Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học mang tên Văn hóa ẩm thực người Việt Tây Nam Bộ trong phát triển du lịch – Trường hợp tỉnh Vĩnh Long, được thực hiện tại Trường Đại học Trà Vinh dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Phạm Tiết Khánh và TS Mai Mỹ Duyên.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tác giả xác định Tây Nam Bộ là một trong bảy vùng du lịch quan trọng của Việt Nam, với lượng khách nội địa ước đạt gần 32,2 triệu lượt (năm 2017), khoảng 2,3 triệu lượt khách quốc tế (năm 2017), và tổng lượng khách toàn vùng ước đạt 47 triệu lượt vào năm 2019. Riêng tỉnh Vĩnh Long đón 1,5 triệu khách năm 2019, tăng bình quân 10,4% mỗi năm. Bên cạnh tiềm năng đó, tác giả nhận định việc vận dụng giá trị văn hóa ẩm thực vào hoạt động du lịch tại địa phương chưa được khai thác đúng mức. Chính sách nhà nước thể hiện qua Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về "Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn", Đề án "Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù đồng bằng sông Cửu Long" của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, và Nghị quyết 01-NQ/TU của Tỉnh ủy Vĩnh Long về "Phát triển du lịch 2015–2020 và tầm nhìn đến năm 2030" đã tạo bối cảnh chính sách thúc đẩy yêu cầu nghiên cứu này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm rõ đặc điểm, ý nghĩa văn hóa ẩm thực người Việt; xác định vai trò và giá trị của văn hóa ẩm thực trong đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng và trong sự phát triển bền vững hoạt động du lịch văn hóa tại Tây Nam Bộ, trường hợp tỉnh Vĩnh Long. Các nhiệm vụ gồm: hệ thống lý luận về văn hóa ẩm thực, du lịch và sản phẩm du lịch; vận dụng lý thuyết để tìm hiểu các yếu tố tác động đến sự hình thành văn hóa ẩm thực; thu thập, phân tích dữ liệu làm rõ đặc điểm và vai trò của văn hóa ẩm thực trong đời sống và hoạt động du lịch; đề xuất khuyến nghị khai thác hiệu quả văn hóa ẩm thực trong phát triển du lịch.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi thứ 1: Điều kiện tự nhiên, xã hội Tây Nam Bộ và tỉnh Vĩnh Long đã tác động như thế nào đến văn hóa ẩm thực người Việt nơi đây?
- Câu hỏi thứ 2: Đặc trưng văn hóa ẩm thực của người Việt được nhận diện thông qua những biểu hiện cụ thể gì?
- Câu hỏi thứ 3: Văn hóa ẩm thực của người Việt Tây Nam Bộ cần được khai thác, phát huy như thế nào trong hoạt động du lịch ở tỉnh Vĩnh Long?
Tương ứng, ba giả thuyết được đặt ra: (1) Văn hóa ẩm thực người Việt Vĩnh Long vừa mang đặc trưng văn hóa vùng, vừa có nét riêng do quá trình cộng cư và dung hợp văn hóa; (2) đặc trưng đó được nhận diện qua nguyên vật liệu, phương pháp chế biến, khẩu vị, không gian, cách thức thưởng thức và đặc sản địa phương; (3) văn hóa ẩm thực không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất mà còn được đưa vào hoạt động du lịch, góp phần phát triển kinh tế–xã hội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là văn hóa ẩm thực của người Việt tỉnh Vĩnh Long, xem xét trên các phương diện khai thác nguồn nguyên liệu, kỹ thuật chế biến, cách thưởng thức và không gian ẩm thực. Về không gian, luận án nghiên cứu điều kiện chung của vùng Tây Nam Bộ và lấy tỉnh Vĩnh Long làm trường hợp đại diện, với lý do Vĩnh Long hội tụ đầy đủ đặc trưng của cả vùng về điều kiện tự nhiên, lịch sử cộng cư ba dân tộc Việt–Hoa–Khmer, và các loại hình du lịch phổ biến. Về thời gian, tài liệu mô tả, nhận định sử dụng nguồn trước và sau năm 1975; số liệu so sánh, đối chiếu được giới hạn trong khoảng 2015–2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước được tác giả điểm lại
Tác giả tổ chức tổng quan theo ba nhóm tài liệu lớn.
