Tổng quan luận án

Công trình Nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt trong văn bản Nhị độ mai tinh tuyển của tác giả Võ Thị Ngọc Thúy là luận án tiến sĩ Ngữ văn, chuyên ngành Hán Nôm (mã số 9.04), được bảo vệ năm 2019 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. NGND Nguyễn Ngọc San và PGS.TS Dương Tuấn Anh.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong kho tàng văn học cổ điển Việt Nam, tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai của Trung Quốc đã được tiếp nhận và chuyển thể thành nhiều tác phẩm diễn Nôm khác nhau, bao gồm ba bản truyện thơ lục bát (Nhị độ mai diễn ca - NĐMDC khuyết danh, Cải dịch Nhị độ mai truyện - CDNĐM của Đặng Xuân Bảng, Nhị độ mai tinh tuyển - NĐMTT của Song Đông Ngâm Tuyết Đường) cùng hai kịch bản tuồng (Nhị độ mai trò, Nhị độ mai diễn truyện). Trong số này, tác phẩm Nhị độ mai diễn ca được lưu truyền rộng rãi và nghiên cứu toàn diện qua nhiều văn bản khắc in, chép tay và bản phiên âm quốc ngữ. Ngược lại, tác phẩm Nhị độ mai tinh tuyển tồn tại ở dạng bản chép tay chữ Nôm và thường chỉ được giới nghiên cứu nhìn nhận sơ lược như một tác phẩm phái sinh, dựa theo bản Nhị độ mai diễn ca với giá trị nghệ thuật hạn chế hơn.

Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là chưa có công trình nào tiến hành khảo sát toàn diện, có hệ thống đối với văn bản Nhị độ mai tinh tuyển trên cả ba bình diện: văn bản học, văn tự học chữ Nôm và ngữ âm lịch sử tiếng Việt. Được biên soạn và sao chép vào cuối thế kỷ XIX (năm 1887), văn bản mang những đặc trưng tiêu biểu của chữ Nôm giai đoạn hậu kỳ (1884–1945) và ghi nhận diện mạo của tiếng Việt thời kỳ cận hiện đại sau một thế kỷ biến đổi kể từ khi bản Nhị độ mai diễn ca ra đời.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định bốn mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Chỉ ra mối quan hệ kế thừa, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các bản diễn Nôm truyện Nhị độ mai như một hiện tượng phổ biến trong quá trình lưu truyền các tác phẩm truyện Nôm; khẳng định Nhị độ mai tinh tuyển là một sáng tạo có chủ đích, mang nhiều giá trị văn học độc lập với Nhị độ mai diễn ca.
  2. Khái quát đặc điểm chữ Nôm sử dụng trong văn bản Nhị độ mai tinh tuyển thông qua thống kê phân loại cấu trúc chữ Nôm trong văn bản, có sự so sánh, đối chiếu với các văn bản Nôm khác.
  3. Chỉ ra những biến đổi trong cấu trúc chữ Nôm và mô hình ghi âm của chữ Nôm hậu kỳ trong văn bản Nhị độ mai tinh tuyển.
  4. Chỉ ra một số đặc điểm về ngữ âm và từ vựng tiếng Việt cận hiện đại (cuối thế kỷ XIX) thể hiện qua cách ghi âm chữ Nôm trong văn bản Nhị độ mai tinh tuyển.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu chính: Các đặc điểm văn tự học (hình thể, âm đọc, ý nghĩa) của chữ Nôm trong văn bản Nhị độ mai tinh tuyển mang ký hiệu AB.350 lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Đồng thời, luận án nghiên cứu vai trò của chữ Nôm trong văn bản đối với việc phản ánh tiếng Việt qua hai bình diện ngữ âm và từ vựng.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các vấn đề văn bản học (mô tả văn bản, niên đại, tác giả, chữ húy, dị bản, dị văn), cấu trúc văn tự học của chữ Nôm và các đặc điểm ngữ âm, từ vựng tiếng Việt cận hiện đại. Các bình diện ngữ pháp và phong cách không thuộc phạm vi khảo sát trọng tâm.
  • Phạm vi tư liệu và không gian - thời gian: Tư liệu trục là bản chép tay AB.350 (hoàn thành năm Đồng Khánh thứ 2 - 1887). Tư liệu đối sánh bao gồm hai bản sao giữa thế kỷ XX tại Thư viện Đại học Yale (ký hiệu N72, N73 thuộc bộ sưu tập Maurice Durand), các bản Nhị độ mai diễn ca (AB.419/1, VNb22, R495, bản in năm 1907, 1919), bản Cải dịch Nhị độ mai truyện, các kịch bản tuồng Nôm và các văn bản Nôm tiêu biểu ở các giai đoạn lịch sử như Truyện Kiều, Quốc âm thi tập (QÂTT), Truyền kỳ mạn lục giải âm (TTBH), Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa (CNNÂ), Thiên chúa Thánh giáo khải mông.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến truyện Nhị độ mai và văn bản Nhị độ mai tinh tuyển theo bốn hướng chính:

