mở đầu mỗi hồi là hai câu mào đầu được viết bằng 2 vế đối nhau, mỗi vế 7 chữ, riêng hồi thứ 5 mỗi vế gồm 8 chữ, khái quát nội dung chính của hồi đó. PGS nhận định “đây là một hiện tượng đáng chú ý trong văn học Nôm trung đại Việt Nam,…, có những điểm gần gũi với với loại tiểu thuyết chương hồi trong văn học trung đại ở giai đoạn cuối cùng”. Tác giả coi đây là “một sự cách tân trong thể loại truyện Nôm thế sự”, “một sự thể nghiệm của tiểu thuyết chương hồi thế sự được viết bằng chữ Nôm và được thể hiện rất độc đáo dưới hình thức thơ dân tộc là lục bát”. Theo PGS, 1 “Nhị độ mai” trong công trình của Lê Trí Viễn là truyện Nôm NĐMDC.
2 “Nhị độ mai truyện” trong công trình của Trang Thu Quân là NĐMDC. 12 NĐMTT có thể coi là một tư liệu quí để tìm hiểu sự phát triển của nền văn học Nôm về mặt thể loại [83]. Ngoài phần đánh giá về giá trị văn chương, NĐMTT còn được so sánh với các tác phẩm khác về câu chữ. Trang Thu Quân [142] và Võ Thị Ngọc Thúy [115] đã chỉ ra những tương đồng ở một số câu, đoạn giữa NĐMTT với Truyện Kiều và Truyện Lục Vân Tiên.
Võ Thị Ngọc Thúy đã thống kê được những câu thơ tương tự nhau giữa NĐMTT với NĐMDC, trong đó có gần 60 câu giống nhau hoàn toàn. d, Từ góc độ văn tự, chữ Nôm trong văn bản NĐMTT đã được đề cập đến trong hai công trình sau: Một là cuốn Bảng tra chữ Nôm của Viện Ngôn ngữ học (1976), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Trong cuốn này, văn bản NĐMTT kí hiệu AB.350 được chọn là một trong các văn bản được dùng để trích xuất các cách viết cho âm Nôm. Theo khảo sát sơ bộ, Bảng tra chữ Nôm không sử dụng hết các tự dạng chữ Nôm trong AB.
Ngoài những chữ Nôm có tự dạng thống nhất giữa nhiều văn bản, một số chữ Nôm có cấu trúc đặc biệt trong NĐMTT ít gặp ở các văn bản khác lại chưa thấy được liệt kê trong bảng tra này, như trốn, / tuổi, giàu, tía, lắm, đẹp, vỏ, vỡ,. Thứ hai, trong đề tài cấp trường của tác giả luận án năm 2016 [115] đã đề cập đến một số vấn đề về chữ Nôm viết kiêng húy và so sánh dị văn giữa văn bản NĐMTT AB.350 với các bản sao đầu thế kỉ XX của văn bản này. Đề tài này đã thống kê được 6 chữ Nôm viết húy đời Nguyễn trong NĐMTT là Lan, 辰 thì, nhậm, /葩 hoa, 寔 thật, chủng, trong đó chữ thì, thật, hoa, chủng kiêng húy triệt để; các chữ lan, nhậm húy không triệt để. Ở phần so sánh dị văn, đề tài cũng chỉ ra được rất nhiều dị bản, dị văn giữa AB.350 và các bản sao nhưng chưa đưa ra con số cụ thể là bao nhiêu.
