Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ung thư là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên phạm vi toàn cầu, đứng thứ hai chỉ sau các bệnh lý tim mạch. Theo số liệu của Đài quan sát Ung thư Toàn cầu (GLOBOCAN) năm 2020, toàn thế giới ghi nhận khoảng 19,3 triệu ca mắc mới và gần 10 triệu trường hợp tử vong. Dự báo gánh nặng ung thư toàn cầu sẽ gia tăng lên 28,4 triệu ca vào năm 2040, tương ứng mức tăng 47% so với năm 2020. Bên cạnh những đau đớn về thể chất và gánh nặng tâm lý nặng nề cho người bệnh, chi phí điều trị căn bệnh này đang gia tăng nhanh chóng, vượt khỏi tầm kiểm soát của hệ thống y tế tại nhiều quốc gia, kể cả các nước có thu nhập cao.

Trong thực hành lâm sàng, nhiều trường hợp bệnh nhân chỉ được phát hiện khi bệnh đã tiến triển sang giai đoạn cuối (giai đoạn III và IV), thời điểm khối u đã xâm lấn rộng hoặc di căn xa, làm mất đi khả năng can thiệp điều trị đặc hiệu triệt căn. Dù các kỹ thuật y học hiện đại đã giúp kéo dài thời gian sống còn, quá trình quản lý và chăm sóc bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối vẫn là một thách thức phức tạp về thể chất, tâm lý và xã hội. Nhu cầu chăm sóc hỗ trợ (supportive care needs) là một khái niệm đa chiều, bao quát từ chăm sóc thể chất, tâm lý, tinh thần, hệ thống thông tin y tế, dịch vụ chăm sóc cho đến sức khỏe tình dục và tài chính. Các ghi nhận thực tiễn cho thấy có khoảng 27% đến 60,2% bệnh nhân ung thư phát sinh nhu cầu chăm sóc hỗ trợ ở các mức độ khác nhau; riêng khảo sát tại Nigeria năm 2019 ghi nhận gần 46% bệnh nhân có nhu cầu ở mức cao. Mặc dù việc can thiệp chăm sóc hỗ trợ sớm được chứng minh giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và kéo dài thời gian sống, việc cung cấp dịch vụ không sát với nhu cầu thực tế có thể gây lãng phí nguồn lực và dẫn đến các tác động bất lợi. Do đó, việc tổng quan và đánh giá toàn diện nhu cầu chăm sóc hỗ trợ là tiền đề bắt buộc trước khi hoạch định các dịch vụ y tế.

Khóa luận tốt nghiệp dược sĩ của tác giả Lê Thị Sao tại Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, Trường Đại học Dược Hà Nội (năm 2022) được thực hiện nhằm giải quyết câu hỏi nghiên cứu: "Nhu cầu chăm sóc hỗ trợ ở người bệnh ung thư giai đoạn cuối được đánh giá như thế nào?".

Đề tài xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định về nhu cầu chăm sóc hỗ trợ của người bệnh ung thư giai đoạn cuối.
  2. Xác định yếu tố liên quan đến nhu cầu chăm sóc hỗ trợ của người bệnh ung thư giai đoạn cuối.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các công trình nghiên cứu đánh giá nhu cầu chăm sóc hỗ trợ hoặc các mối quan tâm liên quan trực tiếp của bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối (giai đoạn III, IV), được xuất bản bằng tiếng Anh. Phạm vi không gian dữ liệu được giới hạn trên hai cơ sở dữ liệu điện tử y sinh quốc tế gồm PubMed/Medline và Cochrane Library, với phạm vi thời gian xuất bản từ ngày 01/01/2016 đến ngày 19/04/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng dựa trên các khái niệm bệnh học ung thư của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và hệ thống phân loại giai đoạn TNM (Tumor, Node, Metastasis) theo Hiệp hội Quốc tế Chống Ung thư (UICC 2010), từ giai đoạn 0 đến giai đoạn IV. Về khái niệm chuyên ngành, nghiên cứu áp dụng định nghĩa chăm sóc hỗ trợ của Hui (2014), xác định đây là phương pháp tiếp cận lấy con người làm trung tâm, bao gồm sự quan tâm chăm sóc về thể chất, tâm lý xã hội, tinh thần, nhận thức trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, thông tin bệnh học và chức năng tình dục.