Hướng nghiên cứu Tác giả, công trình và năm công bố Nội dung và kết quả chính đã ghi nhận
Nghiên cứu diễn Nôm truyện Nhị độ mai Lê Trí Viễn và Hoàng Ngọc Phách (1972), Nguyễn Thạch Giang (1988), Trần Quang Huy (1972), Nguyễn Quảng Tuân (1996), Trần Nghĩa (1998), Trần Ích Nguyên, Trang Thu Quân (1999), Võ Thị Ngọc Thúy (2016), Nguyễn Thị Hải Vân (2017). Khái quát quá trình chuyển thể từ tiểu thuyết chữ Hán sang truyện thơ lục bát và tuồng Nôm; khảo sát dị bản, hiệu đính bản NĐMDC; thảo luận tác giả NĐMDC (Lý Văn Phức hoặc Đặng Huy Trứ).
Dịch thuật và phiên âm NĐMTT Lê Trí Viễn và Hoàng Ngọc Phách (1972), Hoàng Thị Ngọ (2009), bộ sưu tập Maurice Durand tại Đại học Yale (bản N72, N73). Lê Trí Viễn và Hoàng Ngọc Phách phiên âm 2 đoạn ngắn (24 câu mở đầu và đoạn 114 câu Hạnh Nguyên từ biệt); Hoàng Thị Ngọ phiên Nôm tên 13 hồi và một số trích đoạn; hai bản N72, N73 có phần phiên âm chữ quốc ngữ đi kèm.
Văn bản học NĐMTT Trang Thu Quân (1999), Hoàng Thị Ngọ (2009), Võ Thị Ngọc Thúy (2016). Mô tả bản chép tay AB.350; thảo luận về tác giả Song Đông Ngâm Tuyết Đường; khảo sát chữ húy đời Nguyễn; xác định niên đại văn bản năm 1887; đối chiếu dị văn với các bản sao N72, N73.
Văn tự học chữ Nôm trong NĐMTT Viện Ngôn ngữ học (1976 - Bảng tra chữ Nôm), Võ Thị Ngọc Thúy (2016). Trích xuất một số tự dạng chữ Nôm trong AB.350 phục vụ bảng tra; bước đầu khảo sát 6 chữ Nôm viết húy đời Nguyễn (Lan, Thì, Nhậm, Hoa, Thật, Chủng) và một số chữ viết sai tự dạng.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Qua tổng quan tư liệu, luận án chỉ ra các hạn chế của những nghiên cứu đi trước:

  • Chưa có công trình nào phiên âm, chú giải toàn bộ 2.746 câu thơ của tác phẩm Nhị độ mai tinh tuyển.
  • Chưa có nghiên cứu chuyên biệt phân loại và thống kê định lượng toàn diện hệ thống cấu trúc chữ Nôm trong bản AB.350 theo các mô hình văn tự học hiện đại.
  • Chưa làm rõ các đặc trưng của chữ Nôm hậu kỳ (cuối thế kỷ XIX) và mối liên hệ giữa cách ghi âm chữ Nôm với sự biến đổi của ngữ âm lịch sử tiếng Việt thời cận đại thông qua văn bản này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án xây dựng khung nghiên cứu dựa trên sự kết hợp của ba phân ngành lý thuyết:

  1. Lý thuyết văn bản học Hán Nôm: Dựa trên công trình Cơ sở văn bản học Hán Nôm của Ngô Đức Thọ và Trịnh Khắc Mạnh, vận dụng phương pháp khảo sát xuất xứ văn bản, giám định chữ húy, khảo sát dị văn và mối quan hệ âm - nghĩa nhằm xác định tính xác thực và niên đại văn bản.
  2. Lý thuyết văn tự học chữ Nôm:
    • Sử dụng quan điểm nghiên cứu chữ Nôm theo hướng âm đọc của Nguyễn Ngọc San trong Lý thuyết chữ Nôm văn Nôm (2003): phân loại chữ Nôm dựa trên thành tố gốc (đơn vị Hán tự có âm đọc xuất phát) thành hai nhóm lớn là nhóm chữ Nôm vay mượn (nhóm đơn) và nhóm chữ Nôm tự tạo (nhóm ghép), kết hợp các tiêu chí chức năng biểu âm - biểu ý.
    • Kế thừa lý thuyết về cấu trúc chức năng, cấu trúc hình thể và hiện tượng dị thể chữ Nôm của Nguyễn Quang Hồng trong Khái luận văn tự học chữ Nôm (2008).
    • Vận dụng các tiêu chí xác định chữ Nôm đọc theo nghĩa của Nguyễn Ngọc San và Lã Minh Hằng (2004).
    • Tham chiếu danh mục 680 chữ Nôm cổ của Nguyễn Tài Cẩn trong Một số vấn đề về chữ Nôm (1985).
  3. Lý thuyết ngôn ngữ học lịch sử:
    • Ngữ âm học lịch sử tiếng Việt: Dựa trên các công trình của Nguyễn Tài Cẩn (Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt, Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt), Nguyễn Ngọc San (Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử), Trần Trí Dõi (Giáo trình lịch sử tiếng Việt). Hệ thống hóa các quy luật biến đổi phụ âm đầu (*b > M, *d > N, *p > B, *t > Đ, *s > T, *s' > TH, */ch/ > X; xát hóa V, D, Gi, G, R; đơn giản hóa các tổ hợp kl, tl > TR ~ CH, pl, bl > Tr ~ Gi, ml > L ~ NH), biến đổi vần và thanh điệu.
    • Từ vựng học lịch sử tiếng Việt: Vận dụng lý thuyết của Trần Trí Dõi và Vũ Đức Nghiệu (Lược khảo lịch sử từ vựng tiếng Việt); phân kỳ lịch sử 6 giai đoạn của Nguyễn Tài Cẩn (xác định văn bản thuộc giai đoạn tiếng Việt cận đại nửa sau thế kỷ XIX); khung phân loại thành ngữ gốc Hán của Lê Đình Khẩn (2002) gồm thành ngữ Hán Việt, thành ngữ cải biên và thành ngữ sao phỏng; các quan niệm về từ Việt cổ của Đào Duy Anh, Vương Lộc, Nguyễn Ngọc San.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp văn bản học: Sử dụng phương pháp hiệu khám học với hai thao tác cơ bản: bản hiệu pháp (dùng cứ liệu nội tại của văn bản) và lý hiệu pháp (hiệu khảo dựa trên ngữ nghĩa và cấu trúc văn tự học) nhằm xử lý sai dị, khảo sát chữ húy và thiết lập văn bản khả tín.
  • Phương pháp ngôn ngữ học lịch sử - so sánh: Vận dụng thủ pháp phục nguyên bên trong, thủ pháp niên đại hóa (dựa vào chữ húy và biến đổi cấu trúc chữ Nôm), thủ pháp phân tích lịch sử cấu tạo từ và từ nguyên.
  • Phương pháp thống kê định lượng: Lập bảng tra, tự điển tần số về số chữ, tần số xuất hiện của từng kiểu cấu trúc chữ Nôm và các mô hình ghi âm tương ứng với các thành phần âm tiết tiếng Việt.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu và cấu trúc luận: So sánh đồng đại (với các văn bản Nôm cùng thời kỳ hậu kỳ) và lịch đại (với các văn bản Nôm thời kỳ trước); xem xét vị trí của từng mô hình cấu trúc trong toàn bộ hệ thống văn tự của tác phẩm.

