Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành Văn học dân gian (mã số chuyên ngành nghiên cứu văn học và văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam), tiếp cận theo hướng nghiên cứu định tính kết hợp thi pháp học dân gian, phương pháp cấu trúc - loại hình và điền dã dân tộc học.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Từ năm 2001 đến năm 2007, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã thực hiện Dự án Điều tra sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên. Kết quả dự án đã sưu tầm 801 tác phẩm (ghi âm trong 5.679 băng từ 90 phút), tiến hành phiên âm 123 tác phẩm, dịch nghĩa 115 tác phẩm và xuất bản 75 tác phẩm (in trong 62 tập) dưới dạng song ngữ tiếng dân tộc và tiếng phổ thông. Trong số 75 tác phẩm này, có 30 sử thi của người Bahnar tại hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum, trong đó có 26 tác phẩm kể về nhân vật anh hùng Dăm Giông (chiếm gần 1/3 trong tổng số hơn 100 sử thi Dăm Giông đã sưu tầm được).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định:

  • Tuy số lượng tác phẩm Dăm Giông được sưu tầm và xuất bản tương đối lớn, nhưng đến thời điểm thực hiện đề tài vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về 26 văn bản này.
  • Các vấn đề học thuật cơ bản vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất: vấn đề dịch thuật, phân loại thể loại, tính chất chuỗi sử thi liên hoàn (epic cycle / ring composition), hệ thống nhân vật tái xuất hiện, phương thức diễn xướng h'mon, cũng như mối liên hệ giữa nhóm sử thi Dăm Giông với hệ thống sử thi Bahnar, sử thi Tây Nguyên và sử thi khu vực Đông Nam Á.
  • Các công trình trước đó chủ yếu khảo sát sử thi Ê-đê, Mơ-nông hoặc khảo sát trên các tư liệu sưu tầm đơn lẻ từ các thập niên trước (như 19 sử thi do Phan Thị Hồng tự sưu tầm), chưa bao quát diện mạo của 26 văn bản mới xuất bản trong Dự án quốc gia.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Nghiên cứu một cách có hệ thống 26 văn bản sử thi Dăm Giông và môi trường diễn xướng h'mon nhằm xác định các đặc điểm nghệ thuật của bộ sử thi.
  2. Phát hiện những điểm tương đồng và dị biệt của nhóm sử thi Dăm Giông so với sử thi Tây Nguyên, sử thi khu vực Đông Nam Á và sử thi thế giới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu chính: Văn bản của 26 sử thi Bahnar về người anh hùng Dăm Giông thuộc Dự án Điều tra sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam xuất bản từ năm 2005 đến năm 2007.
  • Phạm vi nội dung nghệ thuật: Khảo sát tập trung vào các thành tố thi pháp nghệ thuật gồm: kết cấu nhóm sử thi, nhân vật trung tâm Dăm Giông, hệ thống nhân vật tái xuất hiện, cốt truyện, hệ thống motif và không gian nghệ thuật.
  • Phạm vi điền dã: Địa bàn cư trú của người Bahnar tại hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai, cụ thể gồm: khu vực nội - ngoại ô thành phố Kon Tum, huyện Đak Hà (tỉnh Kon Tum); khu vực huyện Đak Pơ và huyện Đak Đoa (tỉnh Gia Lai).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử nghiên cứu sử thi Tây Nguyên và sử thi Bahnar

Lịch sử sưu tầm và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên được luận án phân chia thành ba giai đoạn:

Giai đoạn 1 (1927 - 1955): Sưu tầm ban đầu của các học giả người Pháp
Giai đoạn 2 (1957 - 2000): Dịch thuật, giới thiệu và định danh thể loại tại Việt Nam
Giai đoạn 3 (2001 đến nay): Khảo sát quy mô lớn theo Dự án Tây Nguyên và hướng tiếp cận liên hoàn
  1. Giai đoạn từ năm 1927 đến năm 1955:

    • Tháng 5 năm 1927, Léopold Sabatier công bố bản sử thi Ê-đê Anh hùng ca Đăm Xăn với lời tựa của Pierre Pasquier và Roland Dorgelès, định danh tác phẩm là chanson de geste hoặc épopée. Sabatier đánh giá tác phẩm phản ánh thời kỳ phồn vinh của người Rađê (Ê-đê), trong khi Dorgelès xem đây là bài ca cuối cùng.
    • Năm 1950, trong công trình Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương (Les Populations montagnardes du Sud-Indochinois), Dam Bo (Jacques Dournes) phân tích ngôn ngữ sử thi Đăm Xăn với đặc trưng câu thơ giàu nhạc tính, điệp từ, mang tính biểu tượng.
    • Năm 1955, Dominique Antomarchi dịch và công bố sử thi Đăm Di (Klei khan Kdam Yi), Georges Condominas viết lời giới thiệu, khẳng định tính chất chant épique (anh hùng ca - sử thi).
  2. Giai đoạn từ năm 1957 đến năm 2000:

    • Năm 1957, Đăm Xăn được dịch sang tiếng Việt và in thành sách năm 1959. Năm 1960, Chu Xuân Diên xác định Đăm San là bản anh hùng ca và Đăm San là nhân vật anh hùng.
    • Năm 1963, tuyển tập Trường ca Tây Nguyên xuất bản 5 tác phẩm: Đăm Di, Khinh Dú, Đăm Roăn, Y Ban, Y Prao. Các nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh, Chu Xuân Diên, Đinh Gia Khánh khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của thể loại.
    • Năm 1970, N. Niculin dịch và giới thiệu Đăm Xăn, Đăm Di sang tiếng Nga, định danh là "truyền thuyết anh hùng" và nhấn mạnh đặc trưng diễn xướng.
    • Năm 1974, Georges Condominas nhắc đến hình thức kể chuyện noo proo của người Mơ-nông Gar trong cuốn Chúng tôi ăn rừng đá thần Gô.
    • Năm 1982, Võ Quang Nhơn bảo vệ luận án phó tiến sĩ Về thể loại sử thi anh hùng của các dân tộc Tây Nguyên và xuất bản sách năm 1983, sử dụng thuật ngữ anh hùng ca.
    • Năm 1988, Phan Đăng Nhật bảo vệ luận án tại Bulgaria về Sử thi Ê Đê, phân biệt sử thi cổ sơ (archaic epic) Tây Nguyên với sử thi cổ đại (antique epic) như Iliad, Odyssey, Ramayana, Mahabharata. Năm 1999, Phan Đăng Nhật xuất bản Vùng sử thi Tây Nguyên, đặt nền tảng nghiên cứu sử thi theo vùng văn hóa.
    • Về sử thi Mơ-nông: Đỗ Hồng Kỳ (1993, 1996) khẳng định các tác phẩm ot ndrong là sử thi thần thoại.
    • Về sử thi Bahnar: Paul Guilleminet (1952) lần đầu ghi nhận thuật ngữ hamon là "anh hùng ca" trong sách Bộ lạc Bahnar ở Kon Tum và giải nghĩa là "truyền thuyết anh hùng" trong từ điển Bahnar-Français. Ngọc Anh (1962, 1965, 1966) giới thiệu truyện kể Bahnar dưới thuật ngữ "trường ca". Năm 1988, Tô Ngọc Thanh trong Fônclo Bâhnar định nghĩa h'mon (hơ amon) là thể loại đa thành phần nghệ thuật, diễn xướng bằng hình thức hát kể.
  3. Giai đoạn từ năm 2001 đến nay:

    • Dự án quốc gia (2001-2007) mở ra giai đoạn nghiên cứu cấu trúc sử thi liên hoàn. Các khái niệm được đề xuất: "bộ sử thi nhiều tập" (Đặng Diệu Trang, 2003), "sáng tác liên hoàn - ring composition" và "chuỗi sử thi - epic cycle" (Bùi Thiên Thai, 2005), "sử thi liên hợp, sử thi phổ hệ" (Phan Đăng Nhật, 2001, 2005), "chuỗi sử thi - h'mon liên hoàn" (Nguyễn Việt Hùng, 2013), "sử thi liên hoàn" (Võ Quang Trọng, 2003; Ngô Đức Thịnh, 2007).
    • Phan Đăng Nhật (2001) đưa ra luận điểm "sử thi sống" (living epic). Ngô Đức Thịnh (2007) phân loại hai dạng kết cấu liên hoàn: dạng một nhân vật xuyên suốt (Giông của Bahnar, Duông của Xơ-đăng) và dạng nhiều nhân vật theo phả hệ (Tiăng, Tang, Yang, Lênh... của Mơ-nông).
    • Các công trình chuyên biệt về Bahnar: Phan Thị Hồng (2003, 2006) khảo sát 19 sử thi tự sưu tầm; Nguyễn Quang Tuệ (2006) nghiên cứu sử thi nhóm Tơlô tại Kon Chro; Lê Thị Thùy Ly (2014) thực hiện luận án về số phận sử thi Bahnar trong xã hội đương đại; Linh Nga Niê Kđăm khảo sát giai điệu âm nhạc; Nguyễn Thị Kim Vân phân tích hệ thống thần phả tín ngưỡng Bahnar liên quan đến nhân vật Giông.

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án chỉ ra rằng các công trình trước đây:

  • Chủ yếu dừng lại ở các bài giới thiệu đầu sách mang tính thẩm định sơ bộ theo "lý thuyết ba nhiệm vụ" (đánh giặc, làm lụng, lấy vợ) của Phan Đăng Nhật, vốn bộc lộ sự bất cập khi nhiều sử thi Bahnar khuyết thiếu nhiệm vụ chiến tranh;
  • Chưa có công trình nào khảo sát thực chứng toàn diện trên 26 văn bản sử thi Dăm Giông được biên dịch, xuất bản chính thức từ 2005-2007;
  • Chưa làm rõ bản chất kết cấu của nhóm sử thi Dăm Giông từ góc độ diễn xướng sống và cấu trúc thi pháp học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết đa ngành và chuyên ngành:

  • Lý thuyết thi pháp học và cấu trúc folklore: Vận dụng quan điểm của V. Propp về đặc trưng folklore, phương pháp nghiên cứu cấu trúc - loại hình (morphology) để phân tích cốt truyện, motif và hệ thống nhân vật. Vận dụng lý thuyết của E. Meletinski về thần thoại và sử thi nhằm giải mã các yếu tố huyền thoại trong kiến tạo nhân vật anh hùng.
  • Tự sự học và cấu trúc văn bản nghệ thuật: Vận dụng lý luận tự sự học của Tzvetan Todorov (về cấu trúc tường thuật, kỹ thuật tự sự lồng ghép) và Iu. Lotman (về cấu trúc không gian nghệ thuật và văn bản nghệ thuật).
  • Lý thuyết liên ngành: Tiếp thu các quan điểm triết học, lịch sử, văn hóa nguyên thủy của Karl Marx, F. Kosven, James George Frazer để soi chiếu thiết chế xã hội cổ sơ của người Bahnar phản ánh trong văn bản.
  • Tư liệu học và dân tộc học: Kế thừa các công trình điền dã của Pierre Dourisboure, Paul Guilleminet, Jacques Dournes, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Từ Chi, Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Tấn Đắc, Nguyễn Khắc Sử.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp điền dã dân tộc học: Thâm nhập thực địa tại các buôn làng, vùng phương ngữ, họ đạo và Tòa Giám mục Kon Tum. Trực tiếp làm việc, phỏng vấn các nghệ nhân hát kể (tiêu biểu như nghệ nhân A Lưu tại làng Kon Klor 2) và các dịch giả của 26 sử thi; quan sát môi trường diễn xướng thực tế và các lễ hội dân gian tại Gia Lai và Kon Tum.
  • Phương pháp thống kê, phân tích: Khảo sát chi tiết 26 tác phẩm, xây dựng hệ thống bảng thống kê số liệu về tần suất xuất hiện của các nhân vật tái xuất hiện, yếu tố Kitô giáo, yếu tố kì ảo, hệ thống motif, mô hình hóa cấu trúc cốt truyện (trình bày tại các Phụ lục ii, iii, iv, v).
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh nội bộ giữa sử thi Dăm Giông với truyện cổ Bahnar, Jrai; so sánh loại hình với sử thi các dân tộc láng giềng tại Tây Nguyên (ot ndrong Mơ-nông, Dăm Duông Xơ-đăng, khan Ê-đê); đối sánh với sử thi cổ điển thế giới (Iliad, Odyssey của Hy Lạp; Ramayana, Mahabharata của Ấn Độ) và sử thi các nước Đông Nam Á (Lào, Thái Lan, Campuchia).