Nhóm 1 – Cơ sở lý luận về văn hóa và tiếp biến văn hóa:
Tài liệu nước ngoài gồm: Theory of Culture Change. The Methodology of Multilinear Evolution (1955) của Julian H. Steward, làm rõ mối quan hệ tương tác giữa môi trường và văn hóa; Ethnicity and Acculturation in a Culturally Diverse Country (2000) của Guilherme Pires và John Stanton đăng trên Multilingual and Multicultural Development Magazine, đề xuất tôn trọng sự khác biệt văn hóa trong cộng đồng đa dân tộc; Globalisation and acculturation (2008) của John W. Berry đăng trên International Journal of Intercultural Relations tập 32, số 4, nêu ba luận điểm về quy luật tiếp biến văn hóa; Introduction to Cultural Ecology (2010) của Mark Q. Anderson, khám phá cách thức thích ứng với môi trường của các nền văn hóa truyền thống; Theories and Models of Acculturation (2017) của John W. Berry, tiếp cận tiếp biến văn hóa từ góc độ tâm lý học xã hội.
Tài liệu trong nước gồm: Việt Nam văn hóa sử cương (1992) của Đào Duy Anh (định nghĩa "văn hóa tức là sinh hoạt"); Văn hóa học (1997) của Đoàn Văn Chúc (tiếp cận liên ngành); Cơ sở văn hóa Việt Nam (1998) do Trần Quốc Vượng chủ biên; Cơ sở văn hóa Việt Nam (1999) của Trần Ngọc Thêm (định nghĩa văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị); bài viết Giao lưu tiếp biến văn hóa ở cộng đồng đa dân tộc (Việt, Khmer, Hoa) (2011) của PGS. TS Nguyễn Ngọc Thu; Tiếp biến văn hóa Việt Nam dưới góc nhìn lý thuyết hệ thống (2014) của PGS. TS Nguyễn Thừa Hỷ (Đại học Quốc gia Hà Nội); Thuyết sinh thái văn hóa và ứng dụng nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam (2016) của PGS. TS Ngô Thị Phương Lan (Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia TP. HCM); Bàn về sinh thái nhân văn và phát triển bền vững (2017) của Phan Thị Anh Đào, Lê Trọng Cúc và Hoàng Văn Thắng.
Nhóm 2 – Nghiên cứu ẩm thực và văn hóa ẩm thực:
Tài liệu nước ngoài gồm: Food and Culture (tái bản lần 4, 2008) của Carole Counihan và Penny Van Esterik; Food Culture in Southeast Asia (2008) của Penny Van Esterik; Food Cultures of the World Encyclopedia (2011) do Ken Albala biên tập (tập 3 đề cập văn hóa ẩm thực Việt Nam); hai bài viết The Diverse Cuisine of Southeast Asia và Basic Foods in Southeast Asia trên foodnetwork.com; tiểu luận The Thai Food Culture trên majortests.com.
Tài liệu trong nước gồm: Phong vị thời khẩn hoang trong món ăn miền Nam (2000) của Sơn Nam; Văn hóa ẩm thực Việt Nam – Các món ăn Miền Nam (2001) của Mai Khôi; Văn hóa ẩm thực Việt Nam (2002) của Vũ Ngọc Khánh và cộng sự; Văn hóa ẩm thực Trà Vinh (2003) của Lê Tân; Giáo trình Văn hóa ẩm thực (2008) của Nguyễn Nguyệt Cầm; Bản sắc ẩm thực Việt Nam (2009) của Nguyễn Nhã; Văn hóa ẩm thực Việt Nam nhìn từ lý luận và thực tiễn (2010) của Trần Quốc Vượng và Nguyễn Thị Bảy; Văn hóa ẩm thực trong lễ hội truyền thống Việt Nam (2012) của Nguyễn Quang Lê.