Nền tảng lý luận của đề tài tích hợp hệ thống lý thuyết nhu cầu và y đức học:

  • Tháp nhu cầu cơ bản của Maslow gồm 5 bậc: nhu cầu sinh học, an toàn, xã hội, được tôn trọng và tự hoàn thiện.
  • Học thuyết 14 nhu cầu cơ bản của người bệnh theo Virginia Henderson làm cơ sở cho sự can thiệp của nhân viên y tế.
  • Các nguyên tắc đạo đức y học phương Tây: Không làm hại (Non-maleficence), Làm điều có lợi (Beneficence), Tự chủ/Tự quyết (Autonomy), Công bằng (Justice), Không bỏ rơi (Non-abandonment), và Nguyên tắc "Hệ quả kép" (Double Effect) với 4 điều kiện ràng buộc khi áp dụng các liệu pháp giảm nhẹ chuyên sâu.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo hình thức tổng quan hệ thống (Systematic Review), tuân thủ hướng dẫn của bảng kiểm PRISMA (Preferred Reporting Items for Systematic Reviews and Meta-Analyses). Chiến lược tìm kiếm tài liệu được thiết lập dựa trên khung tiêu chí PICOT:

  • P (Patients): Bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối.
  • I (Intervention): Phân tích, đánh giá.
  • C (Comparison): Nhu cầu chăm sóc hỗ trợ, nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ, nhu cầu chăm sóc chưa đáp ứng.
  • O (Outcomes): Đầu ra nhu cầu chăm sóc hỗ trợ.
  • T (Time): 01/01/2016 - 19/04/2022.

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được quản trị thông qua phần mềm EndNote X9 để loại bỏ trùng lặp và Microsoft Excel để trích xuất thông tin. Quá trình sàng lọc bài báo (đọc tiêu đề, tóm tắt và đọc toàn văn) do hai nghiên cứu viên thực hiện độc lập; các trường hợp bất đồng được giải quyết thông qua thảo luận hoặc ý kiến của người thứ ba.

Để đánh giá chất lượng phương pháp luận:

  • Các nghiên cứu quan sát cắt ngang được thẩm định bằng bộ công cụ đánh giá chất lượng của Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (NIH).
  • Nghiên cứu định tính được đánh giá bằng thang đo Hawker.

Phương pháp phân tích nội dung (content analysis) và phân tích nội dung tổng hợp được áp dụng để trích xuất, gom nhóm các lĩnh vực nhu cầu. Phân tích mô tả được sử dụng để tổng hợp mức độ phổ biến của các nhu cầu và các yếu tố liên quan do tính không đồng nhất về mặt thiết kế giữa các nghiên cứu gốc.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và y văn về dịch tễ học ung thư, các giai đoạn bệnh và các liệu pháp điều trị tạm thời/triệu chứng cho giai đoạn cuối như phẫu thuật tạm thời, xạ trị triệu chứng, hóa trị liệu, liệu pháp miễn dịch và điều trị trúng đích. Tác giả dẫn chứng dữ liệu dịch tễ từ GLOBOCAN qua các thời kỳ: năm 2008 (12,7 triệu ca mắc mới, 7,6 triệu ca tử vong), năm 2012 (14,1 triệu ca mắc mới, 8,2 triệu ca tử vong; ung thư phổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 1,8 triệu ca mắc mới và 1,59 triệu ca tử vong), năm 2018 (18,1 triệu ca mắc, 9,6 triệu ca tử vong), và tổn thất kinh tế toàn cầu ước tính xấp xỉ 1,16 nghìn tỷ USD vào năm 2010.

