phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án đƣợc chia thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1 – Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận. Trong chƣơng này, luận án tổng hợp và phân tích các nghiên cứu có liên quan đến ẩn dụ ý niệm và ẩn dụ ý niệm về tình yêu. Bên cạnh đó, một số vấn đề lý luận chung về ẩn dụ ý niệm, ngữ nghĩa học tri nhận, NNH đối chiếu, và văn hóa cũng đƣợc trình bày trong chƣơng này. Chƣơng 2 – Ẩn dụ cấu trúc về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt.
Chƣơng 2 của luận án xác định lƣợc đồ hình ảnh cơ bản và phái sinh, các miền nguồn đƣợc sử dụng để hình thành nên ẩn dụ cấu trúc và ánh xạ của mỗi ẩn dụ. Dựa trên các đặc điểm miền nguồn, các ẩn dụ bậc cao và bậc thấp đƣợc xác định và phân tầng, sau đó đƣợc so sánh dựa trên các đặc điểm văn hóa dân tộc. Chƣơng 3 – Ẩn dụ bản thể về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt. Chƣơng này tìm hiểu hệ thống các lƣợc đồ hình ảnh cơ bản và phái sinh của ẩn dụ bản thể, các ẩn dụ bản thể xuất hiện trong các truyện ngắn của hai ngôn ngữ, tìm hiểu mô hình chiếu xạ và tần suất xuất hiện của các ẩn dụ bản thể, so sánh các điểm giống và khác nhau trong tƣ duy ẩn dụ giữa hai ngôn ngữ dựa trên cơ sở văn hóa dân tộc.
Chƣơng 4 - Ẩn dụ định hƣớng về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt. Luận án dành chƣơng cuối cùng tập trung khai thác các ẩn dụ định hƣớng trong truyện ngắn TV và TA cùng các lƣợc đồ hình ảnh trong mỗi tiểu loại của chúng. Mỗi tiểu loại ẩn dụ đều đƣợc so sánh đối chiếu để rút ra các điểm tƣơng đồng và dị biệt; sau đó tƣờng giải chúng dựa trên các đặc trƣng văn hóa dân tộc. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới NNH tri nhận đã bắt đầu nghiên cứu từ những năm 50 nhƣ một hƣớng nghiên cứu mới. Tuy nhiên, phải đến những năm 80 của thế kỷ XX, trong tác phẩm kinh điển Metaphor We Live by (1980), Lakoff và Johnson đƣa ra tuyên bố mang tính đột phá khi cho rằng―AD không đơn thuần là vấn đề về ngôn ngữ mà còn là vấn đề của tƣ duy và hành động‖.
Trong những thập kỷ gần đây, nghiên cứu về ẩn dụ đã mang lại những thay đổi lớn. Lĩnh vực nghiên cứu không chỉ giới hạn trong ngôn ngữ mà đã chuyển sang AD não bộ, hƣớng nghiên cứu về tƣ duy và nhận thức thế giới quan của con ngƣời đƣợc mở ra, vƣơn tới các lĩnh vực triết học và tâm lý học, và khoa học thần kinh. Theo Lakoff và Kövecses, các phép ẩn dụ về cảm xúc nhƣ sự tức giận và sợ hãi của con ngƣời xuất hiện trong ngôn ngữ và bắt nguồn từ nền tảng văn hóa và sinh lý của con ngƣời (Lakoff, 1987; Kövecses, 1986, 1990). Đến đầu những năm 90, Evans và Green (2006) trong tác phẩm Cognitive Linguistics An Introduction đã phát hiện ra rằng ẩn dụ ý niệm không chỉ nằm ở lĩnh vực thời gian, mà còn có ở trong các lĩnh vực nhƣ sự kiện, nhân quả và đạo đức.
Lakoff và Johnson (1987), Quinn (1991), Csordas (1994), Talmy (2000) và Langacker (2004) đã đóng góp một phần quan trọng trong nghiên cứu về luận điểm nghiệm thân. Do đó, tổ chức của tâm trí con ngƣời và các khái niệm là một chức năng của cách cơ thể chúng ta tƣơng tác với môi trƣờng mà chúng ta đang sống. Tƣơng tác cá nhân với thế giới vật chất và xã hội, bao gồm nhận thức môi trƣờng, chuyển động cơ thể, tạo lực và nhận thức lực … (tr. Các phạm trù, ý niệm, lập luận và quy trình của tâm trí con ngƣời đƣợc hình thành dựa trên những trải nghiệm tƣơng tác nhƣ vậy.
