Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn hóa – Du lịch của tác giả Trương Đức Thìn (Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, năm 2018) tiếp cận đề tài "Ẩm thực đường phố trong phát triển du lịch tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam" dưới sự hướng dẫn của ThS. Tăng Chánh Tín.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ vị trí của thành phố Hội An – trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Quảng Nam, đồng thời là đô thị cổ đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới năm 1999. Trong bối cảnh ngành du lịch địa phương phát triển nhanh chóng và mang lại nguồn thu lớn, ẩm thực đường phố nổi lên như một tài nguyên văn hóa dân gian bản địa có giá trị kinh tế. Tuy nhiên, việc khai thác loại hình này để phục vụ du lịch đòi hỏi phải nhìn nhận rõ tiềm năng, thực trạng cũng như những tác động nhiều chiều đến cảnh quan đô thị và nếp sống cộng đồng.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm các nội dung chính:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch, tài nguyên du lịch và ẩm thực đường phố.
  2. Xây dựng bức tranh tổng thể về tiềm năng và thực trạng khai thác ẩm thực đường phố trong hoạt động du lịch tại thành phố Hội An.
  3. Đánh giá vai trò của ẩm thực đường phố đối với sự phát triển du lịch địa phương.
  4. Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm bảo tồn, duy trì và nâng cao hiệu quả khai thác ẩm thực đường phố phục vụ phát triển du lịch bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động ẩm thực đường phố trong mối liên hệ với sự phát triển du lịch tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
  • Phạm vi không gian: Tập trung chủ yếu tại địa bàn thành phố Hội An, đặc biệt là khu vực trung tâm Di sản văn hóa thế giới (các phường Minh An, Sơn Phong, Cẩm Phô).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý các tư liệu thực tế trong giai đoạn 5 năm (tính đến thời điểm hoàn thành khóa luận vào năm 2018).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật, từ điển chuyên ngành và các công trình nghiên cứu văn hóa - du lịch tiêu biểu:

  • Khái niệm Du lịch: Trích dẫn định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (IUOTO), nhà nghiên cứu I.I. Pirojnik, Bách khoa toàn thư Việt Nam (1995) và Luật Du lịch Việt Nam năm 2005.
  • Khái niệm Tài nguyên du lịch: Khảo cứu định nghĩa của Pirojnik, PGS.TS. Bùi Thị Hải Yến (trong Giáo trình Tài nguyên du lịch) và Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam (2005) để phân loại tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn.
  • Khái niệm Ẩm thực và Ẩm thực đường phố: Khảo cứu nguồn gốc từ ngữ học qua Từ điển tiếng Việt, các nghiên cứu ngôn ngữ ẩm thực của Huỳnh Tịnh Của (1895–1896), Thanh Nghị (1952) và Nguyễn Văn Dương. Khái niệm ẩm thực đường phố được định nghĩa theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO). Về mặt quản lý nhà nước, đề tài viện dẫn Nghị định số 39/2007/NĐ-CP ngày 16/03/2007 của Chính phủ quy định về cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh.
  • Cơ sở thực tiễn quốc tế và trong nước: Tổng thuật kinh nghiệm quản lý mô hình trung tâm hàng rong (hawker center) tại Singapore (triển khai từ thập niên 1970 với hơn 140 trung tâm, 6.000 quầy hàng; các chương trình hỗ trợ tín dụng CDP, CCI; sự kiện hai quán ăn vỉa hè nhận sao Michelin năm 2016); dự án Clean food, good taste của Thái Lan (năm 1999); chiến lược lấy ẩm thực làm công cụ định vị du lịch của Hồng Kông; cùng các thành tựu của ẩm thực đường phố Việt Nam được ghi nhận bởi Từ điển Oxford, kênh truyền hình CNN, Tạp chí Conde Nast Traveler và Tổ chức Kỷ lục Châu Á.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và khảo sát điền dã:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu: Phân tích các tài liệu thứ cấp từ sách chuyên khảo (Nguyễn Thị Diệu Thảo, Trần Quốc Vượng, Mai Khôi, Bùi Quang Thắng...), các bài báo khoa học và báo cáo của ngành du lịch địa phương.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Tiếp cận trực tiếp các tuyến đường, gánh hàng rong, khu chợ và các điểm kinh doanh ẩm thực vỉa hè tại Hội An.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu và nhân chứng: Ghi nhận ý kiến trực tiếp của người bán hàng lâu năm (cụ Ngô Thiểu, cô Huệ, chị Nguyễn Thị Bảy...), cư dân địa phương (ông Nguyễn Xuân Huy) và du khách nước ngoài (ông David Lacroix).
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh sự biến đổi của hoạt động ẩm thực đường phố Hội An qua các mốc thời gian (trước 1945, thập niên 1960, sau 1975 và giai đoạn hiện nay).
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến từ các cán bộ quản lý văn hóa, doanh nghiệp lữ hành và nhà nghiên cứu du lịch.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ẩm thực đường phố

