CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Khái quát về ung thư và ung thư giai đoạn cuối 1. Định nghĩa Theo tổ chức Y tế thế giới WHO (World Health Organization), Ung thư là một bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân gây ung thư thì tế bào tăng sinh một cách vô hạn, không tuân theo các cơ chế kiểm soát về mặt phát triển của cơ thể [5]. Phân loại ung thư a.
Phân loại theo TNM (Tumor Node Metastasis) Trên lâm sàng thường dùng xếp loại giai đoạn TNM theo Hiệp hội chống ung thư quốc tế (UICC 2010). Trong đó T (Tumor): Xét tới kích thước nguyên phát của khối u; N (Node): Xét tới mức độ lan rộng đến các hạch bạch huyết; M (Metastasis): Xét tới di căn. Tùy từng loại ung thư sẽ có phân lớp T, N, M khác nhau và từ đó có chẩn đoán giai đoạn bệnh khác nhau [4]. Phân loại theo giai đoạn Hầu hết các loại ung thư đều có 4 giai đoạn: Giai đoạn I đến IV, một số bệnh ung thư cũng có giai đoạn 0.
- Giai đoạn 0: Các tế bào bất thường có mặt nhưng không lây lan sang các mô lân cận. Giai đoạn này của ung thư hầu hết được loại bỏ toàn bộ khối u bằng cách phẫu thuật. - Giai đoạn I: Giai đoạn này thường là một khối u nhỏ hoặc khối u không phát triển sâu vào các mô lân cận, nó cũng không lan rộng tới các hạch bạch huyết hoặc các bộ phận khác của cơ thể. Nó thường được gọi là ung thư giai đoạn sớm.
- Giai đoạn II và III: Các giai đoạn này cho thấy ung thư hoặc khối u lớn hơn đã phát triển sâu hơn vào các mô gần đó, chúng cũng có thể lan tới các hạch bạch huyết nhưng không lan sang các phần khác của cơ thể. - Giai đoạn IV: Giai đoạn này có nghĩa là ung thư đã lan ra các cơ quan khác hoặc các bộ phận khác của cơ thể (ung thư di căn) [4]. Ung thư giai đoạn cuối( thường gồm giai đoạn III, IV) là giai đoạn mà khối u đã tấn công tới các khu vực khác của cơ thể, có các đặc điểm sau: - Tốc độ ung thư phát triển mạnh, khối u to lên, nhân rộng và gây ra nhiều biểu hiện phức tạp và biến chứng nguy hiểm tại các cơ quan mà nó di căn tới. 3 - Giai đoạn này, khối u sẽ gây ảnh hưởng tới nhiều cơ quan trong cơ thể [5].
Phương pháp điều trị ung thư giai đoạn cuối Tùy vào từng loại ung thư cũng như mỗi giai đoạn khác nhau thì sẽ phải áp dụng nhiều phương pháp điều trị khác nhau như phẫu thuật, xạ trị, hóa chất,… Một số phương pháp điều trị thường áp dụng cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối là: - Phẫu thuật: là phương pháp điều trị cơ bản với mục đích loại bỏ phần lớn tổ chức ung thư. Với bệnh nhân giai đoạn cuối thì phẫu thuật không lấy hết được tổ chức ung thư đã xâm lấn rộng ra xung quanh. Do vậy, việc tái phát tại chỗ kèm theo di căn xa là không thể tránh khỏi nếu người bệnh chỉ được điều trị bằng phẫu thuật đơn độc. Chính vì vậy, ở những bệnh nhân giai đoạn cuối có thể sử dụng phương pháp “phẫu thuật tạm thời” với các mục đích khác nhau (lấy bỏ khối u tối đa, phục hồi sự lưu thông, cầm máu,…).
- Xạ trị: tiêu diệt được các tế bào ung thư đã xâm lấn rộng ra vùng xung quanh tổ chức ung thư nguyên phát mà phẫu thuật không làm được. Tuy nhiên việc điều trị tia xạ sẽ gây tổn thương các tổ chức lành và không diệt được tế bào ung thư đã di căn xa hoặc những loại ung thư biểu hiện toàn thân (leukemia, u lympho ác tính…). Phương pháp “xạ trị triệu chứng” được chỉ định cho những bệnh nhân giai đoạn cuối với mục đích làm giảm và chống lại các biến chứng của ung thư như chống đau, chống chèn ép, chống chảy máu. - Hóa trị liệu: là phương pháp sử dụng các thuốc gây độc tế bào nhằm tiêu diệt các tế bào ác tính trong cơ thể người bệnh.