Chương này phân tích sâu 5 nhóm nhu cầu chăm sóc hỗ trợ chính: nhu cầu thông tin y tế, hỗ trợ thể chất - sinh hoạt, hỗ trợ tâm lý - tinh thần, hỗ trợ dịch vụ chăm sóc và tài chính, và nhu cầu tình dục. Đồng thời, tác giả rà soát 13 bộ công cụ đo lường chuyên biệt (CPNS, CPNQ, SCNS, HCS-PF, NEQ, PNAT, PINQ, PNI, TINQ-BC, INM, NSS, ISNQ, PPQ) và tổng kết các nghiên cứu tổng quan hệ thống tiền nhiệm tiêu biểu:

  • Nghiên cứu của Nicolas H. Hart và cộng sự (81 nghiên cứu): xác định nhu cầu cao nhất tập trung vào tài chính, hệ thống y tế, tâm lý, thể chất; chỉ ra mối liên hệ giữa trầm cảm, lo âu với nhu cầu chăm sóc chưa đáp ứng.
  • Nghiên cứu của A. Molassiotis và J. Y. Tan năm 2018 (50 nghiên cứu): nhận diện 12 lĩnh vực nhu cầu, trong đó thông tin y tế, tâm lý và thể chất là ba nhóm nổi bật nhất.
  • Nghiên cứu của N. Moghaddam và cộng sự (23 nghiên cứu): ghi nhận tỷ lệ phổ biến cao của các nhu cầu chưa đáp ứng và nhấn mạnh tính không đồng nhất trong phương pháp đo lường giữa các nghiên cứu.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thực nghiệm tổng quan hệ thống gồm 5 bước: xác định câu hỏi nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu, lựa chọn nghiên cứu và thu thập dữ liệu, đánh giá chất lượng bằng chứng, và phân tích - xử lý số liệu. Tác giả xác lập rõ ràng hệ thống tiêu chuẩn chọn lọc:

  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư giai đoạn cuối (giai đoạn III, IV); nghiên cứu báo cáo nhu cầu chăm sóc hỗ trợ được đo lường ở bệnh nhân hoặc các mối quan tâm trực tiếp; bài báo công bố toàn văn bằng tiếng Anh trong giai đoạn 01/01/2016 đến 19/04/2022.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Không báo cáo bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối; không có trọng tâm đánh giá nhu cầu chăm sóc hỗ trợ; không báo cáo đủ số liệu cần thiết; các bài báo dạng đề cương nghiên cứu (protocol); các nghiên cứu tập trung vào thẩm định, dịch thuật bộ công cụ; không tiếp cận được bản toàn văn; bài báo trùng lặp.

Quy trình sàng lọc 4 bước được chuẩn hóa qua sơ đồ PRISMA. Chương này cũng trình bày chi tiết biểu mẫu trích xuất dữ liệu trên Microsoft Excel (gồm các biến số về nghiên cứu, mẫu bệnh nhân, công cụ đo lường, tỷ lệ nhu cầu và các biến số tương quan) cùng nguyên tắc áp dụng thang điểm NIH và Hawker trong thẩm định chất lượng phương pháp luận.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày toàn bộ kết quả tổng hợp từ 9 nghiên cứu đủ điều kiện đưa vào tổng quan hệ thống sau quá trình sàng lọc nghiêm ngặt từ 1970 kết quả ban đầu.

Về mặt thẩm định chất lượng:

  • 8 nghiên cứu quan sát cắt ngang đánh giá bằng thang NIH gồm 6 nghiên cứu đạt chất lượng tốt và 2 nghiên cứu đạt chất lượng trung bình.
  • 1 nghiên cứu định tính đánh giá bằng thang Hawker đạt chất lượng trung bình. Không có nghiên cứu nào bị xếp loại chất lượng yếu.