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Tư liệu văn bản: 26 tác phẩm sử thi Bahnar song ngữ về Dăm Giông thuộc bộ sách Kho tàng sử thi Tây Nguyên do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam xuất bản giai đoạn 2005 - 2007.
  • Tư liệu thực địa: Băng ghi âm diễn xướng, ghi chép điền dã về phong tục, tập quán, ngôn ngữ, thiết chế làng buôn và môi trường sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng tại Kon Tum và Gia Lai.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ tiến trình sưu tầm, xuất bản và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên nói chung và sử thi Bahnar nói riêng từ năm 1927 đến năm 2016. Tác giả phân tích những đóng góp của các học giả người Pháp trong việc phát hiện văn bản; đánh giá các giai đoạn nghiên cứu của giới học thuật Việt Nam; đồng thời chỉ rõ những điểm hạn chế của việc áp dụng cơ học các mô hình sử thi cổ điển phương Tây hoặc "lý thuyết ba nhiệm vụ" vào sử thi Bahnar. Chương này định vị tính cấp thiết của việc tiếp cận 26 sử thi Dăm Giông như một chỉnh thể nhóm tác phẩm liên hoàn gắn với môi trường diễn xướng sống.

Chương 2. Kết cấu nhóm sử thi Dăm Giông - nhìn từ góc độ diễn xướng

Chương 2 phân tích bối cảnh tộc người Bahnar, đặc trưng thể loại diễn xướng h'mon và xác lập các mô hình kết cấu của nhóm sử thi:

  1. Bối cảnh tộc người Bahnar và không gian văn hóa:
    • Người Bahnar phân bố trên diện tích khoảng 9.000 km2 ở vùng Đông Bắc Tây Nguyên, chia làm hai nhóm chính: Bahnar Ala Kông (vùng thấp phía Đông) và Bahnar Kpăng Kông (vùng núi cao phía Tây).
    • Theo số liệu Tổng điều tra Dân số ngày 01/4/2009, dân tộc Bahnar có 227.456 người, cư trú trên 51/63 tỉnh thành:
Địa bàn cư trú Dân số (người)
Tỉnh Gia Lai 150.416
Tỉnh Kon Tum 53.997
Tỉnh Bình Định 18.175
Tỉnh Phú Yên 4.145
Tỉnh Đắk Lắk 301
Tỉnh Bình Thuận 133
Các tỉnh thành khác 489
Tổng cộng cả nước 227.456
  • Đặc điểm kinh tế - xã hội: Phương thức mưu sinh gồm săn bắt, hái lượm và canh tác lúa rẫy theo phương thức "dưỡng canh" (canh tác 1 năm, bỏ hóa phục hồi 8-10 năm). Nông lịch chia thành 10 tháng sản xuất và 2 tháng nghỉ ngơi (ning nơng). Thiết chế xã hội cơ bản là plei (công xã nông thôn gồm 20 - 70 nóc nhà) do chủ làng đứng đầu. Xã hội theo chế độ phụ quyền nhưng lưu giữ dấu vết mẫu hệ sâu đậm.
  1. Bản chất thể loại và ngôn ngữ diễn xướng h'mon:

    • H'mon là hình thức kể chuyện dài bằng văn xuôi xen lẫn văn vần, sử dụng các câu đối xứng, biền ngẫu, nhịp điệu và các công thức truyền miệng đúc sẵn.
    • H'mon mang tính chất "sử thi sống": tác phẩm tồn tại trong trí nhớ và qua giọng hát kể của nghệ nhân trong sinh hoạt cộng đồng. Nghệ nhân có thể đưa các yếu tố đời sống đương đại vào diễn xướng. Điển hình, nghệ nhân A Lưu (làng Kon Klor 2, TP. Kon Tum - người hát kể hơn 100 sử thi) vốn là một Yao Phu (giáo viên dạy giáo lý Công giáo người dân tộc), dẫn đến sự xuất hiện của các yếu tố Kitô giáo trong văn bản.
  2. Các mô hình kết cấu của nhóm sử thi:

    • Kết cấu đồng tâm (Tâm điểm là anh hùng Dăm Giông): Nhóm sử thi vận hành theo mô hình xoáy trôn ốc. Khung truyện chính (main narrative) về cuộc đời Dăm Giông làm tâm điểm, từ đó phát triển vô số tiểu truyện (subnarrative) tương ứng với từng sử thi đơn lẻ. Các tác phẩm bám theo trục hành động của ba nhóm nhiệm vụ: làm lụng (A), đánh giặc (B), lấy vợ (C), phát triển thành các chuỗi hành động $A_1, B_1, C_1; A_2, B_2, C_2... A_n, B_n, C_n$. Mô hình này tương đồng về mặt loại hình với cấu trúc cycles epics (chuỗi sử thi tuần hoàn thành Troy trong văn học Hy Lạp cổ đại gồm 12 tác phẩm xoay quanh hạt nhân Iliad và Odyssey).
    • Kết cấu khung truyện kể (narrative frame) với sử thi đồng cốt truyện: Các sử thi đơn thường mở đầu bằng công thức ổn định về gia đình Bok Set - Bia Xôn (sinh ra Giông, Giơ, Bia Lơng). Cốt truyện vận động theo mô hình: Xung đột $\rightarrow$ Chiến tranh $\rightarrow$ Hòa hợp (mang tính tương đồng với cấu trúc sử thi Ấn Độ và kết thúc có hậu của truyện cổ tích Bahnar). Kết cấu này sử dụng kỹ thuật truyện lồng truyện (story-in-story) và truyện lồng khung (frame story).

Chương 3. Nhân vật Dăm Giông trong mối quan hệ với nhân vật tái xuất hiện và sử thi đơn

Chương này tập trung khảo sát thi pháp nhân vật trong 26 văn bản:

  • Hình tượng người anh hùng Dăm Giông: Dăm Giông vừa mang phẩm chất của một "thần bản mệnh" (totem / siêu totem), vừa mang những nét tính cách trần tục (có lúc tự ti, thụ động, hiền lành, trọng hòa giải). Dăm Giông không chỉ lập chiến công quân sự mà còn thể hiện vai trò trong lao động sản xuất, cứu đói dân làng, tổ chức lễ hội và xây dựng nhà mồ.
  • Hệ thống nhân vật tái xuất hiện: Phân tích mạng lưới nhân vật gia đình (Bok Set, Bia Xôn, người em trai Giơ, em gái Bia Lơng), hệ thống kẻ thù (các tù trưởng thù địch, quái vật Bơng Lơng) và hệ thống thần linh trong thần phả Bahnar (thần sáng tạo Bok Kei Dei - Yă Kung Keh, tổ tiên Bok Sơgơr - Yă Sơgơr, thần Sấm sét Bok Glaih, Thần Lúa Yă Hri). Sự lặp lại có hệ thống của các nhân vật này tạo nên tính thống nhất nội tại của toàn bộ nhóm tác phẩm.

Chương 4. Hệ thống motif và không gian nghệ thuật trong nhóm sử thi Dăm Giông

Chương 4 khảo sát hai thành tố thi pháp cốt lõi:

  • Hệ thống motif: Nhận diện và phân loại các motif nghệ thuật lặp lại theo ba tuyến nhiệm vụ: motif đi tìm vợ / đoạt lại vợ; motif săn bắt trâu rừng; motif làm nhà mồ; motif tổ chức cứu đói; motif giao chiến với thế lực thù địch; motif mở hội ăn mừng chiến thắng và hòa giải buôn làng.
  • Không gian nghệ thuật: Phân tích sự đan xen giữa không gian hiện thực buôn làng (plei, nhà rông, nhà sàn, nương rẫy, sông suối vùng Gia Lai - Kon Tum), không gian giao thương - xung đột liên vùng cổ xưa (vùng duyên hải miền Trung, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia) và không gian thần thoại, kỳ ảo của thế giới thần linh.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt lý luận và phân loại thể loại:

    • Luận án chứng minh một cách khoa học rằng 26 sử thi Bahnar mang tên Dăm Giông không phải là những tác phẩm đơn lẻ, rời rạc mà cùng liên kết hữu cơ tạo thành một cấu trúc nghệ thuật hoàn chỉnh gọi là Nhóm sử thi Dăm Giông.
    • Xác lập và mô hình hóa hai kiểu kết cấu đặc thù của nhóm sử thi: kết cấu đồng tâm dạng xoáy trôn ốc và kết cấu khung truyện kể (narrative frame), làm sáng tỏ cơ chế liên kết giữa các tác phẩm đơn lẻ trong một hệ thống sử thi liên hoàn.
  2. Về mặt thi pháp học dân gian:

    • Hệ thống hóa toàn diện các đặc điểm nghệ thuật của nhóm sử thi Dăm Giông trên các bình diện: hệ thống nhân vật trung tâm và tái xuất hiện, hệ thống motif hành động và cấu trúc không gian nghệ thuật.
    • Làm rõ bản chất "sử thi sống" của h'mon Bahnar, chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa cấu trúc văn bản nghệ thuật và môi trường, phương thức diễn xướng truyền miệng của nghệ nhân dân gian.
  3. Về mặt so sánh loại hình và văn hóa tộc người:

    • Phân biệt rõ nét đặc trưng của sử thi Dăm Giông (Bahner) với sử thi Ê-đê (kết cấu dồn nén cuộc đời anh hùng trong một tác phẩm độc lập), sử thi Mơ-nông (liên kết phả hệ nhiều thế hệ) và sử thi Xơ-đăng.
    • Khẳng định tính độc lập về nguồn gốc của sử thi Bahnar khi không chịu ảnh hưởng của sử thi Ấn Độ như các tác phẩm tại Lào, Thái Lan hay Campuchia, phản ánh chân thực lịch sử và thiết chế xã hội cổ sơ của cư dân bản địa Tây Nguyên.
  4. Kiến nghị và giải pháp khoa học:

    • Đề xuất phương pháp nghiên cứu sử thi Tây Nguyên phải kết hợp chặt chẽ giữa phân tích văn bản với công tác điền dã thực địa, nghiên cứu môi trường diễn xướng sống và tri thức liên ngành (dân tộc học, ngôn ngữ học, tôn giáo học).
    • Kiến nghị các giải pháp bảo tồn hình thức diễn xướng h'mon gắn liền với không gian văn hóa cộng đồng buôn làng bản địa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chỉ tập trung khảo sát 26 văn bản sử thi Dăm Giông đã được biên dịch và xuất bản chính thức trong bộ sách Kho tàng sử thi Tây Nguyên (2005-2007), chưa thể bao quát toàn bộ hơn 100 tác phẩm về Dăm Giông đã sưu tầm được do phần lớn tư liệu còn ở dạng băng ghi âm chưa dịch nghĩa; phạm vi điền dã giới hạn tại một số huyện trọng điểm thuộc Gia Lai và Kon Tum.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát toàn bộ các tác phẩm Dăm Giông còn lại khi các bản ghi âm được phiên âm và dịch nghĩa hoàn chỉnh.
    • Đi sâu phân tích khía cạnh âm nhạc dân gian, làn điệu diễn xướng và cấu trúc ngữ pháp - từ vựng tiếng Bahnar trong các công thức truyền miệng của nghệ nhân.
    • Mở rộng so sánh loại hình với sử thi của các tộc người lân cận chưa có điều kiện khảo sát sâu như sử thi hri của người Jrai.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Văn học dân gian, Văn hóa học, Dân tộc học và Nhân học.
    • Các nhà nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên, cán bộ phụ trách công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại các viện nghiên cứu và sở văn hóa địa phương.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Chương 1 cung cấp bảng tổng thuật tư liệu lịch sử nghiên cứu sử thi Tây Nguyên từ năm 1927 đến năm 2016.
    • Chương 2 cung cấp khung lý thuyết và mô hình phân tích kết cấu đồng tâm, kết cấu khung truyện kể gắn với diễn xướng h'mon.
    • Hệ thống các bảng biểu phụ lục (thống kê nhân vật, motif, tóm tắt cốt truyện 26 tác phẩm) là nguồn dữ liệu thực chứng cho các nghiên cứu tiếp theo về folklore học.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát bao nhiêu văn bản sử thi và nguồn gốc xuất bản của các văn bản này từ đâu?
Luận án khảo sát trực tiếp 26 văn bản sử thi Bahnar kể về nhân vật Dăm Giông. Các văn bản này nằm trong tổng số 75 tác phẩm sử thi được Viện Khoa học Xã hội Việt Nam biên dịch, xuất bản thành sách song ngữ (thuộc Dự án Điều tra sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên) trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2007.