Nhóm 3 – Nghiên cứu khai thác văn hóa ẩm thực trong phát triển du lịch:
Tác giả điểm lại quá trình hình thành loại hình du lịch ẩm thực: xuất hiện trên thế giới năm 1985; được Wilbur Zelinsky định danh sớm nhất qua thuật ngữ "Gastronomic Tourism"; Lucy M. Long sử dụng "Culinary Tourism" năm 1998 trên tạp chí Southern Folklore; Colin Michael Hall và Richard Mitchell đề xuất "Food Tourism" năm 2001. Tại Việt Nam, tác giả dẫn các nghiên cứu của Vương Xuân Tình, Trần Dũng, Nguyễn Nhã, Như Hoa, Trần Thị Mai An, Phan Thị Thu Hiền, Nguyễn Đình Toàn cùng nhiều tác giả khác liên quan đến thực hành văn hóa ẩm thực trong du lịch.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Qua tổng quan, tác giả xác định: trong 22 tài liệu có tên là "Văn hóa ẩm thực" được tiếp cận, không tài liệu nào đưa ra định nghĩa khái quát và đầy đủ về khái niệm này. Các công trình về Tây Nam Bộ dừng ở mức giới thiệu, mô tả sơ lược các giá trị nổi bật, chưa phân tích hệ thống các yếu tố cấu thành văn hóa ẩm thực người Việt trong mối quan hệ biện chứng với môi trường sinh thái tự nhiên và xã hội. Đặc biệt, việc vận dụng các giá trị văn hóa ẩm thực nhằm cân bằng giữa hiệu quả kinh tế và bảo tồn văn hóa tại tỉnh Vĩnh Long chưa được đề cập trong bất kỳ công trình nào trước đó.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng ba lý thuyết chính:
- Lý thuyết Sinh thái văn hóa (Cultural Ecology) của Julian H. Steward – lý giải cách lưu dân Việt thích nghi với môi trường tự nhiên Tây Nam Bộ, hình thành các mô thức ứng xử văn hóa trong ẩm thực.
- Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Acculturation) của John W. Berry (2008, 2017) – phân tích quá trình giao lưu, tiếp xúc và biến đổi văn hóa ẩm thực giữa các cộng đồng Việt–Hoa–Khmer tại Tây Nam Bộ.
- Lý thuyết Sinh thái nhân văn – được tác giả tham chiếu qua công trình Bàn về sinh thái nhân văn và phát triển bền vững (2017) để làm cơ sở đề xuất các giải pháp khai thác ẩm thực trong du lịch theo hướng bền vững.
Khung phân tích được xây dựng trên hệ tọa độ ba chiều của Trần Ngọc Thêm: con người (người Việt ở Tây Nam Bộ) – không gian (tỉnh Vĩnh Long và vùng Tây Nam Bộ) – thời gian (quá trình hơn 300 năm khẩn hoang đến nay).
Luận án đề xuất định nghĩa làm việc về văn hóa ẩm thực: "Văn hóa ẩm thực là một trong những tinh hoa của văn hóa dân tộc (cộng đồng, địa phương); là sự kết hợp sinh động, hài hòa của văn hóa vật thể (món ăn, thức uống, dụng cụ chế biến) và văn hóa phi vật thể (cách thức chế biến, cách bảo quản, cách bày trí, những điều kiêng kỵ, gắn với tập quán và phong tục); là sự phản ánh lịch sử vùng đất và đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của một cộng đồng trên hai phương diện: sáng tạo và hưởng thụ."
Phương pháp nghiên cứu
Luận án theo hướng nghiên cứu định tính, tiếp cận liên ngành (lịch sử học, du lịch học, môi trường học, dân tộc học), sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
- Thống kê và phân loại: hệ thống hóa các loại nguyên liệu chế biến, cách thức chế biến món ăn, các loại ẩm thực trong những không gian văn hóa tương ứng.
- Quan sát tham dự: tác giả trải nghiệm thực tiễn tại các gia đình, làng nghề, điểm–khu du lịch, nhà hàng, quán ăn; đối chiếu với tri thức của người nghiên cứu trước.