Chương này tổng hợp chi tiết đặc điểm dịch tễ của 1762 bệnh nhân tham gia trong 9 nghiên cứu (dao động từ 39 đến 419 bệnh nhân mỗi nghiên cứu, tỷ lệ nam giới chiếm 56,2%, độ tuổi trung bình từ 52 đến 66 tuổi). Về mặt bệnh học, các nghiên cứu bao gồm bệnh nhân ung thư chung (3 nghiên cứu), ung thư phổi (3 nghiên cứu), ung thư đại trực tràng (2 nghiên cứu) và u thần kinh đệm (1 nghiên cứu).

Kết quả phân tích đã chuẩn hóa các nhu cầu chưa được đáp ứng thành 7 nhóm lĩnh vực chính: thể chất, sinh hoạt hàng ngày (ADL), tâm lý, hệ thống thông tin y tế, chăm sóc & hỗ trợ người bệnh, tài chính, và tình dục. Đồng thời, chương 3 làm rõ các mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa nhu cầu chăm sóc hỗ trợ với các nhóm biến số: nhân khẩu học (giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn), đặc điểm bệnh học (giai đoạn bệnh), và các yếu tố tâm lý xã hội (trầm cảm, lo âu, chất lượng cuộc sống).

Kết quả và đóng góp

Tổng quan hệ thống đã tổng hợp và chiết xuất số liệu từ 9 công trình nghiên cứu được công bố trong giai đoạn 2016 - 2022, được tóm tắt trong bảng sau:

STT Tác giả, năm, quốc gia Thiết kế nghiên cứu Cỡ mẫu, đối tượng Bộ công cụ Kết quả chính
1 Hammoda Abu-Odah và cs. (2022), Palestine Cắt ngang, nội/ngoại trú n = 404; Ung thư GĐ III (49,1%), GĐ IV (50,9%) SCNS-SF34 96,8% có ít nhất một nhu cầu ở mức "trung bình đến cao"; nhu cầu thể chất và tâm lý chưa đáp ứng cao nhất; 78,1% có mức đau khổ cao; gần 90% có dấu hiệu lo âu, trầm cảm.
2 Petrillo và cs. (2021), Mỹ Định tính, phỏng vấn bán cấu trúc n = 39; Ung thư phổi GĐ IV Bộ câu hỏi phỏng vấn Bệnh nhân thiếu hỗ trợ trong kiểm soát đau đớn, bất ổn về tài chính/công việc do không rõ tuổi thọ; mong muốn thông tin dễ hiểu và chăm sóc toàn diện.
3 Wang và cs. (2020), Trung Quốc Cắt ngang, nội trú n = 419; Ung thư GĐ III (33,9%), GĐ IV (66,1%) PNPC-sv Nhu cầu tài chính chiếm tỷ lệ cao nhất (chi tiêu thêm: 88,3%, mất thu nhập: 85,2%); nhu cầu thiếu thông tin (82,3%), đau đớn (69,7%), sợ đau khổ thể xác (64,9%).
4 Huang và cs. (2020), Singapore Tương quan mô tả cắt ngang n = 103; Ung thư phổi GĐ III (14,8%), GĐ IV (85,2%) SCNS-SF34 Điểm nhu cầu cao nhất ở lĩnh vực ADL (38,0 ± 20,9) và tâm lý (34,6 ± 20,7); thấp nhất ở tình dục (5,3 ± 9,7). Mục chưa đáp ứng cao nhất: không thể làm việc từng làm (28,2%), sợ lây lan (25,3%), mệt mỏi (25,2%).
5 Kuon và cs. (2019), Đức Cắt ngang, nội trú n = 217; Ung thư phổi GĐ III (16%), GĐ IV (84%) SCNS-SF34 Điểm nhu cầu trung bình 9,1/24 nhu cầu; 75,5% có ít nhất 1 nhu cầu chưa đáp ứng; nhu cầu cao nhất là bất định về tương lai (49,5%), thiếu năng lượng/mệt mỏi (47,6%), cảm thấy chán nản (44,7%).
6 Miniotti và cs. (2019), Ý Cắt ngang, ngoại trú n = 203; Ung thư đại trực tràng GĐ III, IV SCNS-SF34 76,8% có ít nhất 1 nhu cầu mức trung bình/cao. Tỷ lệ nhu cầu cao/trung bình: tâm lý (31,8%), thể chất & ADL (26,8%), thông tin y tế (17,1%), chăm sóc & hỗ trợ (8%).
7 Renovanz và cs. (2018), Đức Cắt ngang, ngoại trú n = 232; U thần kinh đệm PPQ 38% chán nản, 44% lo sợ, 39% căng thẳng/lo lắng. Bệnh nhân có tình trạng lâm sàng kém hơn có nguy cơ có nhu cầu chăm sóc hỗ trợ cao hơn.
8 Sakamoto và cs. (2017), Nhật Bản Cắt ngang, ngoại trú n = 100; Ung thư đại trực tràng giai đoạn cuối SCNS-SF34 10 nhu cầu phổ biến nhất thuộc tâm lý; dẫn đầu là sợ ung thư lây lan. Nhu cầu tương quan thuận với đau khổ tâm lý (r = 0,65) và tương quan nghịch với chất lượng cuộc sống (r = -0,38). Nữ có nhu cầu cao hơn nam.
9 Hasegawa T và cs. (2016/2017), Nhật Bản Cắt ngang, nội trú n = 45; Ung thư GĐ IV SCNS-SF34 Điểm nhu cầu trung bình là 17,4 (± 10,3); nhu cầu hàng đầu chưa được đáp ứng là không thể làm những việc từng làm (55,8%).