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận căn bản về du lịch, tài nguyên du lịch nhân văn, đồng thời làm rõ khái niệm ẩm thực đường phố với ba hình thức tồn tại: bán trong cửa hàng cố định, bán trên hè phố và bán rong. Tác giả phân tích 4 đặc trưng cơ bản của ẩm thực đường phố:

Đặc trưng Nội dung phân tích trong khóa luận
Không gian Mang tính cơ động, gắn liền với vỉa hè, ngõ phố, khu chợ, cổng trường, bến bãi; không tốn chi phí thuê mặt bằng lớn.
Thời gian Xuất hiện từ sớm trong lịch sử; trước thập niên 1960 chủ yếu bán sáng và tối, hiện nay hoạt động liên tục hầu như cả ngày.
Chủng loại Đa dạng từ món nước (phở, bún, cao lầu), món khô, bánh ngọt, bánh mặn đến các món chè và nước giải khát dân dã.
Đối tượng khách Chuyển dịch từ tầng lớp lao động nghèo, học sinh, viên chức sang mọi tầng lớp xã hội, khách du lịch nội địa và quốc tế.

Chương này cũng phân tích vai trò của ẩm thực đường phố như một sản phẩm du lịch đặc thù, góp phần gia tăng trải nghiệm văn hóa bản địa cho du khách và nâng cao năng lực cạnh tranh cho điểm đến. Tác giả tổng kết bài học quản lý an toàn thực phẩm và phát triển thương hiệu ẩm thực từ Singapore, Thái Lan, Hồng Kông để làm cơ sở liên hệ thực tiễn cho Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng khai thác ẩm thực đường phố trong du lịch tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Chương 2 trình bày tổng quan về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý của thành phố Hội An (diện tích 61,71 km², gồm 46,22 km² đất liền và 15,49 km² thuộc cụm đảo Cù Lao Chàm), cùng lịch sử hình thành qua các thời kỳ: văn hóa Sa Huỳnh (hơn 50 địa điểm di chỉ), thời kỳ Lâm Ấp Phố – Chăm Pa, thời kỳ Đại Việt và giai đoạn thương cảng quốc tế thế kỷ 16–17 với sự hiện diện của thuyền Châu Ấn Nhật Bản và các cộng đồng Minh Hương Xã.

Về quá trình phát triển ẩm thực đường phố tại phố cổ, tác giả khảo cứu:

  • Trước năm 1945: Hoạt động ăn vặt còn ít, chỉ xuất hiện các gánh bán rong đơn giản như kẹo kéo, kẹo ú, kẹo đậu phụng, mía, hột vịt lộn.
  • Thập niên 1960: Xuất hiện nhiều món ăn đường phố gắn liền với tên tuổi người bán nổi tiếng được hồi ký Hội An quê tôi của tác giả Minh Hương ghi nhận (mì Quảng bà Cây, bún bà Dần, chè ngọt bà Hai Lò, nước chè bà Lại ở số 75 Nguyễn Thái Học, chè bà Quang trước hội quán Quảng Triệu, chè bà Kế ở phố Nguyễn Thị Minh Khai, bánh xèo bà Sùng gần hội quán Ngũ Bang, cary ông Hải, cary ông Phụng, bún bò bà Chỉ, hoành thánh tôm bà Hai Huế).
  • Giai đoạn hiện nay: Ẩm thực đường phố mở rộng chủng loại, phục vụ đối tượng chính là du khách, có sự xuất hiện của các món du nhập từ vùng miền khác và quốc tế (chuối bọc nếp nướng Nam Bộ, mực nướng Thái Lan).