2. Người Bahnar gọi thể loại sử thi của mình là gì và phương thức diễn xướng có đặc điểm ra sao?
Người Bahnar gọi sử thi là h'mon (các biến thể ghi âm khác gồm: hơamon, hamon, hơ mon, hmon). H'mon là hình thức diễn xướng dân gian đa thành phần nghệ thuật, thể hiện dưới dạng hát kể với câu văn xuôi xen kẽ văn vần, sử dụng các công thức truyền miệng, câu đối xứng, biền ngẫu cùng các làn điệu âm nhạc và ngữ điệu thay đổi theo trạng thái tâm lý của nghệ nhân.

3. Kết cấu đồng tâm của nhóm sử thi Dăm Giông được tổ chức như thế nào?
Kết cấu đồng tâm được tổ chức theo mô hình xoáy trôn ốc với tâm điểm là nhân vật anh hùng Dăm Giông. Toàn bộ nhóm sử thi phát triển từ một khung truyện chính (main narrative), từ đó tỏa ra các tiểu truyện (subnarrative) độc lập xoay quanh ba trục nhiệm vụ thiêng liêng: làm lụng, đánh giặc và lấy vợ ($A_n, B_n, C_n$). Mô hình này tương đồng với kiểu kết cấu cycles epics (chuỗi 12 sử thi tuần hoàn xoay quanh cuộc chiến thành Troy của Hy Lạp cổ đại).

4. Tại sao trong lời kể của nghệ nhân A Lưu lại xuất hiện các yếu tố Kitô giáo?
Nghệ nhân A Lưu (người cư trú tại làng Kon Klor 2, xã Đak Rơwa, TP. Kon Tum, người hát kể hơn 100 sử thi Dăm Giông) là một Yao Phu (giáo viên dạy giáo lý Công giáo người dân tộc). Do đặc thù của h'mon là "sử thi sống", nghệ nhân trong quá trình biểu diễn đã tiếp biến linh hoạt và đưa vốn tri thức, ngôn ngữ tôn giáo đời thường của mình vào nội dung tác phẩm.

5. Mô hình vận động cốt truyện phổ biến trong các sử thi đơn Dăm Giông là gì?
Cốt truyện các sử thi đơn trong nhóm Dăm Giông thường vận động theo cấu trúc ba chặng: Xung đột $\rightarrow$ Chiến tranh $\rightarrow$ Hòa hợp. Kết thúc tác phẩm thường mang tính chất hòa giải, mở tiệc ăn mừng, hàn gắn quan hệ giữa các làng buôn, tương đồng với cấu trúc sử thi Ấn Độ và phản ánh tâm lý chuộng hòa hiếu, kết thúc có hậu của truyện cổ dân gian Bahnar.


Kết luận

Luận án đã giải quyết một cách tường minh vấn đề đặc điểm nghệ thuật của 26 văn bản sử thi Dăm Giông thuộc kho tàng văn học dân gian Bahnar tại Gia Lai và Kon Tum. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích thi pháp học cấu trúc - loại hình với điền dã môi trường diễn xướng sống h'mon, công trình đã xác lập thành công mô hình kết cấu đồng tâm và kết cấu khung truyện kể của nhóm sử thi liên hoàn. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm rõ hình tượng người anh hùng Dăm Giông và hệ thống motif đặc thù, mà còn định vị chính xác vị trí, bản sắc của sử thi Bahnar trong bản đồ sử thi Tây Nguyên và khu vực Đông Nam Á.