Nhƣ Quinn (1991) chỉ ra, nhiều trải nghiệm cơ thể của chúng ta bắt nguồn từ bối cảnh văn hóa xã hội, và những trải nghiệm cơ bản nhƣ lƣợc đồ trực quan không chỉ do cơ thể mang lại mà còn do sự tƣơng tác với thế giới khách quan của con ngƣời vốn đã chịu sự chế ƣớc của văn hóa. Nhà nhân học Csordas (1994) cũng chứng minh rằng, trong nhiều nền văn hóa, tập tục văn hóa bản địa tạo ra những kinh nghiệm trải nghiệm cơ bản, con ngƣời đã tích lũy vào đó những giá trị văn hóa và quá trình trải nghiệm 7 bản thân (tr. Các nghiên cứu đã đƣa ra nhiều chứng cứ hỗ trợ cho nhận định trải nghiệm thân thể của con ngƣời trong thế giới tạo sinh ẩn dụ. Luận án sẽ phân tích ẩn dụ ý niệm về tình yêu đƣợc thể hiện thông qua các tác phẩm văn học lãng mạn nổi tiếng trong và ngoài nƣớc nhằm cung cấp chứng cứ hơn nữa hỗ trợ cho nhận định trên.
Trong chƣơng 2, chƣơng 3 và chƣơng 4 của luận án sẽ dành cho việc xác định quá trình kiến tạo và lí giải các ý niệm về tình yêu phải nhờ vào khả năng ẩn dụ; hơn thế nữa, tính nghiệm thân sẽ thể hiện rõ nét trong cả quá trình ánh xạ ẩn dụ để hình thành nghĩa của ẩn dụ ý niệm về tình yêu. Năm 1997, Grady và Johnson liên kết các ẩn dụ ý niệm với các lý thuyết khoa học thần kinh. Kết quả cho thấy nhận thức của mọi ngƣời, trải nghiệm thuần túy hàng ngày và trải nghiệm cảm xúc là cơ sở để đánh giá chủ quan về nhận thức ngôn ngữ. Cùng theo hƣớng đó, tác giả Narayanan (1997) đã nghiên cứu về ngữ nghĩa của động từ bằng cách vận dụng mô hình điện toán.
Một đặc điểm mới lạ của mô hình này là sử dụng các cụm động từ chuyển động động nhƣ walk, push, slide, slip … những động từ có thể đƣợc sử dụng để kiểm soát và điều khiển cũng nhƣ quy chiếu mô phỏng thời gian thực trong quá trình nhận thức ngôn ngữ của con ngƣời. Nghiên cứu đã góp phần lý giải ẩn dụ nghiệm thân thông qua bản đồ thần kinh, kết nối hệ thống cảm giác với các khu vực cao hơn nằm ở vỏ não thông qua các kỹ thuật điện toán của mô hình thần kinh. Năm 2002, lý thuyết không gian pha trộn của Fauconnier và Turner kết hợp với lý thuyết ngôn ngữ thần kinh đã xem xét các loại không gian tinh thần tƣởng tƣợng. Trong đó, các ánh xạ ẩn dụ đƣợc xây dựng trên cùng những nền tảng vật chất nhƣ bản đồ thần kinh và cấu thành cơ chế thần kinh tự nhiên trong các suy luận ẩn dụ.
Năm 2006, Evans và Green đã xem xét vai trò của AD nhƣ một công cụ để con ngƣời suy nghĩ và nhận thức về thế giới. Trong lĩnh vực văn thơ, có tồn tại một mối quan hệ vô cùng mật thiết giữa các bài thơ và ẩn dụ. Aristotle (1954) đã nghiên cứu một số luật phổ quát của ẩn dụ trong công trình tiên phong của mình Rhetoric and Poetic. Ẩn dụ đã đƣợc quan tâm nhiều hơn từ lý thuyết văn học, triết học và tâm lý học nhận thức.