Các phát hiện về tỷ lệ phổ biến của các nhu cầu cụ thể chưa được đáp ứng theo từng lĩnh vực được tổng hợp tại bảng dưới đây:

Lĩnh vực nhu cầu Số lượng nghiên cứu Các nhu cầu cụ thể nổi bật Tỷ lệ chưa đáp ứng báo cáo trong các nghiên cứu
Thể chất 6 Thiếu năng lượng / mệt mỏi
Đau đớn
Các vấn đề về giấc ngủ
Nhiều lúc không được khỏe
35,8%
23,7%
62,6%
48,2%
Sinh hoạt hàng ngày (ADL) 7 Không thể làm việc bạn từng làm
Làm việc xung quanh nhà
26,3% - 55,8%
32,6%
Tâm lý 8 Quan tâm đến nỗi lo của người thân
Lo sợ ung thư lây lan
Học cách kiểm soát cảm xúc bản thân
Không chắc chắn về tương lai
Cảm thấy xuống tinh thần / chán nản
Lo lắng kết quả điều trị ngoài tầm kiểm soát
Cảm giác về cái chết
Sự đau khổ về thể xác
38,7%
37,9% - 70,0%
38,4%
36,7% - 49,5%
38,0% - 62,3%
47,6% - 60,0%
41,3%
64,9%
Tài chính 1 Nhu cầu tài chính chung
Chi tiêu thêm vì bệnh
Mất thu nhập do bệnh tật
85,2%
88,3%
85,2%
Hệ thống thông tin y tế 6 Được thông báo điều có thể làm giúp bản thân khỏe lại
Được thông báo kết quả kiểm tra sớm nhất
Có nhân viên bệnh viện để trao đổi mọi khía cạnh bệnh
Thông tin về kiểm soát bệnh và tác dụng phụ tại nhà
Thông tin ung thư đang được kiểm soát
Tiếp cận thông tin tư vấn chuyên nghiệp
Cung cấp thông tin bằng văn bản
Được điều trị cá thể hóa
17,5% - 72,0%
14,6% - 58,0%
14,1%
13,6%
12,5%
10,9%
8,6%
7,8%
Chăm sóc & hỗ trợ người bệnh 2 Nhân viên y tế kịp thời đáp ứng nhu cầu thể chất
Nhân viên y tế nhạy cảm với cảm xúc người bệnh
Nhân viên y tế trấn an cảm giác là bình thường
21,1%
18,4%
11,4%
Tình dục 2 Thay đổi cảm xúc tình dục
Thay đổi trong các mối quan hệ tình dục
28,3%
1,4%

