Chương I: Những cơ sở quan trọng cho việc xây dựng và ban hành hệ thống điển lệ dƣới triều nguyễn. Ở chƣơng này chúng nghiên cứu nhƣng cơ sở cơ bản cho việc xây dựng và ban hành điển lệ dƣới triều Nguyễn. Chúng tôi đi sau tìm hiểu 2 yếu tố cơ bản, một là việc phân định và quản lý các đơn vị hành chính, vấn để tổ chức và vạn hành của bộ máy nhà trƣớc dƣới triều Nguyễn. - Chương II: Tìm hiểu điển lệ triều Nguyễn qua Quốc triều yếu điển Ở chƣơng này chúng tôi tiến hành khảo sát văn bản, phân loại điển lệ theo lĩnh vực từ đó rút ra những kết luận.
- Phần kết luận - Phần phụ lục gồm 2 phục lục. 5 CHƢƠNG I: NHỮNG CƠ SỞ QUAN TRỌNG CHO VIỆC XÂY DỰNG VÀ BAN HÀNH HỆ THỐNG ĐIỂN LỆ DƢỚI TRIỀU NGUYỄN Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng và cũng là mẫu hình chế độ quân chủ chuyên chế tuyệt đối ở Việt Nam. Xung quanh vấn đề về triều đại này còn có nhiều quan điểm khác nhau, song khi đánh giá về những thành tựu của triều đại này thì đa số các ý kiến trùng khớp nhau. Một trong những thành tựu lớn mà triều Nguyễn đã để lại là xây dựng đƣợc một hệ thống pháp luật tƣơng đối hoàn chỉnh làm phƣơng tiện cho hoạt động quản lý và điều hành đất nƣớc.
Ngay từ khi mới lên ngôi, Gia Long đã nhận thấy vai trò quan trọng của pháp luật trong hoạt động quản lý và điều hành đất nƣớc, vì thế ông đã cho biên soạn bộ Hoàng Việt luật lệ. Đặc biệt dƣới triều Minh Mệnh, với ý thức muốn xây dựng nhà Nguyễn trở thành một triều đại quân chủ chuyên chế tập quyền tuyệt đối, Minh Mệnh đã từng bƣớc tiến hành cuộc cải cách hành chính trên quy mô rộng lớn. Bởi thế vấn đề kiện toàn hệ thống văn bản luật, phƣơng tiện quan trọng cho quá trình cải cách hành chính, ngày càng đƣợc chú trọng đề cao. Minh Mệnh rất chú trọng công việc sƣu tập và hệ thống hoá luật lệ, tiếp tục cho biên soạn những bộ sách luật quan trọng nhƣ Minh Mệnh chính yếu và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ chính biên,….
Mục đích của việc xây dựng hệ thống pháp luật nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nƣớc. Trong quá trình xây dựng pháp luật, các cơ quan nhà nƣớc vừa là chủ thể ban hành, vừa là ngƣời triển khai thực hiện nó. Bởi thế muốn tìm hiểu hệ thống điển lệ, chúng ta cũng cần phải nắm rõ tổ chức, nguyên tắc hoạt động của bộ máy nhà nƣớc triều Nguyễn (giai đoạn 1802-1866). Hệ thống điển lệ sau khi đƣợc ban hành sẽ đƣợc đƣợc chuyển giao từ cơ quan trung ƣơng đến địa phƣơng và ngƣợc lại để thi hành.
Quá trình này liên quan 6 đến vấn đề phân định và tổ chức các đơn vị hành chính của triều Nguyễn, chính vì thế trong quá trình tìm hiểu điển lệ triều Nguyễn chúng ta cũng cần quan tâm vấn đề này. Đây chính là lý do để có chƣơng viết này. Khái niệm Điển Lệ: Theo Từ nguyên, Điển có những nghĩa chính sau đây: 1. Thƣờng đạo, chuẩn tắc; 2.
Chế độ, phép tắc; 3. Nghi tiết trọng đại; 4. Sổ sách ghi chép lại những điển trọng yếu của phép tắc, điển chƣơng chế độ… Lệ có nghĩa là ví, điều lệ quy trình, phép tắc chuẩn mực phỏng theo. Theo Từ điển Hán Việt Đào Duy Anh, lệ có nghĩa là lấy cái này làm mẫu mực cho cái kia gọi là lệ.