Nguồn tư liệu

Tư liệu chính là văn bản chép tay Nhị độ mai tinh tuyển (AB.350) gồm 61 tờ (58 tờ chính văn, 112 trang), 2.746 câu thơ lục bát, phân thành 13 hồi. Tư liệu đối chiếu gồm 2 bản sao N72, N73 tại Đại học Yale cùng các bản truyện Nôm và từ điển Hán Nôm liên quan.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết

Chương này tổng kết toàn bộ lịch sử nghiên cứu các văn bản diễn Nôm từ tiểu thuyết Nhị độ mai, phân tích ưu điểm và hạn chế của các công trình đi trước; xác lập hệ thống cơ sở lý thuyết bao gồm văn bản học Hán Nôm, văn tự học chữ Nôm và ngôn ngữ học lịch sử tiếng Việt (ngữ âm và từ vựng) làm tiền đề phương pháp luận cho các chương sau.

Chương 2: Khảo cứu văn bản tác phẩm Nhị độ mai tinh tuyển

Chương 2 tập trung khảo sát toàn diện các khía cạnh văn bản học của bản AB.350 và các bản liên quan:

  • Tình hình chung các bản diễn Nôm: Thống kê 3 truyện thơ Nôm (Nhị độ mai diễn ca, Cải dịch Nhị độ mai truyện, Nhị độ mai tinh tuyển) và 2 kịch bản sân khấu (Nhị độ mai trò, Nhị độ mai diễn truyện).
  • Mô tả văn bản AB.350: Bản viết tay trên giấy gió mỏng theo lối chữ chân đá hành, có 2.746 câu thơ lục bát chia làm 13 hồi. Cột mốc thời gian ở trang cuối ghi: Hoàng Nam Đồng Khánh nhị niên lục nguyệt cát nhật thư thành (tháng 6 năm Đồng Khánh thứ 2 - 1887).
  • Thiên đầu và địa cước: Xuất hiện rải rác ở 32 trang trên tổng số 112 trang. Phần thiên đầu ghi tên hồi và các lời bình luận của người chép (bày tỏ khen, chê, nghi vấn đối với hành vi nhân vật); phần địa cước gồm các lời chú giải từ ngữ Hán Việt, điển tích ở 4 trang đầu (1a, 1b, 3a, 3b).
  • Sai sót và sửa chữa văn bản: Thống kê được 39 lỗi sai trật tự chữ (37 lỗi có ký hiệu đảo chữ) và 118 vị trí chữ Nôm bị gạch xóa, chỉnh sửa (viết đè chữ khác, chấm ba nét và viết chữ sửa sang bên phải, dán giấy đè lên). Việc xuất hiện nhiều sửa chữa về vần ở cuối câu gợi ý bản AB.350 có khả năng là thủ bút của tác giả.
  • Khảo sát chữ húy đời Nguyễn: Phát hiện 6 chữ húy gồm Lan (húy mẹ vua Gia Long - đổi thành chữ Hương), Chủng (húy vua Gia Long - đổi trật tự, bớt nét), Thật (húy mẹ vua Thiệu Trị - đổi thành chữ Thực 寔), Hoa (húy mẹ vua Thiệu Trị - đổi chữ Ba 葩, dùng chữ tục thể 芲, viết bớt nét), Thì (trọng húy vua Tự Đức - kiêng húy triệt để bằng cách đổi thành chữ Thìn 辰), Nhậm (tiểu húy vua Tự Đức - bớt nét). Hệ thống chữ húy xác nhận văn bản được sao chép sau thời Tự Đức, phù hợp với niên đại 1887.
  • Các bản sao tại nước ngoài: Khảo cứu hai bản chép tay N72 và N73 tại Thư viện Đại học Yale (chép trong khoảng 1946–1956 từ bộ sưu tập Maurice Durand), xác định mối quan hệ truyền bản từ AB.350 sang N72 và N73.

