Luận án tiến sĩ: Đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi Dăm Giông trong văn học Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi Dăm Giông, làm rõ giá trị văn hóa và thẩm mỹ trong nền văn học Việt Nam.

Chuyên ngành

Văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án

2007

203
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. TÌNH HÌNH SƯU TẦM, NGHIÊN CỨU SỬ THI

1.1.1. Tình hình sưu tầm, nghiên cứu sử thi Tây Nguyên - Giai đoạn từ năm 1927 đến năm 1955

1.1.2. Giai đoạn từ năm 1957 đến năm 2000

1.1.3. Giai đoạn từ năm 2001 đến nay

2. CHƯƠNG 2: KẾT CẤU NHÓM SỬ THI DĂM GIÔNG - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ DIỄN XƯỚNG

3. CHƯƠNG 3: NHÂN VẬT DĂM GIÔNG TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI NHÂN VẬT TÁI XUẤT HIỆN VÀ SỬ THI ĐƠN

4. CHƯƠNG 4: HỆ THỐNG MOTIF VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG NHÓM SỬ THI DĂM GIÔNG

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi Dăm Giông

Nhóm sử thi Dăm Giông trong văn học Việt Nam thể hiện những đặc điểm nghệ thuật độc đáo, phản ánh sâu sắc văn hóa dân gian của người Bahnar. Các tác phẩm trong nhóm này không chỉ đơn thuần là những câu chuyện mà còn là những tác phẩm nghệ thuật có cấu trúc chặt chẽ, với sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức. Cốt truyện của nhóm sử thi này thường xoay quanh những kỳ tích của nhân vật Dăm Giông, một hình tượng anh hùng tiêu biểu, thể hiện sức mạnh và phẩm chất của người dân Tây Nguyên. Đặc biệt, sự lặp lại của các nhân vậtmotif trong các tác phẩm tạo nên một hệ thống liên hoàn, giúp người nghe dễ dàng tiếp cận và ghi nhớ. Như một nhà nghiên cứu đã từng nhận xét: "Sử thi Dăm Giông không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Bahnar."

1.1. Cấu trúc và kết cấu của nhóm sử thi

Cấu trúc của nhóm sử thi Dăm Giông được xây dựng trên nền tảng của những mô hìnhhệ thống motif phong phú. Mỗi tác phẩm trong nhóm này thường có một cốt truyện chính, nhưng lại chứa đựng nhiều nhánh nhỏ, tạo nên một mạng lưới câu chuyện phong phú. Điều này không chỉ giúp làm nổi bật nhân vật Dăm Giông mà còn phản ánh những giá trị văn hóa, xã hội của cộng đồng Bahnar. Các nhân vật tái xuất hiện trong các tác phẩm không chỉ mang tính biểu tượng mà còn thể hiện sự liên kết chặt chẽ giữa các câu chuyện, tạo nên một bức tranh tổng thể về cuộc sống và tâm tư của người dân nơi đây. Như một nhà nghiên cứu đã chỉ ra: "Cấu trúc liên hoàn của nhóm sử thi Dăm Giông là một minh chứng cho sự sáng tạo và khả năng truyền tải văn hóa của người Bahnar."

1.2. Hình tượng nhân vật Dăm Giông

Nhân vật Dăm Giông không chỉ là một anh hùng trong các tác phẩm văn học mà còn là biểu tượng cho sức mạnh và lòng dũng cảm của người Bahnar. Hình tượng này thường được xây dựng với những đặc điểm nổi bật như trí thông minh, sức mạnh phi thường và lòng trung thành. Các hình tượng nhân vật trong nhóm sử thi Dăm Giông thường mang tính biểu tượng cao, thể hiện những giá trị đạo đức và nhân văn sâu sắc. Như một nhà nghiên cứu đã nhận định: "Dăm Giông không chỉ là một nhân vật trong sử thi, mà còn là hình mẫu lý tưởng cho thế hệ trẻ của người Bahnar." Sự hiện diện của Dăm Giông trong các tác phẩm không chỉ mang lại niềm tự hào cho cộng đồng mà còn góp phần gìn giữ và phát huy văn hóa dân gian của tộc người này.