Qua so sánh, đề tài đã phác thảo sơ bộ quá trình truyền bản của văn bản AB.350, chưa vẽ sơ đồ truyền bản hoặc phả hệ. Ngoài ra, đề tài còn chỉ ra một số chữ Nôm trong văn bản NĐMTT bị chép sai do nhầm lẫn mà không có dấu hiệu sửa chữa, chẳng hạn, chữ lạt (nhầm thành chữ trải), lặng (nhầm bộ nhĩ bên trái thành bộ mục), người (nhầm thành chữ ngày); so sánh một số chữ Nôm ghi cùng một âm đọc (ngữ tố) trong các bản diễn Nôm truyện Nhị độ mai ở Việt Nam là NĐMDC, Cải dịch Nhị độ mai, NĐMTT và Nhị độ mai trò. Như vậy, cho đến nay, có thể khẳng định chưa có một công trình nào nghiên cứu chính thức và toàn diện về chữ Nôm và tiếng Việt trong văn bản NĐMTT kí hiệu AB. Kết quả đạt được và những hạn chế trong các nghiên cứu trước Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến luận án, tác giả đúc kết một số vấn đề mà các nghiên cứu trước đây đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại cần tiếp tục giải quyết như sau: * Các kết quả đạt được Nhìn chung, bức tranh tổng quát về quá trình lưu truyền và cải biên truyện Nhị độ mai từ Trung Quốc sang Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu phác thảo khá đầy đủ.
Trong số các tác phẩm diễn Nôm từ Nhị độ mai của Trung Quốc, truyện Nôm NĐMDC được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất trên nhiều khía cạnh. Riêng truyện Nôm NĐMTT mới được tiếp cận từ góc độ văn bản học và văn học, chưa đi sâu vào văn tự học. Về mặt văn bản, NĐMTT đã được mô tả cụ thể về các đặc điểm văn bản học (mô tả văn bản, niên đại, tác giả, chữ húy, so sánh các bản sao,. Về mặt văn học, các công trình đều so sánh NĐMTT với bản diễn Nôm NĐMDC, so sánh NĐMDC với tiểu thuyết chữ Hán Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai về tình tiết và miêu tả tâm lí nhân vật.
Qua so sánh, phần lớn các nhà nghiên cứu cho rằng NĐMDC vượt trội hơn NĐMTT. Cũng có học giả đánh giá cao NĐMTT hơn. Luận văn “Nghiên cứu Nhị độ mai của Việt Nam” của Trang Thu Quân (Đài Loan) là công trình đầu tiên liên quan trực tiếp đến đề tài của chúng tôi về cả hai góc độ văn bản học và văn tự học. Ngoài việc giới thiệu các thông tin cơ bản về niên đại tác phẩm, niên đại văn bản và tác giả của NĐMTT, công trình còn cung cấp nhiều thông tin văn bản học về tiểu thuyết chương hồi Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai toàn truyện như: niên đại tác phẩm (khoảng từ 1748 đến 1752), niên đại văn bản (bản sớm nhất khắc in năm 1800); quá trình hình thành và lưu truyền tác phẩm; sự không đồng nhất trong tên tác giả (Tích Âm Đường Chủ nhân, Hòe Âm Đường Chủ nhân, Thiên Hoa Chủ Nhân) và biện luận vì sao tên tác giả của tiểu thuyết này lại mang tính “ước lệ”, “ẩn danh”.
Đây là những thông tin quý báu cho chúng tôi trong quá trình so sánh truyện Nôm NĐMTT với nguyên tác tiểu thuyết của Trung Quốc. Có thể nói, đây là một luận văn công phu với số lượng tư liệu khảo sát nhiều, khối lượng công việc đồ sộ, hầu như đã bao quát khá đầy đủ tất cả các tác phẩm sử dụng cốt truyện Nhị độ mai ở các quốc gia. Trang Thu Quân đã lập được nhiều bảng so sánh khoa học, tỉ mỉ đến từng chi tiết, một số kết luận và lí giải khá hợp lí. Do đó, có thể khẳng định, luận văn của Trang Thu Quân là công trình giúp ích cho chúng tôi rất nhiều trong quá trình làm luận án cả về phương pháp và định hướng nghiên cứu cũng như nguồn tài liệu.