- Phỏng vấn sâu: thu thập thông tin qua đối thoại có chủ đích với các nhà nghiên cứu văn hóa ẩm thực, cán bộ cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa–du lịch, chủ hộ kinh doanh điểm du lịch, nhà hàng, quán ăn, nghệ nhân và bếp trưởng.
- Tổng hợp, phân tích và so sánh: làm rõ sự tác động của các điều kiện lịch sử, tự nhiên và xã hội đến văn hóa ẩm thực người Việt.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Tác giả tiến hành khảo sát thực địa từ tháng 9/2019 đến tháng 2/2020, bao gồm: 3 khu du lịch (1 liên doanh, 2 tư nhân); 3 điểm vườn trái cây (xã An Bình và Bình Hòa Phước, huyện Long Hồ); 12 cơ sở du lịch Homestay; 10 nhà hàng, quán ăn; phỏng vấn sâu 43 người gồm các nhà quản lý văn hóa và du lịch, đầu bếp, nông dân. Tài liệu thứ cấp là các báo cáo hoạt động kinh doanh du lịch của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch các tỉnh Tây Nam Bộ giai đoạn 2017–2019, cùng các sách, bài báo, tham luận trong và ngoài nước đã công bố.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này hệ thống các công trình liên quan theo ba nhóm: nghiên cứu về văn hóa, ẩm thực và văn hóa ẩm thực; nghiên cứu về du lịch và khai thác văn hóa ẩm thực trong phát triển du lịch; nghiên cứu về lịch sử, văn hóa Tây Nam Bộ và tỉnh Vĩnh Long. Luận điểm trọng tâm của chương là: trong số các tài liệu được tiếp cận, chưa có công trình nào đưa ra định nghĩa đầy đủ về văn hóa ẩm thực; các nghiên cứu về Tây Nam Bộ chỉ dừng ở mức mô tả; và việc vận dụng giá trị văn hóa ẩm thực vào du lịch tại tỉnh Vĩnh Long gắn với bảo tồn bền vững là khoảng trống chưa được lấp đầy. Chương này cũng đặt nền móng cho nhận định: văn hóa ẩm thực người Việt Tây Nam Bộ là thành quả của hơn 300 năm khẩn hoang, dung hợp và thích ứng, vừa mang đặc trưng vùng vừa mang sắc thái riêng từ quá trình cộng cư của cộng đồng Việt–Hoa–Khmer–Chăm.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương hai thực hiện hai nhiệm vụ song hành. Về lý luận, tác giả phân tích các khái niệm công cụ của đề tài: khái niệm văn hóa (dẫn theo Đào Duy Anh 1992, Trần Ngọc Thêm 1999, Edward Burnett Tylor 1871 và định nghĩa của UNESCO), khái niệm ẩm thực (từ Hán Việt, giải nghĩa trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của), khái niệm văn hóa ẩm thực (tổng hợp từ Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Quang Lê và nhiều tác giả khác). Đặc biệt, chương trình bày định nghĩa làm việc do tác giả đề xuất về văn hóa ẩm thực. Tác giả cũng nêu khái niệm du lịch (từ gốc Hy Lạp "Tonus", Latinh hóa thành "Turnus", tiếng Pháp "tour"; thuật ngữ "tourist" xuất hiện lần đầu trong từ điển tiếng Anh năm 1800 theo Robert Lanquar). Về thực tiễn, chương khái lược đặc điểm địa lý, lịch sử và văn hóa vùng Tây Nam Bộ, sau đó đi sâu vào tỉnh Vĩnh Long – nơi Vĩnh Long tiếp giáp bảy tỉnh/thành, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, có lịch sử 300 năm khẩn hoang lập ấp và là nơi cộng cư của ba dân tộc Việt–Hoa–Khmer.
Chương 3: Đặc trưng văn hóa ẩm thực người Việt tỉnh Vĩnh Long
Đây là chương trình bày phát hiện điền dã trực tiếp của luận án, tổ chức theo bốn nội dung lớn.