1.3. Nghệ thuật diễn xướng trong nhóm sử thi

Nghệ thuật diễn xướng là một phần không thể thiếu trong việc truyền tải các tác phẩm sử thi Dăm Giông. Các nghệ nhân không chỉ đơn thuần kể lại câu chuyện mà còn sử dụng nhiều hình thức nghệ thuật khác nhau để làm sống động nội dung. Diễn xướng h’mon là một trong những hình thức đặc sắc, thể hiện sự kết hợp giữa âm nhạc, vũ đạo và ngôn ngữ. Điều này không chỉ giúp tăng tính hấp dẫn cho các tác phẩm mà còn tạo ra một không gian giao lưu văn hóa phong phú. Như một nhà nghiên cứu đã từng nói: "Nghệ thuật diễn xướng trong nhóm sử thi Dăm Giông không chỉ là một hình thức nghệ thuật mà còn là một phương tiện để truyền tải những giá trị văn hóa và lịch sử của người Bahnar."

01/03/2025
Luận án tiến sĩ văn học việt nam đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi dăm giông

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề tiếp cận sử thi Tây Nguyên qua trƣờng hợp sử thi ot ndrong của ngƣời Mơ-nông bằng lí thuyết công thức truyền miệng (Oral-formulatic theory). Theo tác giả, công thức truyền miệng có nhiều vai trò trong việc hình thành sử thi nói chung và ot ndrong nói riêng nhƣ kết cấu sử thi, ổn định ngữ nghĩa, tổ chức lời văn nghệ thuật,. Tuy vậy, dù đặt ra nhiều vấn đề nhƣng tác giả chƣa khu biệt sử thi ot ndrong với các sử thi Tây Nguyên khác hoặc chỉ ra đặc trƣng nổi bật của ot ndrong [40]. Gần đây nhất, tháng 4 năm 2016, luận án tiến sĩ của Triệu Văn Thịnh, mang 13 tên Hệ thống nhân vật sử thi M’Nông và vấn đề thể loại, có nhiều phát hiện mới.

Luận án đã có những đánh giá bƣớc đầu về đặc trƣng thể loại, hệ thống nhân vật của sử thi ot ndrong của ngƣời Mơ-nông. Trong đó, tác giả khẳng định sử thi ot ndrong là sử thi thần thoại. Đặc biệt, tác giả chú ý các yếu tố môi trƣờng diễn xƣớng, các thủ pháp diễn xƣớng, đề tài, cốt truyện của ot ndrong. Đây là cách đề cập vấn đề hợp lí, khai thác đúng đặc trƣng của sử thi Tây Nguyên.

Tuy nhiên, chúng tôi chƣa thấy tác giả đề cập đến cấu trúc của nhóm sử thi ot drong, chƣa nhắc đến kết cấu liên hoàn của bộ sử thi, một đặc trƣng hết sức quan trọng của sử thi Tây Nguyên, nhất là các sử thi mới sƣu tầm [109]. Tình hình sƣu tầm, nghiên cứu sử thi Bahnar và nhóm sử thi Dăm Giông - Về sử thi Bahnar + Khái niệm sử thi Bahnar Ngƣời Bahnar dùng từ h’mon để chỉ những sử thi của mình. Từ h’mon đƣợc viết bằng nhiều cách: hơamon, hamon, hơ mon, hmon,… Sở dĩ có nhiều cách viết là do sự khác nhau trong cách phát âm của các nhóm phƣơng ngữ Bahnar hoặc quan niệm, cách hiểu, cách phiên âm của ngƣời sử dụng. Từ h’mon (hamon) đƣợc Paul Guilleminet đề cập lần đầu tiên trong cuốn sách Bộ lạc Bahnar ở Kon Tum - Góp phần nghiên cứu xã hội miền núi ở Đông Dương: “anh hùng ca hamon” [28, tr.