Về các yếu tố liên quan, phân tích tổng quan chỉ ra:

  • Giới tính: Bệnh nhân nữ có mức độ nhu cầu hỗ trợ về thể chất, sinh hoạt hàng ngày và tâm lý cao hơn nam giới có ý nghĩa thống kê (được xác nhận trong các nghiên cứu của Sakamoto, Miniotti, Hasegawa và Abu-Odah).
  • Giai đoạn bệnh: Bệnh nhân ung thư giai đoạn IV ghi nhận mức độ nhu cầu cao hơn rõ rệt so với bệnh nhân giai đoạn III (ghi nhận tại 4 nghiên cứu: Abu-Odah, Miniotti, Renovanz, Sakamoto).
  • Yếu tố tâm lý xã hội: Tình trạng lo âu, trầm cảm và mức độ đau khổ tâm lý có mối tương quan thuận mạnh mẽ với tỷ lệ nhu cầu chăm sóc hỗ trợ chưa được đáp ứng trên tất cả các lĩnh vực. Ngược lại, chất lượng cuộc sống (QoL) có mối tương quan nghịch với nhu cầu chăm sóc (chất lượng cuộc sống càng thấp thì nhu cầu chưa đáp ứng càng cao).
  • Các yếu tố khác: Trình độ học vấn cao và tình trạng sống độc thân có xu hướng làm tăng nhu cầu thông tin và hỗ trợ tâm lý trong một số nghiên cứu; trong khi đó, tác động của tuổi tác và vị trí khối u chưa đạt được sự đồng thuận đồng nhất giữa các báo cáo.

Khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị ứng dụng:

  1. Thiết lập quy trình sàng lọc và đánh giá định kỳ nhu cầu chăm sóc hỗ trợ của bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối ngay tại thời điểm nhập viện và trong suốt quá trình điều trị, ưu tiên sử dụng bộ công cụ chuẩn hóa đa chiều như SCNS-SF34.
  2. Xây dựng các chương trình can thiệp cá thể hóa, tập trung ưu tiên cho các phân nhóm có nguy cơ cao (phụ nữ, bệnh nhân giai đoạn IV, người có biểu hiện trầm cảm, lo âu hoặc chất lượng cuộc sống thấp).
  3. Đẩy mạnh việc cung cấp thông tin y tế đa kênh, rõ ràng, bằng ngôn ngữ phổ thông; tăng cường đối thoại giữa nhân viên y tế và người bệnh nhằm giải tỏa tâm lý bất định về tương lai và hỗ trợ bệnh nhân quản lý triệu chứng mệt mỏi, đau đớn tại nhà.
  4. Mở rộng các chính sách hỗ trợ tài chính, bảo hiểm y tế và dịch vụ công tác xã hội để giảm bớt gánh nặng chi phí điều trị cho người bệnh giai đoạn cuối.

Về mặt đóng góp khoa học, công trình đã cập nhật và tổng hợp có hệ thống các bằng chứng nghiên cứu giai đoạn 2016 - 2022 về nhu cầu chăm sóc hỗ trợ ở bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, làm rõ sự chuyển dịch từ các mô hình chăm sóc thuần túy thể chất sang mô hình can thiệp toàn diện lấy người bệnh làm trung tâm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế nội tại:

  • Phạm vi tìm kiếm cơ sở dữ liệu chỉ giới hạn trên PubMed và Cochrane Library do hạn chế về nguồn lực, chưa bao quát các nguồn cơ sở dữ liệu quốc tế khác như EMBASE, CINAHL hay Web of Science.
  • Ngôn ngữ tìm kiếm chỉ chọn các bài báo viết bằng tiếng Anh, có thể bỏ sót các nghiên cứu giá trị được công bố bằng các ngôn ngữ khác.
  • Số lượng nghiên cứu thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn cuối cùng đưa vào tổng quan còn khiêm tốn (9 nghiên cứu).
  • Sự không đồng nhất đáng kể về phương pháp đánh giá, các công cụ đo lường và cách thức trình bày số liệu giữa các nghiên cứu gốc khiến đề tài không thể thực hiện phân tích gộp (meta-analysis) định lượng sâu hơn.
  • Đa phần các nghiên cứu được đưa vào là thiết kế quan sát cắt ngang, thiếu các nghiên cứu theo dõi dọc để đánh giá sự biến thiên của nhu cầu chăm sóc hỗ trợ theo thời gian sống còn của bệnh nhân.

Từ các hạn chế này, hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất là: mở rộng phạm vi tổng quan trên nhiều cơ sở dữ liệu điện tử đa ngôn ngữ; triển khai các nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu nhằm theo dõi dọc sự thay đổi nhu cầu chăm sóc hỗ trợ của người bệnh từ khi chẩn đoán ung thư giai đoạn cuối đến giai đoạn chăm sóc giảm nhẹ cuối đời; đồng thời thực hiện các nghiên cứu đánh giá nhu cầu thực tế trên các nhóm bệnh nhân ung thư tại Việt Nam để làm cơ sở xây dựng chính sách y tế phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho sinh viên, học viên sau đại học và giảng viên thuộc các chuyên ngành Dược học (đặc biệt là Quản lý và Kinh tế Dược, Dược lâm sàng), Y học (Ung bướu, Chăm sóc giảm nhẹ), Điều dưỡng và Y tế công cộng.

Tài liệu cung cấp giá trị tham khảo rõ nét ở hai khía cạnh:

  • Phương pháp luận nghiên cứu: Cung cấp cấu trúc mẫu chuẩn mực về quy trình tổng quan hệ thống y văn theo tiêu chuẩn quốc tế PRISMA, cách thức xây dựng chiến lược tìm kiếm theo khung PICOT, và phương pháp thẩm định chất lượng bài báo khoa học bằng thang đo NIH (cho nghiên cứu cắt ngang) và thang Hawker (cho nghiên cứu định tính).
  • Thực hành lâm sàng và quản lý: Hệ thống hóa danh mục các công cụ đánh giá nhu cầu (đặc biệt là thang đo SCNS-SF34) và cung cấp bức tranh số liệu định lượng chi tiết về các khoảng trống chăm sóc chưa được đáp ứng, giúp các bác sĩ, dược sĩ lâm sàng và điều dưỡng xây dựng kế hoạch chăm sóc giảm nhẹ toàn diện, tối ưu hóa phân bổ nguồn lực y tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng các nguồn cơ sở dữ liệu nào và kết quả sàng lọc cuối cùng thu được bao nhiêu nghiên cứu? Tác giả đã tìm kiếm trên hai cơ sở dữ liệu điện tử là PubMed/Medline và Cochrane Library trong giai đoạn từ 01/01/2016 đến 19/04/2022. Ban đầu tìm được 1970 bài báo (510 bài trên PubMed và 1460 bài trên Cochrane Library). Sau khi loại bỏ 120 bài trùng lặp qua phần mềm EndNote X9, sàng lọc 1850 bài qua tiêu đề và tóm tắt, và đọc toàn văn 76 bài, cuối cùng có 9 nghiên cứu đủ điều kiện được đưa vào tổng quan hệ thống.

