mở đầu và định hình từ phong trào thơ mới. Thi pháp thơ mới phải là một mĩ học mới và nhãn quan mới về thơ và ngôn ngữ của thơ, đồng thời cũng là những tiêu chuẩn giá trị mới về thơ. Từ thời Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân, thơ mới đã được hiểu như một cuộc cách mạng trong thi ca, nhưng ý niệm cách mạng về thi pháp thì vẫn chưa thật rõ rệt. Người mình thích đối lập mới/ cũ, nhìn thơ mới qua xung đột “mới/ cũ” mà ít quan tâm thực chất của mới/cũ ấy.
Mọi người đều biết phong trào thơ mới là sản phẩm của cuộc xung đột hiện đại và truyền thống, phương Đông và phương Tây, cá nhân và đoàn thể. Phong trào kiểu này đã xảy ra ở Trung Quốc, Việt Nam và các nước Đông Á khác, những nơi có tiếp xúc Đông Tây đầu thế kỉ trước. Ở Việt Nam, nó nảy sinh khi nền Tây học đã đi vào ổn định, đô thị mở ra, tầng lớp trí thức mới ra đời. Họ vừa là lớp người hiểu văn hoá Việt vừa có tri thức mới về văn hoá phương Tây, vừa có khả năng cảm nhận thế giới và đời sống một cách mới mẻ, vừa cảm thấy sự chật chội gò bó của hình thức thơ truyền thống.
Người viết tiểu thuyết hẳn cũng có nhu cầu biểu đạt cái mới, nhưng họ không bị hình thức cũ trói buộc, bởi văn xuôi cũ viết bằng chữ Hán, văn xuôi tiếng Việt mới hình thành, họ sáng tạo thể loại mới mà hầu như không có đối thủ. Nhưng thi ca lại khác. Làm sao có thể sáng tác 18 h thi ca mà không đụng đến các hình thức, luật lệ thi ca, văn thể đã định hình và có khuôn mẫu. Cuộc cách mạng thi ca nhằm mục đích làm cho người ta quên hình thức cũ, phá bỏ quan niệm, thói quen sùng bái mẫu mực cũ đã ngự trị trong ý thức người sáng tác và người thưởng thức hàng nghìn năm.
Thế nhưng cuộc đụng độ xảy ra được hiểu với danh nghĩa thơ mới với thơ cũ, giá trị thơ mới với giá trị thơ cũ. Người ta công kích cái dở của thơ cũ cũng như cái dở của thơ mới, mà không đi tìm lí luận của chúng, do đó cuộc cãi vã không có mấy giá trị. Quả là thuật ngữ thơ mới thơ cũ lúc ấy có phần chưa chính xác, và Hoài Thanh cho đó là cách “nói liều”. Thực chất của phong trào là đem thơ mới, với tư cách là một thi pháp mới chống lại thi pháp cũ, tức thơ luật, chứ không phải đem thơ này chống lại thơ kia một cách vô lí.
Đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Sau hàng loạt công trình phê bình, giới thiệu của Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, sau các chuyên luận và bài nghiên cứu của Lê Đình Kị, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức… dành cho sáng tác thơ của Tố Hữu, không ít người có cảm giác, thật khó có thể nói thêm điều gì mới mẻ về lá cờ đầu của nền thi ca hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cảm giác ấy hoàn toàn có cơ sở. Trần Đình Sử đã chứng minh đầy thuyết phục: thơ Tố Hữu là đỉnh cao của thơ trữ tình chính trị Việt Nam.
Chúng ta đều biết, thơ trữ tình chính trị có đặc điểm chung là tính đơn nghĩa. Một khi cái nghĩa ấy đã được người đi trước khám phá, phát hiện, thì người đi sau khó có thể nói được gì hơn. Chắc chắn Trần Đình Sử đã lường trước được khó khăn ấy khi chọn thơ Tố Hữu làm đối tượng nghiên cứu. Cho nên, để có thể đưa ra những kết luận mới mẻ, ông đã phải mở ra một hướng đi mới.
Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử là một công trình có ý nghĩa đối với nghiên cứu thi pháp thơ ở Việt Nam. Trần Đình Sử phân tích, đánh giá kĩ lưỡng ở nhiều cấp độ khác nhau trên cả hai mặt nội dung và hình thức. Nhưng 19 h nghiên cứu tác phẩm của nhà thơ từ góc độ tiếp cận của thi pháp học thì cho đến nay vẫn còn là mảnh đất trống. Từ góc độ mới mẻ này, Trần Đình Sử đã đặt ra và giải quyết hàng loạt vấn đề mà trước nay nghiên cứu văn học ít quan tâm.
Đó là những vấn đề như quan niệm nghệ thuật về con người, không gian và thời gian nghệ thuật, chất thơ và phương thức thể hiện. Thể tài trong sáng tác của nhà thơ cũng được nhìn nhận theo một tinh thần mới. Việc khẳng định giá trị thẩm mĩ của thơ Tố Hữu như đỉnh cao của thơ trữ tình chính trị Việt Nam là kết luận có ý nghĩa mạnh bạo đối với tư duy lí luận. Rõ ràng, từ góc độ thi pháp học, Trần Đình Sử đã mở rộng phạm vi nhận thức của nghiên cứu văn học trước sáng tác nghệ thuật, qua đó ông mang đến cho khoa học văn học một tiếng nói mới mẻ.
Công trình này đã đánh dấu một bước thay đổi lớn trong việc nghiên cứu thơ ca cách mạng nói chung và thơ Tố Hữu nói riêng. Trước đó, thơ ca cách mạng chủ yếu được nghiên cứu ở những phương diện như nội dung, tính chiến đấu, giá trị tư tưởng và các hình tượng. Tuy nhiên, giá trị nghệ thuật của một lối tư duy thơ, giọng điệu thơ. của thể loại thơ tình chính trị thì chưa được nhắc đến.