Chương 3: Nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm trong văn bản Nhị độ mai tinh tuyển

Chương này thực hiện thống kê, phân loại và phân tích cấu trúc chữ Nôm trong bản AB.350 theo mô hình của Nguyễn Ngọc San:

  • Phân loại cấu trúc: Chia thành hai nhóm chính: nhóm chữ Nôm vay mượn (loại A) và nhóm chữ Nôm tự tạo (loại B). Phân tích chi tiết các tiểu loại mượn trọn vẹn âm - nghĩa Hán Việt, mượn âm đọc chệch, mượn chữ đọc theo nghĩa, và các kiểu ghép thành tố chỉ ý kết hợp thành tố chỉ âm.
  • Tương quan cấu trúc: So sánh tỷ lệ các loại cấu trúc chữ Nôm trong NĐMTT với các văn bản Nôm thời sơ kỳ và trung kỳ; nhận định sự gia tăng của loại chữ Nôm tự tạo ghép âm - ý và sự ổn định của các mô hình ghi âm định hướng.
  • Đặc điểm hình thể và phong cách viết chữ Nôm: Khảo sát các dạng dị thể, hiện tượng một âm Nôm có nhiều cách viết khác nhau (như từ so, trong, người), và các chữ Nôm hậu kỳ có cấu trúc đơn giản hóa hoặc thay đổi so với chữ Nôm sơ kỳ.

Chương 4: Tiếng Việt qua cách ghi chữ Nôm trong “Nhị độ mai tinh tuyển”

Chương 4 khảo sát diện mạo ngữ âm và từ vựng tiếng Việt cận hiện đại phản ánh qua văn bản:

  • Cách ghi âm: Lập các bảng đối chiếu giữa âm đầu Nôm và âm đầu Hán Việt (Bảng 4.1), đối chiếu hệ thống vần mở, vần nửa mở, vần khép có âm cuối -m, -n, -nh, -ng, -c, -ch, -p, -t với vần Hán Việt (Bảng 4.2 đến 4.7), phân tích âm đệm và thanh điệu.
  • Đặc điểm ngữ âm lịch sử: Ghi nhận sự ổn định của các phụ âm đầu quặt lưỡi s, tr; phản ánh quá trình hòa lẫn, đồng quy của một số nhóm phụ âm đầu trong tiếng Việt giai đoạn cận đại.
  • Đặc điểm từ vựng: Khảo sát cơ cấu từ vựng; thống kê và phân loại thành ngữ gốc Hán (thành ngữ cải biên, thành ngữ sao phỏng, diễn đạt mượn ý); phân tích số lượng và tỷ lệ từ láy trong NĐMTT (Bảng 4.11) trong tương quan đối sánh với các tác phẩm song thất lục bát (Bảng 4.12) và truyện Nôm lục bát khác (Bảng 4.13); nhận diện hệ thống từ Việt cổ và các yếu tố từ ngữ mới xuất hiện cuối thế kỷ XIX.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận và khoa học