Trong cuốn từ điển Bahnar-Français, Paul Guilleminet giải nghĩa h’mon (hamon) là “truyền thuyết anh hùng của ngƣời Bahnar” [148, tr. Năm 1962, trong bài viết mang tên “Bƣớc đầu tìm hiểu về hình thức nghệ thuật của thơ ca Tây - nguyên”, Ngọc Anh nhắc đến khái niệm hơ mon (chỉ h’mon) và gọi là “trƣờng ca” [3, tr. Một năm sau đó, năm 1963, khi xuất bản sách Trường ca Tây Nguyên, các tác giả đều gọi tên các sử thi Bahnar là trường ca [79]. Năm 1965, khi cho ra đời cuốn sách Truyện cổ Ba-na (02 tập), tác giả Ngọc Anh có bài giới thiệu là “Bƣớc đầu tìm hiểu truyện cổ dân gian Ba-na”, trong đó ông đã nhắc đến các tác phẩm mang âm hƣởng anh hùng ca có độ dài “kể ngót đêm ngày không dứt”.

Năm 1966, trong bài viết “Tinh thần dũng cảm của nhân dân Tây 14 Nguyên qua một số trƣờng ca và truyện cổ Tây Nguyên” in trên tạp chí Văn học số 8, Ngọc Anh cũng nhắc lại khái niệm trường ca, trong đó bao hàm sử thi Bahnar [4, tr. Cho đến trƣớc những năm 1980, khái niệm về sử thi Bahnar không có gì mới, vẫn sử dụng khái niệm trường ca để chỉ thể loại này. Năm 1982, khi giới thiệu sử thi Bahnar Đăm Noi đƣợc sƣu tầm tại Gia Lai, nhóm tác giả gọi sử thi này là trường ca theo tiếng Việt và h’mon theo tiếng Bahnar [80]. Đến năm 1988, khái niệm h’mon mới đƣợc Tô Ngọc Thanh định nghĩa rõ ràng trong cuốn sách Fônclo Bâhnar nhƣ sau: “Hơ Amon (tức h’mon) là một thể loại fôn- clo đa thành phần nghệ thuật và cũng là một sinh hoạt fôn-clo mang tính chất cộng đồng.

Hơ Amon thƣờng là một chuyện kể dài, thể hiện xen kẽ bằng văn xuôi, văn vần hoặc văn xuôi đối xứng cặp. Bao giờ Hơ Amon cũng đƣợc trình bày dƣới dạng hát kể, với những làn điệu âm nhạc, với ngữ điệu sắc thái, với cƣờng độ, tốc độ, với đổi giọng, đổi tầm âm của ngƣời hát kể” [81, tr. Niculin có bài viết “H’mon Đăm Noi với vấn đề các mối quan hệ giao tiếp và sự trùng hợp loại hình trong folklore Bana” trên Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật số 6, Nguyễn Ngọc Thƣờng dịch, sau in lại trong tập sách Văn học Việt Nam và giao lưu quốc tế do Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn. Trong bài viết này, tác giả sử dụng khái niệm h’mon để chỉ sử thi Bahnar.

Đáng lƣu ý là tác giả đã đặt các sử thi cùng loại, cùng tộc ngƣời trong một loại hình sử thi để nghiên cứu. Cách nghiên cứu của N. Niculin mở ra hƣớng nghiên cứu sử thi Tây Nguyên theo tộc ngƣời. Năm 1997, trong hội thảo khoa học Sử thi Tây Nguyên đƣợc tổ chức ở Buôn Ma Thuột, khái niệm h’mon Bahnar đƣợc trình bày trong bài viết “Hmon - Một hình thức diễn xƣớng dân gian của ngƣời Bana - An Khê - Gia Lai”.