Phương pháp thường áp dụng cho ung thư có tính chất lây lan toàn thân hoặc ở giai đoạn cuối, có di căn xa. Những ung thư giai đoạn sớm nhưng tính chất ác tính cao, dễ di căn cũng sử dụng điều trị hóa chất để phòng ngừa và nâng cao hiệu quả điều trị. - Các phương pháp khác: Điều trị miễn dịch (miễn dịch thụ động không đặc hiệu và miễn dịch chủ động không đặc hiệu); điều trị ung thư đích [1, 9]. Dịch tễ học bệnh ung thư trên toàn thế giới Ung thư đã trở thành nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai chỉ sau bệnh tim mạch.
Theo cơ quan nghiên cứu Ung thư quốc tế thống kê từ 182 quốc gia trong chương trình GLOBOCAN năm 2008, tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư trên thế giới là 12,7 triệu ca mắc mới và 7,6 triệu ca tử vong [6]. Xu hướng mắc bệnh ung thư trên thế giới ngày càng gia tăng về cả số ca mắc mới và số ca tử vong. Cũng theo thống 4 kê của chương trình GLOBOCAN, năm 2012 trên thế giới có khoảng 14,1 triệu ca mắc mới; 8,2 triệu ca tử vong và khoảng 32,6 triệu người sống với ung thư (trong vòng 5 năm chẩn đoán). Loại ung thư phổ biến nhất là ung thư phổi với 1,8 triệu ca mắc mới, chiếm 13% tổng số các ca mắc mới của tất cả các bệnh ung thư và 1,59 triệu ca tử vong chiếm 19,4% tổng số các trường hợp tử vong của tất cả các bệnh ung thư [8].
Đến năm 2018, số ca mắc mới khoảng 18,1 triệu ca và 9,6 triệu ca tử vong do ung thư. Loại ung thư có số trường hợp tử vong cao nhất vẫn là ung thư phổi với 1,76 triệu ca tử vong, tiếp đến là ung thư đại trực tràng với 862.000 ca tử vong, ung thư dạ dày với 783.000 ca tử vong, ung thư gan với 782.000 ca tử vong và ung thư vú với 627.000 ca tử vong [22]. Tổng chi phí kinh tế hàng năm do ung thư năm 2010 ước tính xấp xỉ 1,16 nghìn tỷ dolar Mỹ trên toàn thế giới [21]. Khái quát về nhu cầu chăm sóc hỗ trợ 1.
Định nghĩa Chăm sóc hỗ trợ được định nghĩa là một cách tiếp cận chăm sóc lấy con người làm trung tâm bao gồm sự quan tâm và chăm sóc về thể chất, nhu cầu tâm lý xã hội, tinh thần, cũng như các nhu cầu liên quan đến sự thiếu hụt về mặt nhận thức trong hệ thống chăm sóc sức khỏe; cung cấp thông tin về bệnh và điều trị hoặc thậm chí nhu cầu về chức năng tình dục (Hui, 2014) [34]. Đánh giá nhu cầu chăm sóc hỗ trợ cho bệnh nhân ung thư được thiết kế để xác định mức độ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của bênh nhân đã được thỏa mãn hay chưa [22]. Một số công cụ đánh giá nhu cầu được thiết kế đặc biệt cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối (ví dụ: Đánh giá nhu cầu của bệnh nhân ung thư tiến triển, NA-ACP [41] ) đã được phát triển và sử dụng. Nguyên tắc chăm sóc hỗ trợ Nguyên tắc thứ nhất: Nghĩa vụ đạo đức của nhân viên y tế là làm giảm bớt khổ đau về thể chất, tâm lý hay xã hội…bất kể căn bệnh có thể được chữa khỏi hay không.
Nguyên tắc thứ hai: Chăm sóc hỗ trợ cần phải đáp ứng với bất kỳ đau khổ nào dù cấp tính hay mạn tính mà chưa được dự phòng hay giảm nhẹ một cách đầy đủ. Các loại hình và mức độ đau có thể thay đổi theo địa điểm, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, văn hóa, thời gian. Do đó công tác chăm sóc hỗ trợ và quy mô chăm sóc hỗ trợ cũng cần thay đổi theo từng nhóm người bệnh. 5 Nguyên tắc thứ ba: - Đánh giá các giá trị mà mỗi người bệnh trân trọng trong cuộc sống.