Nguồn nguyên liệu và phương thức chế biến: tác giả mô tả các nguồn nguyên liệu địa phương gắn với điều kiện sông nước và nông nghiệp Tây Nam Bộ; phân tích các phương pháp chế biến truyền thống phản ánh sự sáng tạo và thích ứng của người Việt.
Khẩu vị, không gian và cách thưởng thức: chương làm rõ đặc trưng khẩu vị người Việt Tây Nam Bộ; không gian thưởng thức ẩm thực gắn với môi trường sông nước; phân tích "Nhậu" như một sắc thái văn hóa ẩm thực đặc trưng của vùng.
Ẩm thực trong một số thành tố văn hóa: phân tích sự hiện diện của ẩm thực trong phong tục tập quán, trong văn học dân gian và trong y học dân gian của người Việt Tây Nam Bộ. Những mô tả này được đối chiếu với kết quả khảo sát tại 12 cơ sở Homestay, 10 nhà hàng, quán ăn và 3 khu du lịch.
Đặc sản ẩm thực tỉnh Vĩnh Long: tác giả nhận diện và phân loại các đặc sản ẩm thực của tỉnh, trình bày chi tiết tại phần từ trang 108 đến trang 115. Phụ lục 2 của luận án lập danh sách các món ăn, thức uống và đặc sản của người Việt tỉnh Vĩnh Long và Tây Nam Bộ, phản ánh độ phong phú của hệ thống ẩm thực địa phương.
Chương 4: Khai thác văn hóa ẩm thực người Việt tỉnh Vĩnh Long trong phát triển du lịch Tây Nam Bộ
Chương này chuyển từ nhận diện đặc trưng sang phân tích ứng dụng, tổ chức theo ba nội dung.
Giá trị văn hóa ẩm thực trong phát triển du lịch: tác giả phân tích giá trị kinh tế (ẩm thực là nhân tố tạo hút khách, gia tăng chi tiêu tại điểm đến) và giá trị xã hội (ẩm thực giúp phân biệt điểm đến, tăng sự hài lòng và tỷ lệ viếng thăm trở lại của du khách). Tác giả trích dẫn nhận định: "Ẩm thực ngày càng có tiềm năng để nâng cao hình ảnh của một điểm đến, cũng như sự hài lòng và viếng thăm trở lại của du khách. Song song đó, các nghiên cứu cũng cho thấy rằng ẩm thực là một công cụ tác động đến nhận thức và giúp du khách phân biệt các điểm đến tương tự nhau."
Hiện trạng khai thác văn hóa ẩm thực trong hoạt động du lịch tỉnh Vĩnh Long: chương ghi nhận hiện trạng khai thác ẩm thực từ các làng nghề ẩm thực, tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch và tại các cơ sở Homestay. Số liệu khảo sát tại 3 điểm vườn trái cây (xã An Bình và Bình Hòa Phước, huyện Long Hồ), 12 cơ sở Homestay và 10 nhà hàng, quán ăn được sử dụng làm cơ sở minh chứng. Các phỏng vấn sâu 43 người (trang 31 trở đi của Phụ lục 4) cung cấp tư liệu dẫn chứng cho các nhận định.
Nhận định và lộ trình xây dựng sản phẩm du lịch ẩm thực: tác giả đánh giá thành tựu và hạn chế trong việc khai thác văn hóa ẩm thực, từ đó đề xuất lộ trình xây dựng sản phẩm du lịch ẩm thực tỉnh Vĩnh Long (trình bày từ trang 134 đến trang 145).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về lý luận
Luận án đề xuất một định nghĩa về văn hóa ẩm thực có tính hệ thống trong mối quan hệ biện chứng giữa môi trường tự nhiên và xã hội nhân văn – điểm mà tác giả xác định là chưa có trong 22 tài liệu được khảo sát. Luận án hệ thống, phân loại và phân tích các đặc điểm cơ bản của văn hóa ẩm thực người Việt trong sự tác động bởi các điều kiện lịch sử, tự nhiên và xã hội của vùng Tây Nam Bộ và tỉnh Vĩnh Long. Qua đó, đặt nền móng lý luận cho việc nhìn nhận văn hóa ẩm thực người Việt Tây Nam Bộ là "loại hình văn hóa vừa vật chất vừa tinh thần (vừa vật thể vừa phi vật thể)".
