Luận án tiến sĩ nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời khải định 1916 1925 tại quần thể di tích cố đô huế

Luận án tiến sĩ khám phá nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trong kiến trúc thời Khải Định 1916-1925 tại quần thể di tích Cố đô Huế.

Trường đại học

Viện Văn Hóa Nghệ Thuật Quốc Gia Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

303
9
3

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Nghệ thuật khảm sành sứ trong kiến trúc thời Khải Định

Nghệ thuật khảm sành sứ là một trong những đặc trưng nổi bật của kiến trúc thời Khải Định (1916-1925) tại Cố đô Huế. Nghiên cứu này tập trung phân tích sự kết hợp giữa nghệ thuật truyền thống và yếu tố phương Tây trong trang trí kiến trúc. Nghệ thuật khảm sành sứ không chỉ mang tính thẩm mỹ cao mà còn phản ánh bối cảnh lịch sử, văn hóa đương thời. Các công trình kiến trúc thời kỳ này sử dụng kỹ thuật khảm sành sứ để tạo nên những đồ án trang trí độc đáo, kết hợp giữa tinh hoa dân gian và phong cách hiện đại.

1.1. Bối cảnh lịch sử và văn hóa

Thời kỳ Khải Định (1916-1925) đánh dấu sự giao thoa văn hóa Đông-Tây mạnh mẽ tại Việt Nam. Cố đô Huế trở thành trung tâm của sự kết hợp giữa kiến trúc truyền thống và hiện đại. Các công trình kiến trúc thời kỳ này không chỉ phản ánh tư tưởng hiện đại hóa mà còn duy trì các giá trị truyền thống. Nghệ thuật khảm sành sứ được sử dụng rộng rãi trong các công trình cung đình, tạo nên diện mạo mới cho kiến trúc Việt Nam.

1.2. Kỹ thuật và chất liệu

Kỹ thuật khảm sành sứ thời Khải Định đạt đến độ tinh xảo cao. Các nghệ nhân sử dụng sành sứ, thủy tinh màu để tạo nên các đồ án trang trí phức tạp. Chất liệu và màu sắc được kết hợp hài hòa, vừa kế thừa hệ thống màu ngũ sắc truyền thống, vừa bổ sung các màu sắc mới từ ảnh hưởng phương Tây. Điều này tạo nên sự độc đáo và giá trị thẩm mỹ cao cho các công trình kiến trúc.

II. Đặc trưng và giá trị văn hóa nghệ thuật

Nghệ thuật khảm sành sứ thời Khải Định không chỉ là yếu tố trang trí mà còn mang giá trị văn hóa sâu sắc. Nghiên cứu này làm rõ các đặc trưng nghệ thuật, bao gồm sự cách tân trên cơ sở kế thừa truyền thống, sử dụng yếu tố phương Tây trong hình thức biểu đạt, và sự sáng tạo trong kỹ thuật thể hiện. Kiến trúc thời Khải Định tại Cố đô Huế là minh chứng cho sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa dân gian, cung đình và phương Tây.

2.1. Sự cách tân và kế thừa

Nghệ thuật khảm sành sứ thời Khải Định thể hiện sự cách tân mạnh mẽ nhưng vẫn bám sát truyền thống. Các đồ án trang trí sử dụng kiểu thức và bố cục truyền thống, đồng thời kết hợp yếu tố phương Tây trong tạo hình và màu sắc. Sự kết hợp này tạo nên diện mạo mới cho kiến trúc cung đình, phản ánh tư tưởng hiện đại hóa của triều đình Nguyễn.

2.2. Giá trị văn hóa và nghệ thuật

Các công trình kiến trúc thời Khải Định không chỉ có giá trị thẩm mỹ mà còn là di sản văn hóa quan trọng. Nghệ thuật khảm sành sứ phản ánh bối cảnh chính trị, xã hội đương thời, thể hiện cách thức tiếp nhận và chuyển hóa yếu tố bên ngoài. Những đồ án trang trí này được coi là tác phẩm nghệ thuật độc lập, góp phần làm nên giá trị của di tích lịch sử tại Cố đô Huế.

III. Ứng dụng và bảo tồn

Nghiên cứu về nghệ thuật khảm sành sứ thời Khải Định không chỉ có giá trị học thuật mà còn mang tính thực tiễn cao. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát huy giá trị của các công trình kiến trúc tại Cố đô Huế. Đồng thời, nghiên cứu này góp phần kế thừa và phát triển nghề khảm sành sứ, một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của Huế.