14 * Những hạn chế cần tiếp tục nghiên cứu Trên cơ sở những thành quả đạt được của các công trình đi trước, luận án sẽ tiếp tục giải quyết những vấn đề còn bỏ ngỏ trong nghiên cứu văn bản Nôm NĐMTT. Mục đích chính của chúng tôi là nghiên cứu một cách toàn diện về cấu trúc chữ Nôm trong văn bản này và tất cả những khả năng của chữ Nôm trong việc thể hiện các đặc điểm của tiếng Việt trung – cận đại về mặt ngữ âm và từ vựng. Chính vì vậy, chúng tôi sẽ phối hợp các hướng tiếp cận từ các góc độ văn bản học, văn tự học và ngôn ngữ học. Trước hết, từ góc độ dịch thuật, chưa có công trình nào phiên âm, chú thích toàn bộ văn bản truyện Nôm NĐMTT.
Do đó, văn bản này cần phiên dịch, chú thích để giới thiệu với độc giả, đồng thời bản phiên âm có thể làm cơ sở cho việc tìm hiểu cấu trúc chữ Nôm trong văn bản, đối chiếu với các truyện Nôm cùng cốt truyện. Thứ hai, về mặt văn bản học, cần khẳng định tính khả tín của văn bản và niên đại của tác phẩm NĐMTT trong bối cảnh phức tạp của các bản diễn Nôm cùng cốt truyện Nhị độ mai vào nửa cuối thế kỉ XIX ở Việt Nam. Trên cơ sở xác định niên đại tác phẩm, niên đại văn bản và quá trình truyền bản của các truyện Nôm Nhị độ mai, phối hợp với những so sánh về mặt văn học (nhân vật, tình tiết) truyện Nôm NĐMTT với nguyên tác tiểu thuyết chữ Hán, với các bản diễn Nôm khác, có thể xác định rõ xuất xứ của NĐMTT bắt nguồn trực tiếp từ nguyên tác tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc hay gián tiếp qua bản diễn Nôm đầu tiên ở Việt Nam là NĐMDC. Ngoài ra, cần đối chiếu bản AB.350 với các bản sao đầu thế kỉ XX ở nước ngoài của nó để thấy được quá trình chuyển dịch của chữ Nôm từ cuối thế kỉ XIX đến đầu XX cũng như sự chuyển di văn bản từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ giữa các văn bản đó.
Thứ ba, phương diện trọng yếu nhất và còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu nhất là các khía cạnh văn tự học của chữ Nôm trong văn bản NĐMTT. Trên cơ sở vận dụng các lí thuyết về văn tự học chữ Nôm của Nguyễn Quang Hồng trong “Khái luận văn tự học chữ Nôm” và kế thừa thành quả của các công trình đi trước khi nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm, luận án cần thống kê, phân loại, mô tả và giải thích được tất cả các dạng thức cấu trúc chữ Nôm tồn tại trong văn bản NĐMTT, bao gồm cả cấu trúc hình thể và cấu trúc chức năng, các hiện tượng chuyển dụng chữ Nôm, dị thể chữ Nôm,… Đồng thời, thông qua so sánh với chữ Nôm trong các bản diễn Nôm Nhị độ mai khác để rút ra những điểm riêng của chữ Nôm trong văn bản NĐMTT cũng như thấy được sự phát triển của chữ Nôm từ đầu thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX. Từ đó, khẳng định những đặc điểm về cấu trúc của chữ Nôm hậu kì thể 15 hiện trong văn bản NĐMTT. Thứ tư, một khía cạnh nữa cũng cần được quan tâm giải quyết khi nghiên cứu chữ Nôm trong văn bản NĐMTT là phương diện ngôn ngữ.
Luận án phải chỉ ra được những đặc điểm về ngữ âm và từ vựng của tiếng Việt giai đoạn trung đại, cận đại (nửa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX) thể hiện qua cách ghi chữ Nôm trong văn bản, gồm có: cách ghi âm một số âm đầu có liên quan đến sự phát triển của ngữ âm tiếng Việt (tr, s, r), cách ghi âm các từ láy, từ Hán Việt và Phi Hán Việt, mức độ Việt hóa điển tích, thành ngữ gốc Hán, từ cổ văn chương, hư từ cổ, từ ngữ mới,… 1.