Vậy theo nghĩa gốc của từ điển chúng ta có thể tạm hiểu Điển lệ là hệ thống điển pháp, quy chuẩn quan trọng về điển chương chế độ của nhà nước được ghi chép vào sách vở mà mọi người lấy đó làm mẫu mực làm theo. Nói một cách ngắn gọn hơn thì Điển lệ là những quy định do nhà nước ban bố được ghi chép vào sách vở. Mục đích của đề tài là tìm hiểu Điển lệ, đối tƣợng để tìm hiểu là văn bản Quốc triều yếu điển. Quốc triều yếu điển là văn bản ghi lại các điển lệ quan trọng của triều Nguyễn từ Gia Long nguyên niên đến Tự Đức thứ 19.
Nhƣ vậy phạm vi tìm hiểu của luận văn này là rất rộng, gồm tất cả những quy định mà triều Nguyễn đã ban bố trong giai đoạn từ năm Gia Long nguyên niên điến năm Tự Đức thứ 19 đƣợc ghi chép trong Quốc triều yếu điển. Những quy định triều Nguyễn ban bố lại đƣợc thể hiện dƣới nhiều thể loại văn bản quản lý nhà nƣớc, có thể là Luật, Chiếu, Lệ, Chỉ, Du… Đó là những văn bản quản lý nhà nƣớc và đều đã đƣợc biên soạn, ghi chép lại trong những bộ sách lớn của triều Nguyễn, nhƣ Hoàng Việt luật lệ, Minh Mệnh chính yếu, Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ… Trong lịch sử phong kiến nƣớc ta, các triều đại đều chú trọng xây dựng cho mình một hệ thống điển lệ, theo sự phân loại hiện nay có thể gọi nó là hệ thống văn 7 bản quy phạm pháp luật, làm công cụ cho hoạt động quản lý nhà nƣớc, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội. Cở sở từ việc phân định và quản lý các đơn vị hành chính 2. Việc phân định đơn vị quản lý hành chính dưới triều Gia Long Dƣới triều vua Gia Long, đất nƣớc Việt Nam đã đƣợc thống nhất về mặt lãnh thổ từ Mục Nam quan đến Mũi Cà Mau.
Song do những điều kiện lịch sử nhất định mà trong một thời gian dài, triều Nguyễn đã áp dụng "chế độ quân quản" thể hiện ở chỗ chế độ hành chính nhiều cấp. Từ trung ƣơng phải qua 2 trấn thành Gia Định và Bắc Thành rồi mới đến tỉnh, trấn. Ở mỗi trấn, dinh lại phải qua phủ huyện làm trung gian rồi mới đến tổng, xã. Nhiều nơi giữa tổng và xã lại có một đơn vị trung gian nữa rồi mới đến làng, thôn, trang, ấp… Riêng từ Thanh Hoá đến Bình Thuận đơn vị hành chính lại đƣợc phân chia theo kiểu quân khu, lấy Quảng Đức, nơi đóng đô của triều đình trung ƣơng làm trung tâm rồi đặt 2 cánh Tả, Hữu (Tả dực, Hữu dực).
Hữu dực có Quảng Bình, Quảng Trị; Tả dực có Quảng Nam, Quảng Ngãi. Tả dực, Hữu dực kết hợp với Quảng Đức tạo thành 5 tỉnh Trực lệ. Trong 5 Trực lệ thì Quảng Đức là trung tâm, 4 Trực lệ còn lại đƣợc chia thành Tả trực (Nam – Ngãi) và Hữu trực (Bình - Trị). Ngoài 5 tỉnh Trực lệ, thời kỳ này còn có Tả kỳ và Hữu kỳ.
Tả kỳ gồm những tỉnh từ Bình Định đến Bình Thuận; Hữu kỳ gồm các tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh. Việc phân chia địa hạt hành chính có đƣợc nâng thêm bột bƣớc nhƣng về cơ bản gần nhƣ giữ nguyên theo cách tổ chức của chúa Nguyễn ở miền Nam và của triều Lê – Trịnh ở miền Bắc. Địa hạt hành chính của cả nƣớc về cơ bản đƣợc chia làm 3 vùng khác nhau là khu vực Kinh kỳ, Bắc Thành và Gia Định thành. Ngoài Kinh kỳ ra còn lại toàn bộ đất nƣớc đƣợc chia làm 23 doanh, trấn.