2. Công cụ đo lường nào được sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu đánh giá nhu cầu chăm sóc hỗ trợ bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối? Trong số các nghiên cứu định lượng được đưa vào tổng quan, bộ công cụ Khảo sát Nhu cầu Chăm sóc Hỗ trợ phiên bản rút gọn 34 câu hỏi (SCNS-SF34) được sử dụng phổ biến nhất, xuất hiện trong 6 trên tổng số 9 nghiên cứu (nghiên cứu của Hammoda Abu-Odah, Huang, Kuon, Miniotti, Sakamoto, Hasegawa). Ngoài ra còn có công cụ PNPC-sv (1 nghiên cứu), PPQ (1 nghiên cứu) và bộ câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc riêng (1 nghiên cứu).

3. Những nhu cầu cụ thể nào có tỷ lệ chưa được đáp ứng cao nhất ở bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối? Về thể chất, mệt mỏi/thiếu năng lượng (35,8%) và các vấn đề giấc ngủ (62,6%) có tỷ lệ chưa đáp ứng cao. Về sinh hoạt hàng ngày, nhu cầu "không thể làm những việc bạn từng làm" chiếm 26,3% - 55,8%. Về tâm lý, lo sợ ung thư lây lan (37,9% - 70%), cảm giác xuống tinh thần/chán nản (38% - 62,3%) và nỗi sợ đau khổ thể xác (64,9%) là các mối bận tâm hàng đầu. Về tài chính, nghiên cứu của Wang ghi nhận tỷ lệ chưa đáp ứng lên tới 85,2% - 88,3%. Về thông tin y tế, nhu cầu được thông báo về những việc có thể làm để giúp bản thân khỏe lại dao động từ 17,5% đến 72%.

4. Những nhóm bệnh nhân nào có xu hướng ghi nhận nhu cầu chăm sóc hỗ trợ chưa đáp ứng ở mức cao hơn? Các nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh nhân nữ có nhu cầu hỗ trợ về thể chất, sinh hoạt hàng ngày và tâm lý cao hơn nam giới; bệnh nhân ở giai đoạn IV có mức độ nhu cầu cao hơn đáng kể so với giai đoạn III. Ngoài ra, những bệnh nhân có tình trạng đau khổ tâm lý, lo âu, trầm cảm hoặc có chất lượng cuộc sống (QoL) suy giảm là nhóm đối tượng có tỷ lệ nhu cầu chăm sóc hỗ trợ chưa được đáp ứng ở mức cao nhất.

5. Nghiên cứu định tính duy nhất được đưa vào tổng quan làm nổi bật khía cạnh tâm lý nào của người bệnh? Nghiên cứu định tính của Petrillo và cộng sự (2021) tại Mỹ trên 39 bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn IV làm nổi bật sâu sắc áp lực từ "sự không chắc chắn về tương lai". Bệnh nhân gặp khó khăn trong việc đưa ra các quyết định quản lý thời gian, công việc và tài chính do không rõ về tiên lượng thời gian sống, đồng thời khao khát được cung cấp thông tin y khoa bằng ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu và mong muốn một hệ thống hỗ trợ tích hợp toàn diện.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Sao đã thực hiện một tổng quan hệ thống chặt chẽ, tổng hợp bằng chứng từ 9 nghiên cứu công bố quốc tế để phác thảo toàn diện bức tranh nhu cầu chăm sóc hỗ trợ của bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối. Kết quả nghiên cứu chứng minh người bệnh phải đối mặt với nhiều thiếu hụt chưa được đáp ứng trải rộng trên các lĩnh vực thể chất, sinh hoạt hàng ngày, tâm lý, thông tin y tế và tài chính, trong đó các yếu tố như giới tính nữ, giai đoạn bệnh tiến triển, lo âu, trầm cảm và chất lượng cuộc sống kém có mối liên hệ mật thiết với mức độ gia tăng nhu cầu. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị cao về mặt phương pháp luận tổng quan y văn và cung cấp căn cứ thực tiễn quan trọng phục vụ công tác xây dựng các phác đồ chăm sóc giảm nhẹ toàn diện, lấy người bệnh làm trung tâm trong chuyên ngành Quản lý và Kinh tế Dược cũng như hệ thống y tế nói chung.