Trong đó, Tô Ngọc Thanh có “nhắc lại mấy điều đặc biệt” về sử thi Bahnar là môi trƣờng và nghệ nhân diễn xƣớng [121, tr. Tuy nhiên, lúc này các nhà nghiên cứu chƣa bàn đến các sử thi tại Kon Tum, vì Dự án về sử thi Tây Nguyên chƣa đƣợc triển khai. Năm 2000, khái niệm hơamon (tức h’mon) vẫn đƣợc nhắc lại khi giới thiệu sử thi Dyông Dư [83]. Từ năm 2001, các nhà nghiên cứu thƣờng dùng từ h’mon để chỉ sử thi Bahnar, 15 không ai dùng thuật ngữ trường ca, bài ca nhƣ trƣớc đây nữa.

Theo ngƣời thực hiện đề tài, h’mon chỉ một loại hình nghệ thuật đặc biệt của ngƣời Bahnar ở Tây Nguyên. H’mon hội đủ tất cả những đặc điểm của loại hình sử thi nên chúng ta có thể gọi h’mon là sử thi của ngƣời Bahnar. Trong đề tài này, để thống nhất cách viết, tác giả đề tài sử dụng cách viết đƣợc nhiều ngƣời cho là phù hợp với phát âm của ngƣời Bahnar là h’mon. + Đặc điểm nội dung, nghệ thuật sử thi Bahnar Năm 2003, Phan Thị Hồng bảo vệ thành công luận án tiến sĩ mang tên Nhóm sử thi dân tộc Bahnar (Kon Tum) tại Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP.

Hồ Chí Minh. Năm 2006, một phần nội dung của luận án này đƣợc in thành sách chuyên khảo Nhóm sử thi dân tộc Bahnar. Tác giả đã nhận diện nhóm h’mon dân tộc Bahnar qua một số tiêu chí nhƣ: phƣơng thức diễn xƣớng, phƣơng thức tái xuất hiện, đề tài - cốt truyện, kết cấu cốt truyện,… Đây là việc làm cần thiết trƣớc khi đi sâu nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi này(3). Năm 2006, Nguyễn Quang Tuệ thực hiện luận văn thạc sĩ về sử thi Bahnar có tên: Sử thi của người Ba Na nhóm Tơlô ở huyện Kon Chro [118].

Đây là một công trình có giá trị, nhất là về kết quả điền dã. Với kinh nghiệm của ngƣời nhiều năm điền dã, sƣu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian ở Tây Nguyên, Nguyễn Quang Tuệ có những đóng góp tích cực về môi trƣờng, không gian và nghệ nhân diễn xƣớng sử thi. Rất tiếc, phạm vi khảo sát của đề tài này chỉ giới hạn ở huyện Kông Chro (Gia Lai) và với 6 sử thi đƣợc sƣu tầm ở Gia Lai nên chƣa đề cập nhiều đến nhóm sử thi Dăm Giông mà luận án này khảo sát (4). Ngoài ra, một số bài viết khác cũng đề cập đến sử thi Bahnar nhƣ: “Trao đổi với tác giả bài viết Bàn thêm về thuộc tính loại hình sử thi ở Việt Nam” của Lê Thị Thùy Ly [63], “Những phát hiện mới về sử thi Ba Na ở tỉnh Kon Tum” của Võ Quang Trọng [115],.

Các bài viết này tập trung bàn bạc, trao đổi về khái niệm sử thi, loại hình sử thi Bahnar,… Tuy nhiên, những bài viết này chỉ mang tính chất giới thiệu các sử thi mới sƣu tầm, trao đổi ý kiến về sử thi là chính. Một cách nhận diện sử thi khá mới mẻ là qua khía cạnh âm nhạc. Trong bài viết “Giai điệu âm nhạc trong trƣờng ca - sử thi Tây Nguyên”, Linh Nga Niê Kđăm 16 đã nhận diện sử thi Tây Nguyên ở khía cạnh âm nhạc, trong đó có sử thi Bahnar. Linh Nga viết: “Giai điệu trƣờng ca Bâhnar, có lúc là hát, có lúc là kể.