Đóng góp về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho việc xây dựng Đề án phát triển văn hóa và du lịch ở Vĩnh Long giai đoạn tới. Đồng thời cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng các chương trình, kế hoạch bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ giao lưu và hội nhập quốc tế.
Kiến nghị và giải pháp
Luận án đề xuất lộ trình xây dựng sản phẩm du lịch ẩm thực đặc thù cho tỉnh Vĩnh Long và hướng phát triển du lịch văn hóa ẩm thực Tây Nam Bộ theo hướng bền vững, cân bằng giữa khai thác kinh tế và bảo tồn giá trị văn hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Tác giả thừa nhận điều kiện sưu tập tài liệu có giới hạn, đặc biệt là các bài viết chuyên về văn hóa ẩm thực người Việt ở Tây Nam Bộ qua nhãn quan của người nước ngoài còn rất ít và chưa được phát hiện trong quá trình thu thập tài liệu. Phạm vi khảo sát thực địa được tiến hành trong giai đoạn từ tháng 9/2019 đến tháng 2/2020, giới hạn về thời gian có thể ảnh hưởng đến mức độ bao quát của dữ liệu. Do đề tài tập trung vào người Việt, các nghiên cứu so sánh hệ thống văn hóa ẩm thực giữa ba cộng đồng Việt–Hoa–Khmer tại Vĩnh Long vẫn là hướng cần tiếp tục. Ngoài ra, sự biến đổi văn hóa ẩm thực trong bối cảnh biến đổi khí hậu và chuyển đổi nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long là vấn đề mà tác giả gợi mở nhưng chưa đi sâu phân tích.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Văn hóa học, Du lịch học, Nhân học, Dân tộc học: phần Cơ sở lý thuyết (Chương 2) với việc vận dụng lý thuyết Sinh thái văn hóa và Tiếp biến văn hóa vào nghiên cứu ẩm thực địa phương là tư liệu có ích. Phần Tổng quan tài liệu (Chương 1) cũng cung cấp danh mục tương đối hệ thống các tài liệu trong và ngoài nước về văn hóa ẩm thực Việt Nam.
- Người làm chính sách và quản lý du lịch tại tỉnh Vĩnh Long và các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long: phần lộ trình xây dựng sản phẩm du lịch ẩm thực (Chương 4, từ trang 134) và phần nhận định thành tựu–hạn chế trong khai thác văn hóa ẩm thực là tư liệu thiết thực cho việc hoạch định chính sách.
- Nhà kinh doanh du lịch và Homestay: phần hiện trạng khai thác văn hóa ẩm thực tại các cơ sở du lịch, làng nghề và Homestay (Chương 4) cung cấp bức tranh thực trạng có thể đối chiếu với thực tế địa phương.
- Nhà nghiên cứu văn hóa vùng Nam Bộ: Phụ lục 2 (Danh sách các món ăn uống, đặc sản của người Việt tỉnh Vĩnh Long và Tây Nam Bộ) và Phụ lục 3 (Hình ảnh khảo sát thực địa ở Vĩnh Long) là nguồn tư liệu điền dã có thể dùng cho các nghiên cứu so sánh.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao tác giả chọn tỉnh Vĩnh Long làm trường hợp nghiên cứu thay vì một tỉnh khác ở Tây Nam Bộ?
Tác giả lý giải rằng Vĩnh Long nằm ở vị trí trung tâm vùng Tây Nam Bộ, tiếp giáp bảy tỉnh/thành, đất đai được bồi đắp bởi phù sa của sông Tiền và sông Hậu, hội tụ đầy đủ các sản phẩm nông nghiệp của cả vùng. Quan trọng hơn, Vĩnh Long là nơi cộng cư của ba dân tộc Việt–Hoa–Khmer với quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa diễn ra mạnh mẽ trong lịch sử, và có đủ các loại hình du lịch phổ biến ở Tây Nam Bộ (sinh thái, tâm linh, sông nước miệt vườn, Homestay). Những điều kiện này khiến Vĩnh Long có tính đại diện cao cho cả vùng.
