận - Tiết niệu, Bệnh viện E. Khảo sát thực trạng tƣơng tác thuốc tại Khoa Thận – Tiết niệu, Bệnh viện E. Xây dựng danh mục tƣơng tác thuốc cần chú ý tại Khoa Thận – Tiết niệu, Bệnh viện E.

Từ nghiên cứu này, chúng tôi hy vọng có thể góp phần nâng cao tính an toàn, hợp lý trong sử dụng thuốc, giảm thiểu nguy cơ xuất hiện các biến cố bất lợi do tương tác thuốc trên các bệnh nhân điều trị tại Khoa Thận - Tiết niệu, Bệnh viện E. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. Khái niệm về tƣơng tác thuốc Tương tác thuốc là sự thay đổi tác dụng hoặc độc tính của thuốc khi sử dụng đồng thời với thuốc khác, dược liệu, thức ăn, đồ uống hoặc hóa chất khác [1,5,36]. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, khái niệm “tương tác thuốc” chỉ đề cập đến tương tác thuốc - thuốc, là hiện tượng xảy ra khi sử dụng đồng thời hai hay nhiều thuốc.

Kết quả là làm tăng hoặc giảm tác dụng và độc tính của một trong các thuốc đó. Tương tác có thể gây hại, như warfarin làm chảy máu ồ ạt khi phối hợp với phenylbutazon [1]. Bệnh nhân dùng thuốc chống trầm cảm ức chế mono amino oxydase (MAOI) lên cơn tăng huyết áp cấp tính đe dọa tính mạng nếu chế độ ăn quá nhiều tyramin (chế phẩm từ sữa, phomat; hội chứng phomat (cheese syndrome) [1]. Liều thấp cimetidin cũng có thể làm tăng nồng độ theophylin trong huyết tương tới mức gây ngộ độc (co giật) [1].

Tương tác thuốc có khi làm giảm hiệu lực thuốc. Uống các tetracyclin hoặc fluoroquinolon cùng thuốc kháng acid hoặc chế phẩm của sữa sẽ tạo phức hợp và mất tác dụng kháng khuẩn [1]. Tương tác thuốc đôi lúc mang lại lợi ích đáng kể, như phối hợp thuốc hạ huyết áp với thuốc lợi tiểu để điều trị tăng huyết áp [1]. Tương tác thuốc có thể vừa lợi vừa hại (con dao 2 lưỡi), ví dụ kết hợp rifampicin với isoniazid để chống trực khuẩn lao (có lợi), nhưng dễ gây viêm gan (có hại) [1].

Nhìn chung, thầy thuốc chủ động phối hợp thuốc nhằm lợi dụng tương tác thuốc để tăng hiệu quả điều trị, giảm tác dụng phụ hoặc để giải độc thuốc. Tuy nhiên, trong thực tế điều trị có những tình huống thầy thuốc không lường trước được tương tác thuốc: cùng một thuốc, cùng một mức liều điều trị nhưng khi phối hợp với thuốc này lại giảm hoặc mất tác dụng; ngược lại khi phối hợp với thuốc kia, lại xảy ra ngộ độc. Kết quả là gây nguy hiểm cho bệnh nhân, giảm hiệu quả điều trị và có thể ảnh hưởng tới các kết quả xét 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệm khác [3,4,16]. Vì vậy, việc phát hiện, kiểm soát và xử trí tương tác thuốc có ý nghĩa rất quan trọng.

Phân loại tƣơng tác thuốc Tương tác thuốc được phân loại thành hai nhóm dựa trên cơ chế của tương tác, bao gồm tương tác dược dược động học và tương tác dược lực học [1,5]. Tƣơng tác dƣợc động học Tương tác dược động học là tương tác làm thay đổi một hay nhiều thông số cơ bản của các quá trính hấp thu, phân bố, chuyển hóa, thải trừ thuốc. Tương tác dược động học xảy ra trong suốt quá trình hoàn của thuốc trong cơ thể, khó đoán trước và không liên quan đến cơ chế tác dụng của thuốc [1,2,5]. *Tƣơng tác dƣợc động học trong quá trình hấp thu Tương tác thuốc làm thay đổi quá trình hấp thu thuốc theo một số cơ chế như thay đổi pH dạ dày, thay đổi nhu động tiêu hóa, tạo phức khó hấp thu giữa hai thuốc, do cản trở cơ học tạo lớp ngăn tiếp xúc với niêm mạc dạ dày [1,5].

