đặt vấn đề tiếp cận sử thi Tây Nguyên qua trƣờng hợp sử thi ot ndrong của ngƣời Mơ-nông bằng lí thuyết công thức truyền miệng (Oral-formulatic theory). Theo tác giả, công thức truyền miệng có nhiều vai trò trong việc hình thành sử thi nói chung và ot ndrong nói riêng nhƣ kết cấu sử thi, ổn định ngữ nghĩa, tổ chức lời văn nghệ thuật,. Tuy vậy, dù đặt ra nhiều vấn đề nhƣng tác giả chƣa khu biệt sử thi ot ndrong với các sử thi Tây Nguyên khác hoặc chỉ ra đặc trƣng nổi bật của ot ndrong [40]. Gần đây nhất, tháng 4 năm 2016, luận án tiến sĩ của Triệu Văn Thịnh, mang 13 tên Hệ thống nhân vật sử thi M’Nông và vấn đề thể loại, có nhiều phát hiện mới.
Luận án đã có những đánh giá bƣớc đầu về đặc trƣng thể loại, hệ thống nhân vật của sử thi ot ndrong của ngƣời Mơ-nông. Trong đó, tác giả khẳng định sử thi ot ndrong là sử thi thần thoại. Đặc biệt, tác giả chú ý các yếu tố môi trƣờng diễn xƣớng, các thủ pháp diễn xƣớng, đề tài, cốt truyện của ot ndrong. Đây là cách đề cập vấn đề hợp lí, khai thác đúng đặc trƣng của sử thi Tây Nguyên.
Tuy nhiên, chúng tôi chƣa thấy tác giả đề cập đến cấu trúc của nhóm sử thi ot drong, chƣa nhắc đến kết cấu liên hoàn của bộ sử thi, một đặc trƣng hết sức quan trọng của sử thi Tây Nguyên, nhất là các sử thi mới sƣu tầm [109]. Tình hình sƣu tầm, nghiên cứu sử thi Bahnar và nhóm sử thi Dăm Giông - Về sử thi Bahnar + Khái niệm sử thi Bahnar Ngƣời Bahnar dùng từ h’mon để chỉ những sử thi của mình. Từ h’mon đƣợc viết bằng nhiều cách: hơamon, hamon, hơ mon, hmon,… Sở dĩ có nhiều cách viết là do sự khác nhau trong cách phát âm của các nhóm phƣơng ngữ Bahnar hoặc quan niệm, cách hiểu, cách phiên âm của ngƣời sử dụng. Từ h’mon (hamon) đƣợc Paul Guilleminet đề cập lần đầu tiên trong cuốn sách Bộ lạc Bahnar ở Kon Tum - Góp phần nghiên cứu xã hội miền núi ở Đông Dương: “anh hùng ca hamon” [28, tr.
Trong cuốn từ điển Bahnar-Français, Paul Guilleminet giải nghĩa h’mon (hamon) là “truyền thuyết anh hùng của ngƣời Bahnar” [148, tr. Năm 1962, trong bài viết mang tên “Bƣớc đầu tìm hiểu về hình thức nghệ thuật của thơ ca Tây - nguyên”, Ngọc Anh nhắc đến khái niệm hơ mon (chỉ h’mon) và gọi là “trƣờng ca” [3, tr. Một năm sau đó, năm 1963, khi xuất bản sách Trường ca Tây Nguyên, các tác giả đều gọi tên các sử thi Bahnar là trường ca [79]. Năm 1965, khi cho ra đời cuốn sách Truyện cổ Ba-na (02 tập), tác giả Ngọc Anh có bài giới thiệu là “Bƣớc đầu tìm hiểu truyện cổ dân gian Ba-na”, trong đó ông đã nhắc đến các tác phẩm mang âm hƣởng anh hùng ca có độ dài “kể ngót đêm ngày không dứt”.