3.1. Bảo tồn di sản

Các công trình kiến trúc thời Khải Định tại Cố đô Huế đang đối mặt với nguy cơ xuống cấp. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học để nhận diện và bảo tồn các yếu tố trang trí khảm sành sứ, góp phần duy trì giá trị nghệ thuật và lịch sử của các di tích. Việc bảo tồn không chỉ giới hạn ở việc tu bổ mà còn bao gồm việc nghiên cứu và phục dựng các kỹ thuật truyền thống.

3.2. Phát huy giá trị

Nghiên cứu này cũng góp phần phát huy giá trị của nghệ thuật khảm sành sứ trong đời sống hiện đại. Bằng cách kế thừa và phát triển kỹ thuật truyền thống, nghề khảm sành sứ có thể được ứng dụng trong các công trình kiến trúc mới, tạo nên sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại. Điều này không chỉ bảo tồn di sản mà còn thúc đẩy sự sáng tạo trong nghệ thuật đương đại.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời khải định 1916 1925 tại quần thể di tích cố đô huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu” của công trình nghiên cứu Mỹ thuật Huế, tác giả Nguyễn Tiến Cảnh đã đưa ra những đánh giá tổng quan về vai trò, giá trị của mỹ thuật Huế trong lịch sử mỹ thuật truyền thống Việt Nam [21, tr. Tác giả đã xác định, QTDT Cố đô Huế “khi nói chúng với tư cách những sản phẩm mỹ thuật, người ta quen lấy địa danh gọi là Mỹ thuật Huế, hay 12 quen lấy tên vương triều tương ứng gọi là Mỹ thuật Nguyễn”. Đồng thời, tác giả cũng đã khẳng định mỹ thuật Huế là “giai đoạn cuối cùng của lịch sử mỹ thuật cổ Việt Nam” [21, tr. Những kết quả nghiên cứu này sẽ được NCS kế thừa để xây dựng cơ sở lý luận cho luận án.

Ngoài ra, tác giả cũng đồng quan điểm với L.Bezacier trong việc phân chia mỹ thuật Nguyễn thành 2 thời kỳ mà trong đó, giai đoạn 1916 - 1925 dưới thời Khải Định thuộc thời kỳ thứ hai - thời kỳ chịu ảnh hưởng của phương Tây [21, tr. Đây là cơ sở giúp NCS tiếp tục củng cố hướng nghiên cứu của luận án về nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định nhằm xác định yếu tố làm nên đặc trưng, giá trị của mỹ thuật Nguyễn ở giai đoạn này. Tương tự như các nghiên cứu về lịch sử mỹ thuật Huế, thời gian trị vì của vua Khải Định cũng được coi là cột mốc trong việc phân chia thời kỳ trong những nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của QTDT Cố đô Huế. Trong bài viết “Những giá trị của Di sản kiến trúc Huế” năm 1999 [58], tác giả Hoàng Đạo Kính, bên cạnh việc xác định các giá trị nổi bật của di sản kiến trúc Huế, đã phân chia quá trình phát triển của di sản kiến trúc Huế bao gồm hai thời kỳ: thời kỳ thứ nhất, từ đầu thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XIX, kiến trúc Huế đậm nét của nền kiến trúc dân tộc; thời kỳ thứ hai, từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, kiến trúc Huế tiếp nhận những thành tựu mới của kiến trúc châu Âu.

Ông đánh giá lăng Khải Định “cần được nhìn nhận như một thành công trong sự tìm tòi để kết hợp các truyền thống kiến trúc Đông - Tây, thành công kỳ diệu của những người thợ nề ngõa, đặc biệt thợ ghép sành sứ và thủy tinh”. Tiếp đó, trong bài viết “Quần thể di tích Cố đô Huế - Hai thế kỷ nhìn lại” năm 2002 [87], các tác giả Trần Đức Anh Sơn và Phan Thanh Hải đã chia lịch sử của QTDT Cố đô Huế thành ba thời kỳ: thời kỳ hình thành và phát triển (1802 - 1945); thời kỳ khủng hoảng và suy thoái (1946 - 1981); thời kỳ khôi phục (1982 đến nay). Trong đó, đối với thời kỳ hình thành và phát triển, các tác 13 giả lại tiếp tục chia thành hai giai đoạn: giai đoạn 1802 – 1917 là giai đoạn vận dụng kiến trúc truyền thống kết hợp với khuôn mẫu Trung Hoa; giai đoạn 1917 - 1945 là giai đoạn phát triển bổ sung các công trình kiến trúc theo phong cách châu Âu và đánh giá những công trình kiến trúc trong giai đoạn này đã “góp phần tạo nên một diện mạo mới cho quần thể di tích kiến trúc ở kinh đô” và “là một cách phản ánh những biến chuyển của hiện thực lịch sử xã hội vào lịch sử kiến tạo và đô thị hóa kinh đô Huế”. Đến năm 2004, tác giả Phan Thuận An hoàn thành cuốn sách Quần thể di tích Huế [4].