Khóa luận khảo sát chi tiết quy trình chế biến, nguyên liệu và phương thức phục vụ của các món ẩm thực đường phố tiêu biểu:

Món ăn Đặc điểm nguyên liệu và chế biến ghi nhận trong khóa luận Địa điểm / Người bán tiêu biểu
Xí mà phù (chè mè đen) Mè đen xay mịn kết hợp bột khoai, thục địa (thanh địa), nước cốt rau má, rau mơ và đường; có tính dược liệu thanh nhiệt, bổ dưỡng. Cụ Ngô Thiểu (101 tuổi, hơn 70 năm bán dạo), truyền lại cho con là cô Thị, chú Tuấn.
Thịt xiên nướng Thịt vai/ba chỉ heo thái mỏng ướp sả, hành, tỏi, ớt, ngũ vị hương trong 5 tiếng; kẹp que tre buộc lá chuối nướng than; ăn kèm bánh tráng mỏng, bánh ướt, rau sống, chuối chát và nước sốt tương đậu nành, mè rang. Bán phổ biến vỉa hè phố cổ; nhân chứng cô Huệ (55 tuổi, phường Cẩm Phô).
Tào phớ (đậu hũ) Đậu nành ngâm xay lọc nấu đông tự nhiên; ăn kèm nước đường mật mía nguyên chất nấu gừng tươi, trân châu dẻo và nước cốt dừa. Chị Nguyễn Thị Bảy (bán 11 năm bằng xe đạp từ Điện Bàn vào phố cổ).
Bánh bèo Bột gạo ngâm xay đổ vào chén đất nung tráng men hấp chín có xoáy tròn ở giữa; nhân tôm thịt xắt hạt lựu xào màu điều sền sệt, rắc hành lá Trà Quế; dùng thanh dao tre để ăn. Gánh hàng rong đường Hoàng Văn Thụ và các ngõ phố cổ.
Chè bắp Nấu từ bắp non "ngậm sữa" (chưa qua sông) trồng trên các bãi bồi phù sa sông Thu Bồn tại Cẩm Nam; hạt bắp được dùng dao bén xát mỏng rồi nấu với đường và gừng. Khu vực Cẩm Nam và các quầy chè đường phố.
Bánh bao, bánh vạc Nhân thịt tôm bọc trong lớp vỏ bột gạo nặn hình đóa hoa ("hoa hồng trắng"); chấm nước mắm pha cay, mặn, ngọt. Bán tại các tiệm nhỏ và gánh hàng rong phố cổ.
Kem ống, chả chiên Kem que làm từ sữa và đậu trong ống kim loại trên xe đẩy; chả chiên đựng thúng nhôm di động ăn kèm tương ớt. Các tuyến đường đi bộ trong khu phố cổ.

Tác giả cũng chỉ ra những biến đổi trong hoạt động ẩm thực đường phố tại Hội An: sự thay thế vật dụng truyền thống (rổ, nia tre, bàn ghế tre gỗ) bằng bàn ghế nhựa và xe đẩy kim loại bốn bánh; trang phục bán hàng truyền thống (áo bà ba, áo dài) dần mai một; cùng nguy cơ thất truyền các bí quyết gia truyền khi thế hệ sau không tiếp tục theo nghề.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác ẩm thực đường phố trong phát triển du lịch ở Hội An

Khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp xuất phát từ mục tiêu phát triển du lịch của thành phố Hội An (hướng tới chỉ tiêu đón 3,09 triệu lượt khách tham quan, trong đó có 1,58 triệu lượt khách quốc tế và 2.000 phòng lưu trú vào năm 2020):

  • Quy hoạch không gian và quản lý trật tự đô thị: Tổ chức sắp xếp các điểm buôn bán hàng rong, hè phố theo từng khu vực hợp lý, tránh tình trạng lấn chiếm lòng đường, chèo kéo khách du lịch nhưng vẫn bảo tồn được không gian văn hóa vỉa hè truyền thống.
  • Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm: Xây dựng quy chuẩn kiểm tra chất lượng nguồn nước, nguyên liệu chế biến và dụng cụ chứa đựng thực phẩm tại các quầy di động; học tập mô hình chứng nhận tiêu chuẩn an toàn thực phẩm từ kinh nghiệm quốc tế.
  • Bảo tồn giá trị văn hóa và bí quyết truyền thống: Có chính sách hỗ trợ các nghệ nhân, gia đình có nghề ẩm thực lâu đời (như nghề nấu xí mà phù, bánh bèo, chè bắp); khuyến khích sử dụng trang phục truyền thống và dụng cụ mây tre đan dân dã để tạo nét văn hóa đặc thù.
  • Tập huấn và nâng cao nhận thức cộng đồng: Mở các lớp bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử du lịch và ý thức bảo vệ môi trường cho đội ngũ tiểu thương, người bán hàng rong.
  • Liên kết sản phẩm du lịch: Tích hợp trải nghiệm ẩm thực đường phố vào các tour du lịch sinh thái, du lịch làng nghề (làng rau Trà Quế, làng bắp Cẩm Nam, rừng dừa Bảy Mẫu Cẩm Thanh).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên nguồn dữ liệu khảo sát thực tế:

  • Hệ thống hóa tiến trình lịch sử: Khái quát được sự hình thành và chuyển đổi của ẩm thực đường phố Hội An qua các thời kỳ lịch sử từ trước năm 1945, qua thập niên 1960 đến giai đoạn thương mại hóa du lịch đương đại.
  • Tư liệu hóa chi tiết các món ăn bản địa: Ghi chép tường tận công thức, nguyên liệu và cách thức chế biến của các món ăn đặc trưng xứ Quảng (xí mà phù mè đen, chè bắp Cẩm Nam, bánh bèo dao tre, thịt xiên nướng phố cổ) thông qua phỏng vấn trực tiếp các nhân chứng và nghệ nhân cao tuổi.
  • Nhận diện các mặt biến đổi thực trạng: Đánh giá khách quan những thay đổi về mặt không gian, công cụ phục vụ, thị hiếu khách hàng và chỉ ra các nguy cơ suy giảm tính truyền thống của ẩm thực dân gian.
  • Đóng góp ứng dụng: Cung cấp cơ sở lý luận và cứ liệu thực tiễn giúp các nhà quản lý văn hóa - du lịch tại địa phương xây dựng phương án sắp xếp, quản lý và bảo tồn hoạt động buôn bán hàng rong hài hòa với bảo tồn di sản đô thị cổ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát của khóa luận chủ yếu tập trung tại khu vực lõi di sản (khu phố cổ Hội An) với phương pháp định tính và quan sát thực địa; chưa triển khai các cuộc điều tra xã hội học định lượng diện rộng về mức độ chi tiêu hoặc mức độ hài lòng của từng phân khúc du khách quốc tế.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Mở rộng địa bàn nghiên cứu ra các cụm du lịch vùng ven như Cù Lao Chàm (xã Tân Hiệp), làng rau An Mỹ (Cẩm Châu), rừng dừa Cẩm Thanh; phân tích chuyên sâu mối quan hệ giữa chuỗi cung ứng nông sản an toàn của các làng nghề địa phương với hoạt động chế biến ẩm thực đường phố.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên: Ngành Du lịch, Văn hóa học, Việt Nam học, Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành đang thực hiện đề tài về văn hóa ẩm thực dân gian, tài nguyên du lịch nhân văn hoặc quản lý hoạt động du lịch đô thị di sản.
  • Doanh nghiệp lữ hành: Các công ty du lịch có nhu cầu khai thác, thiết kế tour trải nghiệm văn hóa ẩm thực đường phố (street food tour) kết hợp tìm hiểu làng nghề truyền thống tại Hội An và Quảng Nam.
  • Cơ quan quản lý địa phương: Cán bộ quản lý đô thị, quản lý văn hóa - du lịch thành phố Hội An trong việc tham khảo luận cứ xây dựng quy chế quản lý hàng rong và an toàn thực phẩm.

Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất trong khóa luận là phần tư liệu điền dã ghi chép quy trình chế biến thủ công các món ăn truyền thống và danh mục các địa chỉ ẩm thực đường phố lịch sử tại Hội An.


Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận món Xí mà phù tại Hội An có thành phần nguyên liệu và nguồn gốc như thế nào?
Món xí mà phù (chè mè đen) có nguồn gốc từ Trung Hoa, do các thương nhân người Hoa hoặc người Minh Hương mang vào Hội An trong thời kỳ thương cảng hưng thịnh. Thành phần nguyên liệu gồm có: mè đen xay mịn, bột khoai, thục địa (thanh địa - vị thuốc bắc tạo màu đen đặc trưng), nước cốt rau má, nước cốt rau mơ và đường. Món ăn vừa là chè ngọt, vừa có tính chất như một bài thuốc dân gian thanh nhiệt.

2. Người bán bánh bèo truyền thống tại Hội An sử dụng dụng cụ gì để thực khách thưởng thức món ăn?
Khóa luận ghi nhận thực khách ăn bánh bèo Hội An không dùng đũa hay muỗng kim loại mà sử dụng một thanh tre được vót mỏng hình lưỡi dao, gọi là "dao tre". Đây là nét văn hóa ẩm thực đặc thù gắn liền với món bánh bèo chén đất nung tại địa phương.

3. Tác giả đã trích dẫn những tên tuổi ẩm thực đường phố nổi tiếng nào ở Hội An trong thập niên 1960 từ hồi ký "Hội An quê tôi" của tác giả Minh Hương?
Các địa chỉ và tên tuổi được ghi nhận gồm: mì Quảng bà Cây, bún bà Dần, chè ngọt bà Hai Lò, nước chè bà Lại (trước số 75 Nguyễn Thái Học), chè bà Quang (trước hội quán Quảng Triệu), chè bà Kế (đường Nguyễn Thị Minh Khai), bánh xèo bà Sùng (gần hội quán Ngũ Bang), cary ông Hải, cary ông Phụng, bún bò bà Chỉ và hoành thánh tôm bà Hai Huế.

4. Mô hình quản lý hàng rong quốc tế nào được tác giả phân tích làm bài học kinh nghiệm tiêu biểu cho việc bảo đảm an toàn thực phẩm?
Khóa luận phân tích mô hình Trung tâm hàng rong (hawker center) của Singapore triển khai từ thập niên 1970, đưa người bán hàng rong vào các khu vực tập trung có kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời được hỗ trợ các gói tín dụng nâng cao năng lực kinh doanh (CDP, CCI).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trương Đức Thìn đã tái hiện toàn diện diện mạo của ẩm thực đường phố tại thành phố Hội An từ nguồn gốc lịch sử, đặc điểm chế biến đến thực trạng khai thác phục vụ du lịch. Bằng phương pháp khảo sát điền dã kết hợp phân tích tài liệu văn hóa - lịch sử, đề tài đã làm rõ giá trị của ẩm thực dân gian như một tài nguyên du lịch nhân văn cốt lõi tại đô thị di sản. Các giải pháp do tác giả đề xuất mang tính gợi mở thực tế, góp phần cân bằng giữa yêu cầu hiện đại hóa quản lý đô thị và bảo tồn các giá trị văn hóa ẩm thực truyền thống.