Năm 1966, trong bài viết “Tinh thần dũng cảm của nhân dân Tây 14 Nguyên qua một số trƣờng ca và truyện cổ Tây Nguyên” in trên tạp chí Văn học số 8, Ngọc Anh cũng nhắc lại khái niệm trường ca, trong đó bao hàm sử thi Bahnar [4, tr. Cho đến trƣớc những năm 1980, khái niệm về sử thi Bahnar không có gì mới, vẫn sử dụng khái niệm trường ca để chỉ thể loại này. Năm 1982, khi giới thiệu sử thi Bahnar Đăm Noi đƣợc sƣu tầm tại Gia Lai, nhóm tác giả gọi sử thi này là trường ca theo tiếng Việt và h’mon theo tiếng Bahnar [80]. Đến năm 1988, khái niệm h’mon mới đƣợc Tô Ngọc Thanh định nghĩa rõ ràng trong cuốn sách Fônclo Bâhnar nhƣ sau: “Hơ Amon (tức h’mon) là một thể loại fôn- clo đa thành phần nghệ thuật và cũng là một sinh hoạt fôn-clo mang tính chất cộng đồng.
Hơ Amon thƣờng là một chuyện kể dài, thể hiện xen kẽ bằng văn xuôi, văn vần hoặc văn xuôi đối xứng cặp. Bao giờ Hơ Amon cũng đƣợc trình bày dƣới dạng hát kể, với những làn điệu âm nhạc, với ngữ điệu sắc thái, với cƣờng độ, tốc độ, với đổi giọng, đổi tầm âm của ngƣời hát kể” [81, tr. Niculin có bài viết “H’mon Đăm Noi với vấn đề các mối quan hệ giao tiếp và sự trùng hợp loại hình trong folklore Bana” trên Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật số 6, Nguyễn Ngọc Thƣờng dịch, sau in lại trong tập sách Văn học Việt Nam và giao lưu quốc tế do Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn. Trong bài viết này, tác giả sử dụng khái niệm h’mon để chỉ sử thi Bahnar.
Đáng lƣu ý là tác giả đã đặt các sử thi cùng loại, cùng tộc ngƣời trong một loại hình sử thi để nghiên cứu. Cách nghiên cứu của N. Niculin mở ra hƣớng nghiên cứu sử thi Tây Nguyên theo tộc ngƣời. Năm 1997, trong hội thảo khoa học Sử thi Tây Nguyên đƣợc tổ chức ở Buôn Ma Thuột, khái niệm h’mon Bahnar đƣợc trình bày trong bài viết “Hmon - Một hình thức diễn xƣớng dân gian của ngƣời Bana - An Khê - Gia Lai”.
Trong đó, Tô Ngọc Thanh có “nhắc lại mấy điều đặc biệt” về sử thi Bahnar là môi trƣờng và nghệ nhân diễn xƣớng [121, tr. Tuy nhiên, lúc này các nhà nghiên cứu chƣa bàn đến các sử thi tại Kon Tum, vì Dự án về sử thi Tây Nguyên chƣa đƣợc triển khai. Năm 2000, khái niệm hơamon (tức h’mon) vẫn đƣợc nhắc lại khi giới thiệu sử thi Dyông Dư [83]. Từ năm 2001, các nhà nghiên cứu thƣờng dùng từ h’mon để chỉ sử thi Bahnar, 15 không ai dùng thuật ngữ trường ca, bài ca nhƣ trƣớc đây nữa.
Theo ngƣời thực hiện đề tài, h’mon chỉ một loại hình nghệ thuật đặc biệt của ngƣời Bahnar ở Tây Nguyên. H’mon hội đủ tất cả những đặc điểm của loại hình sử thi nên chúng ta có thể gọi h’mon là sử thi của ngƣời Bahnar. Trong đề tài này, để thống nhất cách viết, tác giả đề tài sử dụng cách viết đƣợc nhiều ngƣời cho là phù hợp với phát âm của ngƣời Bahnar là h’mon. + Đặc điểm nội dung, nghệ thuật sử thi Bahnar Năm 2003, Phan Thị Hồng bảo vệ thành công luận án tiến sĩ mang tên Nhóm sử thi dân tộc Bahnar (Kon Tum) tại Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP.
Hồ Chí Minh. Năm 2006, một phần nội dung của luận án này đƣợc in thành sách chuyên khảo Nhóm sử thi dân tộc Bahnar. Tác giả đã nhận diện nhóm h’mon dân tộc Bahnar qua một số tiêu chí nhƣ: phƣơng thức diễn xƣớng, phƣơng thức tái xuất hiện, đề tài - cốt truyện, kết cấu cốt truyện,… Đây là việc làm cần thiết trƣớc khi đi sâu nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi này(3). Năm 2006, Nguyễn Quang Tuệ thực hiện luận văn thạc sĩ về sử thi Bahnar có tên: Sử thi của người Ba Na nhóm Tơlô ở huyện Kon Chro [118].