*Tƣơng tác dƣợc động học trong quá trình phân bố Tương tác thuốc xảy ra khi một thuốc đẩy thuốc khác ra khỏi protein liên kết gây tăng nồng độ thuốc tự do, dẫn đến tăng tác dụng và tăng độc tính. Tương tác này đặc biệt có ý nghĩa với thuốc có tỉ lệ gắn vào protein huyết tương cao (trên 90%) và có phạm vi điều trị hẹp như: thuốc chống đông máu loại kháng vitamin K, sulfamid hạ đường huyết, thuốc chống ung thư, đặc biệt là methotrexat [2]. *Tƣơng tác dƣợc động học trong quá trình chuyển hóa Tương tác thuốc xảy ra khi phối hợp các thuốc chuyển hóa thuốc chủ yếu diễn ra ở gan với thành phần tham gia chuyển hóa là hệ enzym cytocrom P450 ở gan (CYP450). Hiện tượng cảm ứng hoặc ức chế enzym gan làm thay đổi chuyển hóa thuốc, dẫn đến làm tăng hoặc giảm tác dụng dược lý và độc tính của thuốc [1].

4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phụ nữ đang dùng thuốc tránh thai đường uống, nếu bị lao dùng thêm rifampicin, hoặc bị động kinh dùng thêm phenytoin, có thể sẽ bị “vỡ kế hoạch” do estrogen trong thuốc tránh thai bị giảm hiệu quả vì bị chuyển hóa nhanh, hàm lượng trở nên thấp [1]. *Tƣơng tác dƣợc động học trong quá trình thải trừ Các thuốc bị ảnh hưởng nhiều bởi tương tác này là những thuốc bài xuất chủ yếu qua thận ở dạng còn hoạt tính. Tương tác thuốc làm thay đổi quá trình thải trừ thuốc qua thận theo cơ chế như thay đổi pH nước tiểu, cạnh tranh chất mang với các thuốc thải trừ qua ống thận [1]. Dùng probenecid sẽ làm chậm thải trừ penicilin, thiazid làm giảm thải trừ acid uric nên có thể gây nên bệnh gut [2].

Tƣơng tác dƣợc lực học Tương tác dược lực học là loại tương tác đặc hiệu, có thể biết trước dựa vào tác dụng dược lý và phản ứng có hại của thuốc. Các thuốc có cùng cơ chế tác dụng sẽ có cùng kiểu tương tác dược lực học. Tương tác dược lực học xảy ra khi tác động dược lực của một thuốc bị thay đổi khi có mặt của một thuốc khác ở nơi tác động, có thể qua thụ thể hoặc không qua thụ thể [5]. - Tương tác gây tác dụng đối kháng: + Tương tác xảy ra khi 2 thuốc có cùng đích tác động trên một receptor: ví dụ như naloxon trên thụ thể opioid để giải độc các thuốc thuộc nhóm opioid.

+ Tương tác do đối kháng về tác dụng dược lí: thuốc chống đông và vitamin K. - Tương tác gây tác dụng hiệp lực: Khi phối hợp một số thuốc có cùng tác dụng dược lí có thể đem lại tác dụng hiệp lực. Tương tác giữa acid 5 folinic và 5-fluorouracil giúp tăng cường tác dụng gây độc tế bào của 5- fluorouracil được ứng dụng trong điều trị ung thư đại trực tràng. Dịch tễ học tƣơng tác thuốc Tương tác thuốc là một vấn đề thường xảy ra trên lâm sàng.

Tần suất xảy ra tương tác và hậu quả của tương tác thuốc xảy ra rất khác nhau, phụ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuộc rất lớn vào đối tượng nghiên cứu (bệnh nhân nội trú, bệnh nhân ngoại trú, bệnh nhân được chăm sóc tại gia đình, bệnh nhân trẻ tuổi hay bệnh nhân cao tuổi ), phụ thuộc vào phương pháp nghiên cứu (tiến cứu hay hồi cứu), loại tương tác được ghi nhận (bất kì tương tác nào hay chỉ tương tác gây ra ADR). Các nghiên cứu khác nhau, sử dụng các công cụ phát hiện tương tác thuốc khác nhau, trên các đối tượng khác nhau, cho kết quả đơn thuốc có tương tác thuốc bất lợi “tiềm tàng” rất cao (dao động từ 35-60%) [28]. Các cặp tương tác thuốc bất lợi “tiềm tàng” (Potential Adverse Drug Interaction): > 2500 cặp; tuy nhiên không phải lúc nào chúng cũng gây ra hậu quả hoặc được phát hiện trên thực tế lâm sàng [36]. Một nghiên cứu hồi cứu trên 520 bệnh nhân nhận thấy tương tác thuốc bất lợi “tiềm tàng” lên đến 51% trong các đơn thuốc bệnh nhân đang dùng (đánh giá tại thời điểm nhập viện), 63% trong đơn thuốc ra viện; trong đó tương tác thuốc được phần mềm xếp vào loại “Major” – tương tác thuốc nghiêm trọng tương ứng là 13% và 18%.

Tuy nhiên, trong số các trường hợp đơn thuốc nhập viện có tương tác thuốc “tiềm tàng”, chỉ có 2.4% bệnh nhân có lý do nhập viện liên quan đến tương tác thuốc [20]. Tương tác thuốc cũng là nguyên nhân liên quan đến các ADR.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