Nội dung sách bao gồm hai phần chính: phần 1 trình bày bối cảnh lịch sử và địa – văn hóa vùng Huế; phần 2 trình bày diện mạo và giá trị quần thể di tích Huế. Theo tác giả, lịch sử xây dựng tại khu vực Hoàng thành và Tử Cấm thành của QTDT Cố đô Huế trải qua năm giai đoạn: Gia Long (1802 - 1819), Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847), Tự Đức - Duy Tân (1848 - 1916), Khải Định - Bảo Đại (1916 - 1945). Trong đó, giai đoạn cuối cùng, Khải Định - Bảo Đại, là giai đoạn hình thành “trong bối cảnh nền văn hóa phương Tây ồ ạt tràn vào Việt Nam” [4, tr. Như vậy, các nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của QTDT Cố đô Huế của Hoàng Đạo Kính, Trần Đức Anh Sơn, Phan Thanh Hải và Phan Thuận An đều xác định thời gian trị vì của vua Khải Định nằm trong một giai đoạn riêng và chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây.

Ngoài ra, một số nghiên cứu riêng về một công trình được xây dựng ở thời Khải Định như “Di tích kiến trúc nghệ thuật cung An Định” của Trần Huy Thanh [94], “Lầu Kiến Trung trong Hoàng cung Huế” của Phan Thuận An [3] cũng khẳng định luận điểm này. Đây chính là hướng mở để NCS đi sâu vào phân tích những ảnh hưởng của phương Tây đến mỹ thuật cung đình triều Nguyễn dưới thời Khải Định trên cơ sở nghiên cứu hệ thống TTKSS trên kiến trúc ở những công trình mà nhà vua cho xây dựng và tu bổ tại QTDT Cố đô Huế. 14 Liên quan trực tiếp đến chủ thể sáng tạo đối tượng nghiên cứu, vua Khải Định, là cuốn sách Vua Khải Định, hình ảnh và sự kiện của tác giả Võ Hương An xuất bản năm 2016 [1]. Trong nội dung cuốn sách, tác giả đã tổng hợp về cuộc đời của vua Khải Định và những hoạt động chính của ông trong thời gian đứng đầu triều Nguyễn từ khi lên ngôi cho đến khi ông qua đời (1916 - 1925).

Qua đó, giúp cho NCS có được cái nhìn tổng quát về nhà vua, những ảnh hưởng của phương Tây đến ông và những công trình KTCĐ mà ông cho xây dựng, góp phần xác định bối cảnh hình thành của đối tượng nghiên cứu. Những nghiên cứu liên quan đến nghệ thuật trang trí triều Nguyễn Bộ sách Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ (Hội điển) do Nội các triều Nguyễn biên soạn cung cấp thông tin về những thiết chế và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam dưới triều đình Nguyễn [69]. Trong đó, các quyển 205 (cung điện), 206 (hành cung), 207 (qui chế đàn miếu), 210 (dinh thự ở kinh sư) và 216 (lăng tẩm) quy định quy chế xây dựng liên quan đến QTDT Cố đô Huế [68, tr. Mặc dù quy định chi tiết về quy cách xây dựng, kiến trúc, nhưng những thông tin về NTTT trên KTCĐ trong điển chế là khá giới hạn, chủ yếu là kiểu thức và bố cục trang trí ở khu vực mái.

Tuy nhiên, đây lại là những thông tin hết sức quý giá để NCS so sánh, đối chiếu nhằm xác định sự kế thừa những quy tắc truyền thống cũng như những cách tân về bố cục trang trí tổng thể của các đồ án TTKSS trên những công trình KTCĐ thời Khải Định trong bối cảnh hiện đại hóa đương thời. Trong tạp chí BAVH 1915, tác giả P.Albrecht có bài viết “Những họa tiết của nghệ thuật trang trí ở Huế: con rồng” [70]. Tuy chỉ nghiên cứu về một hình tượng trong trang trí Huế nhưng giá trị của bài viết nằm ở những phân tích liên quan đến biểu tượng “hóa” trong trang trí thông qua các dạng biến thể (hóa) của rồng như: cây lá hóa rồng, hồi văn hóa rồng, mây hóa rồng… Biểu tượng “hóa” cũng đã được Phạm Minh Hải, trong bài viết “Ý nghĩa các biểu tượng 15 hóa trong trang trí mỹ thuật thời Nguyễn” năm 2021, mở rộng nghiên cứu để xác định những nét đặc trưng, ý nghĩa và giá trị đối với mỹ thuật Huế [33]. Những kết quả nghiên cứu này sẽ được NCS kế thừa để xây dựng cơ sở lý luận và đối chiếu để xác định sự kết hợp của các đồ án TTKSS thời Khải Định về mặt đề tài, kiểu thức.