Hàng âm bao giờ cũng bắt đầu từ âm vực cao nhất của chủ âm, chuyển dần từng bậc theo hƣớng đi xuống. Ở mỗi bậc âm, giai điệu cũng chạy dài theo âm đó, tạo thành sự điệp âm của một nốt tƣơng tự nhƣ cách kể khan của ngƣời Êđê. Ở phần cuối mỗi mạch ngắt câu, nghệ nhân thƣờng dùng một nốt tô điểm nhỏ (patinot) luyến láy, cùng với các hƣ từ ơ ơ để báo hiệu chuyển câu hoặc chuyển đoạn. Cuối câu bao giờ cũng có một nốt luyến lên để ngắt câu.

Làn điệu dùng cho h’amon mang đậm yếu tố trữ tình, qua sự cảm thụ âm nhạc và nội dung truyện kể của ngƣời nghệ nhân. Tâm trạng này có thể thay đổi, tùy theo trạng thái tâm lí và đối tƣợng ngƣời nghe” [66]. Cách nhận diện sử thi qua giai điệu âm nhạc của Linh Nga Niê Kđăm là một cách nhận diện độc đáo, góp phần phân biệt về mặt hình thức sử thi của tộc ngƣời này với tộc ngƣời khác hoặc phân biệt sử thi với các loại hình dân gian khác nhƣ truyện thơ, truyện kể của một tộc ngƣời. Tháng 8 năm 2014, luận án tiến sĩ của Lê Thị Thùy Ly, mang tên Sử thi Bahnar và số phận của nó trong xã hội đương đại [64], nghiên cứu sử thi Bahnar trong mối quan hệ với bối cảnh lịch sử và xã hội hình thành, chỉ ra số phận của loại hình văn hóa này trong cuộc sống đƣơng đại.

Đóng góp của luận án trên là nghiên cứu những sử thi mới sƣu tầm và lí luận mới. Rất tiếc, đây là một luận án về văn hóa dân gian nên nội dung của luận án không đi sâu vào đặc điểm nội dung và nghệ thuật của sử thi Bahnar, nhất là những vấn đề liên quan đến đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi Dăm Giông. - Về nhóm sử thi Dăm Giông Khi biên tập và giới thiệu bộ sử thi Dăm Giông, nhiều biên tập viên đã có những đánh giá ban đầu về bộ sử thi này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi Dăm Giông trong văn học Việt Nam" khám phá những nét đặc trưng nghệ thuật của nhóm sử thi Dăm Giông, một phần quan trọng trong di sản văn học dân gian Việt Nam. Tác giả phân tích các yếu tố như hình thức, nội dung và ý nghĩa của các tác phẩm sử thi, từ đó làm nổi bật vai trò của chúng trong việc phản ánh văn hóa và lịch sử của cộng đồng. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách mà nghệ thuật sử thi không chỉ là phương tiện giải trí mà còn là công cụ truyền tải giá trị văn hóa và tinh thần của dân tộc.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn học và ngôn ngữ Việt Nam, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ ngữ văn nghiên cứu chữ nôm và tiếng việt trong văn bản nhị độ mai tinh tuyển, nơi bạn sẽ tìm thấy những nghiên cứu sâu sắc về chữ Nôm và tiếng Việt. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ văn học văn học dân gian cao lan nhìn từ văn hóa tộc người cũng sẽ cung cấp cái nhìn thú vị về văn học dân gian và văn hóa tộc người, giúp bạn hiểu rõ hơn về sự đa dạng trong văn học Việt Nam. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ thi pháp thơ lục bát hiện đại qua một số trường hợp tiêu biểu sẽ mang đến cho bạn những phân tích sâu sắc về thể thơ lục bát, một trong những hình thức thơ truyền thống đặc sắc của Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm về văn học Việt Nam.