Có thể nói, đây là một trong những công trình nghiên cứu đã thoát khỏi lối mòn của cách tiếp cận xã hội học theo chủ nghĩa đề tài, phân tích thơ theo lập trường xã hội, thế giới quan. Trần Đình Sử đã đưa ra những khái niệm của thi pháp hiện đại trong chuyên luận này như: quan niệm về cơn người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, các hình thức biểu hiện để xem xét thế giới nghệ thuật của nhà thơ. Ông cho rằng: “Câu chữ của tác phẩm văn học là kí hiệu thể hiện cho thế giới nghệ thuật được sáng tạo bằng tinh thần ấy, và thế giới ấy cũng chỉ được bộc lộ trọn vẹn hình thức nghệ thuật của nó trong thưởng thức, cảm thụ của người đọc, tức là trong tồn tại tinh thần đích thực của nó. Như vậy, hình thức nghệ thuật không phải là cấu tạo vật chất bên ngoài mà còn là hình thức tinh thần của hình tượng nghệ thuật, như là cái nhìn nghệ thuật, giọng điệu, không khí tác phẩm, không gian, thời gian, nhịp điệu.
Trước Trần Đình Sử, đã có 20 h nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu của Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức… và dường như người ta cho rằng sẽ khó thể viết về Tố Hữu với những điều mới mẻ nữa. Tuy nhiên, cách tiếp cận từ góc nhìn thi pháp học của Trần Đình Sử đã đem đến một hướng tiếp cận mới về thơ Tố Hữu. Ông đã có những phát hiện thú vị về thơ Tố Hữu: “Tố Hữu đã phát triển toàn diện loại thơ trữ tình điệu nói, kết hợp tài tình điệu nói với các thể thơ cổ truyền của dân tộc, như lục bát, song thất lục bát, bảy chữ; biến chúng thành công cụ nhuần nhuỵ để diễn đạt tư tưởng cách mạng hiện đại. Ông vận dụng thủ pháp vừa hiện đại, vừa cổ kính, nhất là tương phản, ví von, hô ứng, trùng điệp, tạo thành tiếng thơ hồn nhiên, say sưa, bay bổng, nhiệt huyết và âm vang bậc nhất trong thơ trữ tình cách mạng Việt Nam, không lẫn với bất cứ nhà thơ cách mạng nào khác” [126, tr.
Thành công của Trần Đình Sử là ông đã biết xuất phát từ một quan niệm mới về bản chất và đặc trưng của văn học, của sáng tạo nghệ thuật để xác định chính xác đối tượng, chức năng của thi pháp học. Trong Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử, tác giả đã tìm hiểu những vấn đề đặc trưng của thi pháp học (một hướng thi pháp học hiện đại do ngành nghiên cứu văn học Nga gợi ý): kiểu tác giả, thể tài, quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, phương thức thể hiện. Có thể gọi đó là thi pháp học nội dung, do nó lấy loại hình nội dung làm nền tảng để lí giải quy luật vận động của mọi hiện tượng nghệ thuật trong tiến trình văn học. Trước Trần Đình Sử, hầu như không còn tập thơ, bài thơ có giá trị nào của Tố Hữu mà chưa được bàn đến, không có hình tượng thơ, hay câu thơ hay nào của ông mà không được phát hiện.
Song do ảnh hưởng của những nguyên tắc phương pháp luận thuộc lối phê bình kiểu cổ và lối nghiên cứu văn học truyền thống, nhiều công trình, bài viết thường dừng lại ở việc mô tả các loại hình tượng, phân tích các loại đề tài, chủ đề, hoặc tập trung phát hiện ý sâu, 21 h lời đắt. Cái hay và bản sắc độc đáo của thơ Tố Hữu được cắt nghĩa như cái hay muôn thủa của văn chương. Thế giới nghệ thuật của ông bị đập vụn, tháo rời ra từng mảng. Những phát hiện của các nhà nghiên cứu thành ra như lơ lửng, không ăn nhập vào một hệ thống nào cả.
Nhiều người tập trung phân tích sự phát triển của hồn thơ Tố Hữu qua các tập thơ của ông, nhưng khi phải xác định bản chất của sự phát triển ấy là ở đâu, người ta thường đưa ra những câu trả lời thuộc loại ít xác định nhất, tỉ như Việt Bắc “chín” hơn Từ ấy, Gió lộng “chín” hơn Việt Bắc… Trong chuyên luận của Trần Đình Sử, mọi đơn vị nghệ thuật, từ đơn vị vĩ mô như tác phẩm, thể tài, đến đơn vị vi mô như nhịp điệu, câu, chữ đều được qui về một kiểu tư duy nghệ thuật, một kiểu quan hệ giữa chủ thế và khách thể phản ánh, giữa nhà thơ và các phương thức, phương tiện biểu hiện. Còn logic phát triển của hình thức thơ trong sáng tác của Tố Hữu được lí giải thông qua sự vận động của các loại hình nội dung, – từ các thể tài đời tư, thế sự đến thể tài dân tộc – lịch sử, – và sự vận động của quan niệm nghệ thuật về con người, về xã hội và về thế giới của bản thân tác giả. Nhờ thế, qua chuyên luận này, người đọc tiếp nhận được một cái nhìn bao quát về toàn bộ sáng tác của Tố Hữu như một chỉnh thể nghệ thuật không ngừng vận động trong sự thống nhất toàn vẹn của nó. Thơ Tố Hữu mang nhiều dấu ấn thi pháp văn học dân gian trong sáng tác, nhưng ảnh hưởng lớn hơn cả đến thơ ông là thi pháp ca dao.