Đây là một công trình có giá trị, nhất là về kết quả điền dã. Với kinh nghiệm của ngƣời nhiều năm điền dã, sƣu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian ở Tây Nguyên, Nguyễn Quang Tuệ có những đóng góp tích cực về môi trƣờng, không gian và nghệ nhân diễn xƣớng sử thi. Rất tiếc, phạm vi khảo sát của đề tài này chỉ giới hạn ở huyện Kông Chro (Gia Lai) và với 6 sử thi đƣợc sƣu tầm ở Gia Lai nên chƣa đề cập nhiều đến nhóm sử thi Dăm Giông mà luận án này khảo sát (4). Ngoài ra, một số bài viết khác cũng đề cập đến sử thi Bahnar nhƣ: “Trao đổi với tác giả bài viết Bàn thêm về thuộc tính loại hình sử thi ở Việt Nam” của Lê Thị Thùy Ly [63], “Những phát hiện mới về sử thi Ba Na ở tỉnh Kon Tum” của Võ Quang Trọng [115],.
Các bài viết này tập trung bàn bạc, trao đổi về khái niệm sử thi, loại hình sử thi Bahnar,… Tuy nhiên, những bài viết này chỉ mang tính chất giới thiệu các sử thi mới sƣu tầm, trao đổi ý kiến về sử thi là chính. Một cách nhận diện sử thi khá mới mẻ là qua khía cạnh âm nhạc. Trong bài viết “Giai điệu âm nhạc trong trƣờng ca - sử thi Tây Nguyên”, Linh Nga Niê Kđăm 16 đã nhận diện sử thi Tây Nguyên ở khía cạnh âm nhạc, trong đó có sử thi Bahnar. Linh Nga viết: “Giai điệu trƣờng ca Bâhnar, có lúc là hát, có lúc là kể.
Hàng âm bao giờ cũng bắt đầu từ âm vực cao nhất của chủ âm, chuyển dần từng bậc theo hƣớng đi xuống. Ở mỗi bậc âm, giai điệu cũng chạy dài theo âm đó, tạo thành sự điệp âm của một nốt tƣơng tự nhƣ cách kể khan của ngƣời Êđê. Ở phần cuối mỗi mạch ngắt câu, nghệ nhân thƣờng dùng một nốt tô điểm nhỏ (patinot) luyến láy, cùng với các hƣ từ ơ ơ để báo hiệu chuyển câu hoặc chuyển đoạn. Cuối câu bao giờ cũng có một nốt luyến lên để ngắt câu.
Làn điệu dùng cho h’amon mang đậm yếu tố trữ tình, qua sự cảm thụ âm nhạc và nội dung truyện kể của ngƣời nghệ nhân. Tâm trạng này có thể thay đổi, tùy theo trạng thái tâm lí và đối tƣợng ngƣời nghe” [66]. Cách nhận diện sử thi qua giai điệu âm nhạc của Linh Nga Niê Kđăm là một cách nhận diện độc đáo, góp phần phân biệt về mặt hình thức sử thi của tộc ngƣời này với tộc ngƣời khác hoặc phân biệt sử thi với các loại hình dân gian khác nhƣ truyện thơ, truyện kể của một tộc ngƣời. Tháng 8 năm 2014, luận án tiến sĩ của Lê Thị Thùy Ly, mang tên Sử thi Bahnar và số phận của nó trong xã hội đương đại [64], nghiên cứu sử thi Bahnar trong mối quan hệ với bối cảnh lịch sử và xã hội hình thành, chỉ ra số phận của loại hình văn hóa này trong cuộc sống đƣơng đại.
Đóng góp của luận án trên là nghiên cứu những sử thi mới sƣu tầm và lí luận mới. Rất tiếc, đây là một luận án về văn hóa dân gian nên nội dung của luận án không đi sâu vào đặc điểm nội dung và nghệ thuật của sử thi Bahnar, nhất là những vấn đề liên quan đến đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi Dăm Giông. - Về nhóm sử thi Dăm Giông Khi biên tập và giới thiệu bộ sử thi Dăm Giông, nhiều biên tập viên đã có những đánh giá ban đầu về bộ sử thi này.