  1. Về văn bản học: Luận án làm sáng tỏ nguồn gốc tác phẩm, ý nghĩa nhan đề Nhị độ mai tinh tuyển, chứng minh mối quan hệ tương tác biện chứng và ảnh hưởng "phản chiếu" giữa bản diễn Nôm ra đời sau (Nhị độ mai tinh tuyển) đối với tác phẩm ra đời trước (Nhị độ mai diễn ca). Khẳng định tính khả tín của bản chép tay AB.350 và xác lập niên đại chuẩn xác của văn bản là năm Đồng Khánh thứ 2 (1887).
  2. Về văn tự học: Cung cấp hệ thống số liệu thống kê định lượng về các loại cấu trúc và mô hình ghi âm chữ Nôm trong một văn bản cụ thể cuối thế kỷ XIX; khái quát các đặc trưng cấu trúc của chữ Nôm giai đoạn hậu kỳ; đề xuất các phương án phân chia chi tiết về quá trình diễn biến cấu trúc chữ Nôm và mô hình hóa mối quan hệ giữa âm xuất phát Hán Việt với âm Nôm.
  3. Về ngôn ngữ học lịch sử: Chứng minh sự chi phối của quy luật ngữ âm lịch sử đối với cấu trúc và cách ghi âm chữ Nôm, đặc biệt là hiện tượng đồng quy các nhóm phụ âm đầu trong tiếng Việt thời kỳ cận hiện đại.

Đóng góp về thực tiễn

  • Luận án hoàn thành việc phiên âm và chú giải toàn bộ văn bản Nhị độ mai tinh tuyển (2.746 câu thơ), cung cấp một văn bản khả tín phục vụ công tác công bố, lưu trữ và phổ biến tác phẩm văn học Nôm.
  • Cung cấp nguồn tư liệu và các bảng tra cứu cấu trúc chữ Nôm, bảng đối chiếu ngữ âm phục vụ việc biên soạn từ điển chữ Nôm và nghiên cứu lịch sử tiếng Việt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chỉ tập trung khảo cứu các bình diện văn bản học, văn tự học và ngôn ngữ học (ngữ âm, từ vựng); chưa đi sâu phân tích toàn diện các phương diện ngữ pháp, phong cách học và thi pháp nghệ thuật của tác phẩm. Do đặc thù tài liệu lưu trữ, thông tin tiểu sử chi tiết (tên thật, quê quán, năm sinh năm mất) của tác giả mang bút danh Song Đông Ngâm Tuyết Đường vẫn dừng lại ở các giả thuyết gợi mở.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục khảo cứu sâu hơn về đặc điểm ngữ pháp tiếng Việt cận đại qua văn bản; so sánh thi pháp thể loại tiểu thuyết chương hồi bằng thơ lục bát của NĐMTT với các tác phẩm truyện Nôm thế sự khác; tìm kiếm thêm tư liệu lịch sử để xác định chính xác nhân thân tác giả Song Đông Ngâm Tuyết Đường.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng và lĩnh vực chuyên môn:

  • Nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Hán Nôm: Tham khảo phương pháp tiếp cận đa ngành kết hợp văn bản học, văn tự học và ngữ âm học lịch sử; tham khảo phương pháp xử lý văn bản chép tay có nhiều tầng hiệu đính, khảo sát chữ húy và đối chiếu dị văn giữa các bản lưu trữ trong nước và quốc tế.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu Ngôn ngữ học: Khai thác hệ thống bảng thống kê đối chiếu âm đầu, vần Nôm - Hán Việt và các cứ liệu về sự biến đổi ngữ âm tiếng Việt giai đoạn cận đại (cuối thế kỷ XIX).
  • Nhà nghiên cứu Văn học trung đại: Sử dụng bản phiên âm, khảo dị 2.746 câu lục bát của NĐMTT để nghiên cứu quá trình tiếp nhận, phóng tác tiểu thuyết Trung Quốc tại Việt Nam và sự thể nghiệm hình thức chương hồi trong truyện thơ lục bát.