Một trong những công trình nghiên cứu công phu đầu tiên liên quan đến trang trí tại quần thể Huế là Mỹ thuật Huế (L’art Hue) của L. Ban đầu, nghiên cứu này được in trong sách BAVH tập VI - 1919 [62]. Sau đó, được tái bản dưới dạng đặc san chuyên khảo vào năm 1930 [119]. Hai phần quan trọng của nghiên cứu này bao gồm bài viết “Mỹ thuật ở Huế” và tuyển tập “Các mô- típ mỹ thuật An Nam”.

Bài viết “Mỹ thuật ở Huế” là những bàn luận của tác giả về mỹ thuật Huế trong đó có vai trò của trang trí đối với kiến trúc. Theo ông: “Tất cả các thể tài mà người nghệ sĩ An Nam đã thể hiện từ gỗ hoặc đồng, những gì họ đặt trên mái nhà, trên thành tường, tất cả đều thực hiện cho mục đích trang trí… và người nghệ sĩ An Nam đã biết rút tỉa từ những mẫu thức ấy để sử dụng cho có hiệu quả đẹp nhất” [63, tr. Trong tuyển tập “Các mô-típ mỹ thuật An Nam”, ông đã tập hợp và phân loại một cách hệ thống các kiểu thức trang trí Huế với nhiều kiểu thức được lấy từ hệ thống các đồ án trang trí tại các công trình KTCĐ Huế. Tuy nhiên, nghiên cứu của ông chưa đề cập đến việc các đồ án trang trí được kết hợp như thế nào trên một công trình kiến trúc.

Đây chính là vấn đề mà NCS sẽ tiếp tục đi sâu, làm rõ trong luận án của mình. Năm 1979, bài viết “Huế, mỹ thuật Nguyễn, những cái riêng” của tác giả Trần Lâm Biền đặt một trong những bước đi đầu tiên trong việc nhận diện các giá trị của mỹ thuật Huế [8]. Nội dung bài viết đã nêu lên một số đặc trưng của mỹ thuật Huế thể hiện ở bộ vì kèo mái, các lầu - cổng, hệ thống lăng tẩm, hệ thống đao mác trang trí, trang trí bia đá… Trong những đặc trưng này, tác giả đặc biệt chú ý tới “tính phổ biến của ô hộc trong trang trí” trên các công trình 16 kiến trúc tại Huế, đồng thời đưa ra một số nhận xét về cách thức bố cục, sử dụng đề tài trong ô hộc trang trí. Trong một nghiên cứu tiếp theo, chương “Nghệ thuật trang trí” nằm trong cuốn sách Mỹ thuật Huế năm 1992 [21, tr.47 - 79], tác giả tiếp tục đưa ra những phân tích về cách thức bố cục của mảng trang trí và ô hộc trang trí trên KTCĐ triều Nguyễn.

Đồng thời, ông cũng đã hệ thống và giải thích ý nghĩa của một số đề tài, kiểu thức điển hình trong trang trí Huế như hệ thống linh vật, biểu tượng và cây cỏ… Đây chính là những thông tin có giá trị để NCS xây dựng cơ sở lý luận về đề tài, kiểu thức trang trí cho luận án của mình. Bên cạnh đó, những nghiên cứu về bố cục trang trí của tác giả chính là điểm gợi mở để NCS tiếp tục nghiên cứu về sự kết hợp của các đồ án trang trí trên KTCĐ thông qua hệ thống TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Nghệ thuật khảm sành sứ kiến trúc thời Khải Định 1916-1925 tại Cố đô Huế là một nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật khảm sành sứ độc đáo trong kiến trúc thời Khải Định, tập trung vào các công trình tại Cố đô Huế. Tài liệu này không chỉ làm nổi bật giá trị thẩm mỹ và kỹ thuật của nghệ thuật khảm sành sứ mà còn phân tích ý nghĩa văn hóa, lịch sử của nó trong bối cảnh thời kỳ này. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến di sản kiến trúc và nghệ thuật Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về các di tích lịch sử và giáo dục văn hóa, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ sư phạm lịch sử sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 10, nghiên cứu về việc ứng dụng di sản vào giáo dục. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ quản lý văn hóa quản lý các bảo tàng ngoài công lập ở Việt Nam cung cấp góc nhìn sâu sắc về quản lý di sản văn hóa. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ văn học Việt Nam đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi Dăm Giông sẽ giúp bạn hiểu thêm về nghệ thuật truyền thống trong văn học. Mỗi tài liệu là cơ hội để khám phá sâu hơn về di sản và văn hóa Việt Nam.