Đứng đầu mỗi doanh là 1 Lƣu Thủ, phụ tá Lƣu Thủ có các chức Cai Bạ, Ký Lục, đứng đầu mỗi trấn là Trấn Thủ, giúp việc Trấn Thủ có các chức Hiệp Trấn và Tham Hiệp. 8 Năm Mậu Thìn (1808), Gia Long cho đổi Gia Định trấn làm Gia Định thành trong đó doanh Phiên Trấn đổi thành trấn Phiên An, doanh Trấn Biên đổi thành trấn Biên Hoà, doanh Vĩnh Trấn đổi làm trấn Vĩnh Thanh, doanh Trấn Định đổi thành trấn Định Tƣờng. Mỗi trấn, doanh bao gồm nhiều phủ, mỗi phủ chia thành từ 4 đến 7 huyện, mỗi huyện chia thành từ 8 đến 14, 15 xã. Riêng đối với vùng dân tộc thiểu số miền núi và vùng biên giới vẫn chia thành các châu nhƣ trƣớc kia và giao cho các Tù trƣởng thiểu số nắm giữ.
Mỗi phủ có Tri phủ, mỗi huyện có Tri huyện, ở châu có Tri châu và tại mỗi xã có Xã trƣởng cai trị. Đứng đầu mỗi trấn là một viên võ quan chức Trấn thủ, giúp việc có 2 viên quan văn chức Hiệp trấn và Tham hiệp. Ở mỗi trấn cũng nhƣ Thừa Thiên phủ có 2 Ty: Tả thừa và Hữu thừa. Hai Thừa này chia thành 6 phòng: 3 phòng thuộc Ty Tả thừa là Lại – Binh – Hình; 3 phòng thuộc Ty Hữu thừa là Hộ – Lễ – Công.
Đứng đầu Ty là chức Thông phán, Kinh lịch; thuộc viên có Câu kê 1 ngƣời, Cai hợp 1 ngƣời, Thủ hợp 3 ngƣời và 25 Thƣ lại. Trong 27 doanh trấn cả nƣớc đƣợc phân bố địa hạt quản lý nhƣ sau: Triều đình Trung ƣơng trức tiếp nắm đất Kinh kỳ (gồm 4 doanh) và 7 trấn là: Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Khƣơng và Bình Thuận. Ngoài ra thiết lập 2 thành là Bắc Thành và Gia Định Thành. Bắc Thành lại đƣợc chia làm 5 nội trấn là Sơn Nam Thƣợng, Sơn Nam Hạ, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dƣơng và 6 ngoại trấn là Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Cao Bằng, An Quảng, Hƣng Hoá.
Gia Định Thành đƣợc chia làm 5 trấn là Phiên An, Biên Hoà, Vĩnh Thanh, Định Tƣờng và Hà Tiên. Việc phân bố địa hạt quản lý hành chính dƣới thời Gia Long (từ 1801 trở đi) đƣợc khái quát nhƣ bảng sau: Triều đình Trung ương Trấn Bắc Thành Trấn Gia Định Thành - Kinh kỳ (4 doanh): - 5 Nội trấn: - 5 trấn: 1. Sơn Nam Thƣợng 1. Định Tƣờng - 7 trấn: 5.
Thanh Hoá - 6 Ngoại trấn: 2. Bình Khƣơng 5. Hƣng Hoá Mỗi thành đặt dƣới quyền 1 viên Tổng trấn, giúp việc Tổng trấn có 1 Hiệp Tổng trấn, sau đổi thành Phó Tổng trấn. Viên Tổng trấn có quyền lực rất lớn, "Phàm những việc cắt cử bãi quan, xử kiện tụng, đều đƣợc tuỳ tiện mà làm rồi sau đó mới tâu lên" Tại trấn Bắc Thành, năm 1802 bên cạnh việc đặt chức Tổng trấn, Gia Long cho thiết lập 4 Tào: Hộ, Binh, Hình, Công chuyên phụ trách riêng về các mặt kinh tế, chiến tranh, pháp luật.
Còn ở Gia Định Thành mãi đến năm 1813 mới đặt 4 Tào này. Những thay đổi về địa hạt hành chính dưới triều Minh Mệnh Việc phân định các địa hạt hành chính dƣới triều Gia Long ngày càng bộ lộ nhiều hạn chế, ảnh hƣởng đến việc cai trị của nhà Nguyễn. Chế độ Tổng trấn tạo cho các viên quan Trổng trấn có một quyền hành rất lớn trong tay, đó là nguy cơ cho việc tiếm quyền, cục bộ. Hoạt động quản lý nhà nƣớc từ trung ƣơng đến đến các địa phƣơng ở Bắc thành và Gia Định thành vì thế mà bị hạn chế.