Câu hỏi thường gặp

1. Niên đại chính xác của văn bản Nhị độ mai tinh tuyển (AB.350) được xác định là năm nào?

Văn bản AB.350 đề thời gian hoàn thành ở trang 56a là Hoàng Nam Đồng Khánh nhị niên lục nguyệt cát nhật thư thành. Luận án quy chuẩn niên hiệu Đồng Khánh năm thứ 2 là năm 1887 (không phải 1886, do vua Đồng Khánh lên ngôi cuối năm 1885 nhưng năm 1886 mới tính là Đồng Khánh nguyên niên).

2. Văn bản AB.350 ghi nhận những chữ kiêng húy nào của triều Nguyễn?

Luận án thống kê được 6 chữ húy triều Nguyễn trong văn bản:

  • Chữ Lan 蘭 (húy mẹ vua Gia Long): đổi thành chữ Hương 香.
  • Chữ Chủng 種 (húy vua Gia Long): bớt nét, đổi trật tự cấu trúc.
  • Chữ Thật 實 (húy mẹ vua Thiệu Trị): đổi thành chữ Thực 寔.
  • Chữ Hoa 華 (húy mẹ vua Thiệu Trị): đổi thành chữ Ba 葩, dùng chữ tục thể 芲 hoặc viết bớt nét.
  • Chữ Thì 時 (trọng húy vua Tự Đức): kiêng húy triệt để bằng cách đổi sang chữ Thìn 辰.
  • Chữ Nhậm 任 (húy vua Tự Đức): bớt nét sổ phần bên phải.

3. Tác phẩm Nhị độ mai tinh tuyển có bao nhiêu câu thơ và được chia làm mấy hồi?

Tác phẩm gồm 2.746 câu thơ lục bát (tác giả đính chính lại con số 2.847 câu của nghiên cứu trước), được kết cấu thành 13 hồi. Đầu mỗi hồi có hai câu mào đầu gồm 2 vế đối xứng (thường mỗi vế 7 chữ, riêng hồi 5 mỗi vế 8 chữ) khái quát nội dung chính của hồi.

4. Dấu vết văn bản nào cho thấy bản AB.350 có khả năng là thủ bút của chính tác giả?

Văn bản AB.350 có 118 vị trí chữ Nôm bị gạch xóa và sửa chữa trực tiếp, trong đó nhiều sửa chữa nằm ở cuối câu thơ liên quan trực tiếp đến việc điều chỉnh cách gieo vần cho câu kế tiếp (ví dụ: sửa giải khuyên thành hỏi tra để bắt vần a, sửa tinh ba thành tinh trung để bắt vần ong). Ngoài ra, văn bản có 39 lỗi trật tự chữ và nhiều lời bình luận thể hiện quan điểm cá nhân ở phần thiên đầu.

5. Hai bản sao của Nhị độ mai tinh tuyển ở nước ngoài được lưu trữ tại đâu và có nguồn gốc như thế nào?

Hai bản sao mang ký hiệu N72 và N73 được lưu trữ tại Thư viện Đại học Yale (Hoa Kỳ), thuộc bộ sưu tập văn bản Hán Nôm của học giả người Pháp Maurice Durand (chép tay trong khoảng thời gian từ năm 1946 đến năm 1956 dựa trên bản gốc AB.350 tại Hà Nội).


Kết luận

Luận án Nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt trong văn bản Nhị độ mai tinh tuyển của tác giả Võ Thị Ngọc Thúy là công trình khảo cứu chuyên sâu, kết hợp phương pháp văn bản học Hán Nôm, văn tự học chữ Nôm và ngôn ngữ học lịch sử. Luận án đã xác lập tính khả tín, niên đại (1887) và cung cấp bản phiên âm - chú giải hoàn chỉnh cho 2.746 câu thơ của bản diễn Nôm độc bản AB.350. Đồng thời, thông qua việc thống kê định lượng cấu trúc chữ Nôm và phân tích quy luật ghi âm, công trình đã làm sáng tỏ diện mạo chữ Nôm giai đoạn hậu kỳ cùng những đặc trưng ngữ âm, từ vựng của tiếng Việt thời kỳ cận hiện đại.