2. Luận án đề xuất định nghĩa văn hóa ẩm thực như thế nào và điểm khác biệt so với các định nghĩa trước là gì?
Luận án đề xuất: "Văn hóa ẩm thực là một trong những tinh hoa của văn hóa dân tộc (cộng đồng, địa phương); là sự kết hợp sinh động, hài hòa của văn hóa vật thể (món ăn, thức uống, dụng cụ chế biến) và văn hóa phi vật thể (cách thức chế biến, cách bảo quản, cách bày trí, những điều kiêng kỵ, gắn với tập quán và phong tục); là sự phản ánh lịch sử vùng đất và đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của một cộng đồng trên hai phương diện: sáng tạo và hưởng thụ." Điểm khác biệt là định nghĩa này tích hợp cả chiều vật thể lẫn phi vật thể, đồng thời gắn với lịch sử vùng đất – điều mà 22 tài liệu được tác giả khảo sát đều chưa thể hiện đầy đủ.
3. Phương pháp khảo sát thực địa của luận án bao gồm những gì và được tiến hành trong thời gian nào?
Khảo sát được tiến hành từ tháng 9/2019 đến tháng 2/2020, bao gồm: 3 khu du lịch (1 liên doanh, 2 tư nhân); 3 điểm vườn trái cây tại xã An Bình và Bình Hòa Phước, huyện Long Hồ; 12 cơ sở du lịch Homestay; 10 nhà hàng, quán ăn; và phỏng vấn sâu 43 người gồm các nhà quản lý văn hóa và du lịch, đầu bếp, nông dân.
4. Loại hình du lịch ẩm thực (Food Tourism/Culinary Tourism) xuất hiện khi nào và ai là người đặt nền móng lý luận?
Theo tổng quan của tác giả, loại hình du lịch ẩm thực xuất hiện trên thế giới vào năm 1985. Wilbur Zelinsky là người định danh về mặt lý luận sớm nhất qua thuật ngữ "Gastronomic Tourism". Lucy M. Long sử dụng "Culinary Tourism" năm 1998 trên tạp chí Southern Folklore. Colin Michael Hall và Richard Mitchell đề xuất thuật ngữ "Food Tourism" vào năm 2001.
5. Tác giả nhận định thế nào về tính "nhậu" trong văn hóa ẩm thực Tây Nam Bộ?
Luận án dành một tiểu mục riêng trong Chương 3 để phân tích "Nhậu" như một sắc thái văn hóa ẩm thực đặc trưng của Tây Nam Bộ, không xem đây đơn thuần là hành vi uống rượu mà đặt trong bối cảnh không gian văn hóa và cách thức thưởng thức ẩm thực của cộng đồng. Đây là một trong những nét đặc thù mà tác giả nhận diện được qua quan sát tham dự và phỏng vấn sâu tại địa bàn nghiên cứu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học này cung cấp một nghiên cứu định tính có tính hệ thống về văn hóa ẩm thực người Việt tại tỉnh Vĩnh Long, lấy đó làm trường hợp đại diện để luận giải các đặc trưng ẩm thực của cả vùng Tây Nam Bộ. Bằng sự kết hợp giữa khảo sát thực địa (phỏng vấn sâu 43 người, quan sát tham dự tại 28 địa điểm), phân tích tài liệu và vận dụng các lý thuyết Sinh thái văn hóa, Tiếp biến văn hóa, luận án nhận diện văn hóa ẩm thực người Việt Tây Nam Bộ là thành quả của hơn 300 năm khẩn hoang, dung hợp và thích ứng trong môi trường sông nước. Đóng góp đáng chú ý về lý luận là định nghĩa làm việc về văn hóa ẩm thực tích hợp cả chiều vật thể lẫn phi vật thể, được xây dựng trên nền tảng tổng hợp tài liệu và đối chiếu thực địa. Về ứng dụng, luận án đề xuất lộ trình xây dựng sản phẩm du lịch ẩm thực đặc thù cho Vĩnh Long nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững mà tỉnh đang theo đuổi.