Đối với các nhà ngôn ngữ học tri nhận, phép ẩn dụ không chỉ là một công cụ trang trí bề mặt của ngôn ngữ mà còn là một hiện tƣợng thể hiện quá trình tƣ duy của con ngƣời. Ngôn ngữ học tri nhận đã chuyển trọng tâm của sự chú ý từ phép ẩn dụ sang ngôn ngữ để ẩn dụ trong tâm trí hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm. More (1989), Lakoff và Turner (1987) đã chứng minh ẩn dụ ý 8 niệm thƣờng nằm ở trung tâm của các loại văn học, đặc biệt là tục ngữ. More (1989) đã chỉ ra, việc sáng tạo ẩn dụ của nhà thơ không nhất thiết nằm ở việc tạo ra tƣ tƣởng mới của ẩn dụ, mà nằm trong cơ chế ánh xạ ẩn dụ.
Các cơ sở ẩn dụ về chiều kích, đạo đức trong văn học trở nên rõ ràng từ các cuộc thảo luận về ẩn dụ và đạo đức của Johnson (1993), của Lakoff (1996) về chính trị và đạo đức, Lakoff và Johnson (1999) về triết học, Lakoff và Nuner (2000) về toán học. Có thể nói, ẩn dụ ý niệm theo góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận là một phần của cách thức tƣ duy thƣờng nhật của con ngƣời, bắt nguồn sâu xa từ vốn kinh nghiệm của chúng ta. Sẽ là thiếu sót nếu không điểm đến ứng dụng của lý thuyết ẩn dụ ý niệm trong các lĩnh vực tâm lí học. Vào giữa những năm 50 của thế kỷ XX, sự ra đời của ngành tâm lí-ngôn ngữ học đã đánh dấu một bƣớc phát triển mới trong việc nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận ứng dụng trong tâm lí học, làm sáng tỏ những hiện thực tâm lí của những giả thuyết ngôn ngữ học, đặt cơ sở tâm lí học cho những giả thuyết đó.
Các nhà ngôn ngữ học và tâm lí học đều thống nhất giữa hai lĩnh vực này có sự bổ sung cho rằng, vì sự hành chức của ngôn ngữ phải dựa vào cơ chế tâm lí học. Các nghiên cứu của Gibbs (1994), ẩn dụ cảm xúc của Lakoff (1987) hay ẩn dụ nghiệm thân của Kövecses (1990), nghiên cứu về tâm trí, bộ nhớ, và sự chú ý của Johnson (1999) đã mở ra một hƣớng đi mới cho việc nghiên cứu về nhận thức tâm lí, là bằng chứng sống cho sự đổi mới tƣ tƣởng so với quan điểm cũ khi nghiên cứu về nhận thức tâm lí cho rằng khái niệm nằm ở các con chữ và nghĩa. Nhƣ vậy trải qua một chặng đƣờng phát triển, ẩn dụ ý niệm đã và đang khẳng định đƣợc vị trí quan trọng của mình trong các lĩnh vực thơ ca, chính trị, tâm lí học, vật lí, toán học, triết học,… Thông qua các nghiên cứu chuyên sâu này, cấu trúc ẩn dụ đã góp phần làm sáng tỏ cách thức con ngƣời tri nhận trong các lĩnh vực tri thức cụ thể, đồng thời cũng góp phần khẳng định đƣợc hƣớng nghiên cứu liên ngành, đa ngành của khoa học xã hội tại Việt Nam cũng nhƣ trên toàn thế giới. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Là một khuynh hƣớng nghiên cứu mới mẻ về ngôn ngữ, ngôn ngữ học tri nhận đến với Việt Nam nhờ công sức dịch thuật và nghiên cứu của các nhà khoa học tiên phong là Nguyễn Lai, Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ, Lê Quang Thiêm, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Đức Tồn,… Nghiên cứu theo hƣớng tri nhận đƣợc coi gần nhƣ là sớm nhất không thể không kể đến tác giả Nguyễn Lai (1990) trong công trình Nhóm từ chỉ 9 vận động trong tiếng Việt.