Luận Án Tiến Sĩ: Định Ngữ Nghệ Thuật Trong Tiếng Việt Qua Các Tác Phẩm Văn Xuôi Việt Nam

Luận án tiến sĩ ngữ văn phân tích định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt qua các tác phẩm văn xuôi Việt Nam, làm rõ đặc điểm và vai trò trong ngôn ngữ văn học.

Trường đại học

Đại học Vinh

Chuyên ngành

Ngôn ngữ Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

187
24
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu định ngữ và định ngữ nghệ thuật

1.2. Tình hình nghiên cứu định ngữ ở ngoài nước

1.3. Tình hình nghiên cứu định ngữ ở Việt Nam

1.4. Tình hình nghiên cứu định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt

1.5. Cơ sở lí thuyết của đề tài

1.6. Câu và cụm từ tiếng Việt

1.7. Một số khái niệm lí thuyết về Phong cách học và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

1.8. Định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt

1.9. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CÁCH THỨC TỔ CHỨC CỦA ĐỊNH NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TIẾNG VIỆT (QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI VIỆT NAM)

2.1. Cách thức tổ chức ngữ pháp của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt

2.2. Vị trí của định ngữ nghệ thuật trong cụm danh từ

2.3. Số lượng các định ngữ nghệ thuật trong cụm danh từ

2.4. Cấu tạo của định ngữ nghệ thuật trong cụm danh từ

2.5. Các dạng biểu hiện của định ngữ nghệ thuật trong cụm danh từ

2.6. Cấu tạo của cụm danh từ chứa định ngữ nghệ thuật

2.7. Cách thức tổ chức ngữ nghĩa của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt

2.8. Chức năng ngữ nghĩa của định ngữ nghệ thuật

2.9. Cách thức tổ chức ngữ nghĩa của định ngữ nghệ thuật

2.10. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA ĐỊNH NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TIẾNG VIỆT (QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI VIỆT NAM)

3.1. Vai trò của định ngữ nghệ thuật trong cụm danh từ

3.2. Vai trò của định ngữ nghệ thuật đối với trung tâm cụm danh từ (DTTT)

3.3. Vai trò của định ngữ nghệ thuật đối với các thành tố phụ trong cụm danh từ

3.4. Vai trò của định ngữ nghệ thuật đối với câu văn nghệ thuật

3.5. Vai trò của định ngữ nghệ thuật đối với cấu tạo câu văn nghệ thuật

3.6. Vai trò của định ngữ nghệ thuật đối với nội dung ngữ nghĩa của câu văn nghệ thuật

3.7. Vai trò của định ngữ nghệ thuật đối với nhạc điệu của câu văn nghệ thuật

3.8. Vai trò của định ngữ nghệ thuật với tác phẩm nghệ thuật

3.9. Định ngữ nghệ thuật góp phần thể hiện đặc điểm phong cách chức năng văn bản

3.10. Định ngữ nghệ thuật góp phần thể hiện đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của nhà văn

3.11. Tiểu kết chương 3

NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

NGUỒN NGỮ LIỆU TRÍCH DẪN

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình hình nghiên cứu định ngữ và định ngữ nghệ thuật

Nghiên cứu về định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học. Từ góc độ ngữ pháp, định ngữ được xem là thành phần phụ trong câu, có vai trò bổ sung thông tin cho danh từ. Các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng định ngữ không chỉ đơn thuần là một thành phần ngữ pháp mà còn mang tính nghệ thuật, góp phần tạo nên vẻ đẹp cho câu văn. Tại Việt Nam, từ đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu như Trần Trọng Kim đã bắt đầu tiếp cận vấn đề này. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn nhiều khía cạnh của định ngữ nghệ thuật chưa được khai thác triệt để. Việc phân tích định ngữ nghệ thuật không chỉ giúp làm rõ cấu trúc ngữ pháp mà còn mở rộng hiểu biết về phong cách ngôn ngữ của các tác giả văn học. Theo đó, định ngữ nghệ thuật không chỉ là một yếu tố ngữ pháp mà còn là một phần không thể thiếu trong việc thể hiện phong cách và cá tính của nhà văn.

1.1. Tình hình nghiên cứu định ngữ ở ngoài nước

Nghiên cứu về định ngữ ở nước ngoài đã được thực hiện từ lâu, với nhiều quan điểm khác nhau. Các nhà ngôn ngữ học như Halliday đã chỉ ra rằng định ngữ có vai trò quan trọng trong việc xác định và phân loại danh từ. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu vẫn chưa đi sâu vào khía cạnh nghệ thuật của định ngữ. Các tác giả như Beatrice Warren đã nhấn mạnh rằng định ngữ không chỉ có chức năng miêu tả mà còn có thể định dạng, giúp người nghe nhận diện sự vật trong ngữ cảnh cụ thể. Điều này cho thấy rằng định ngữ nghệ thuật có thể được xem như một công cụ mạnh mẽ trong việc tạo ra hình ảnh và cảm xúc trong văn học.

1.2. Tình hình nghiên cứu định ngữ ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về định ngữ đã có những bước tiến đáng kể từ những năm 90 của thế kỷ XX. Các nhà nghiên cứu như Nguyễn Minh Thuyết đã chỉ ra rằng định ngữ có vai trò quan trọng trong việc xác định ý nghĩa của câu. Tuy nhiên, việc nghiên cứu định ngữ nghệ thuật vẫn còn hạn chế. Nhiều tác giả đã chỉ ra rằng định ngữ nghệ thuật không chỉ làm phong phú thêm nội dung câu mà còn thể hiện phong cách ngôn ngữ của tác giả. Việc phân tích định ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm văn xuôi Việt Nam sẽ giúp làm rõ hơn vai trò của nó trong việc tạo nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn của văn học.

II. Cách thức tổ chức của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt

Cách thức tổ chức của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt rất đa dạng và phong phú. Định ngữ nghệ thuật có thể xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau trong câu, thường đứng trước hoặc sau danh từ mà nó bổ nghĩa. Số lượng và cấu tạo của định ngữ nghệ thuật cũng rất đa dạng, từ các tính từ đơn giản đến các cụm từ phức tạp. Việc phân tích cấu trúc của định ngữ nghệ thuật không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngữ pháp mà còn mở ra những góc nhìn mới về cách thức mà các nhà văn sử dụng ngôn ngữ để tạo ra hiệu ứng nghệ thuật. Các dạng biểu hiện của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt thường mang tính hình tượng cao, giúp người đọc hình dung rõ hơn về đối tượng được miêu tả. Điều này cho thấy rằng định ngữ nghệ thuật không chỉ là một thành phần ngữ pháp mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của văn học.

2.1. Cách thức tổ chức ngữ pháp của định ngữ nghệ thuật

Trong tiếng Việt, định ngữ nghệ thuật thường được tổ chức theo một cấu trúc ngữ pháp nhất định. Vị trí của định ngữ nghệ thuật trong cụm danh từ có thể thay đổi mà không làm mất đi ý nghĩa của câu. Số lượng các định ngữ nghệ thuật trong một cụm danh từ cũng rất đa dạng, từ một đến nhiều định ngữ. Cấu tạo của định ngữ nghệ thuật có thể bao gồm các từ loại khác nhau như tính từ, danh từ, hoặc cụm từ. Các dạng biểu hiện của định ngữ nghệ thuật thường mang tính hình tượng và giàu sức gợi, giúp tạo nên những hình ảnh sống động trong tâm trí người đọc. Điều này cho thấy rằng định ngữ nghệ thuật không chỉ đơn thuần là một thành phần ngữ pháp mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc tạo nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn của văn học.

2.2. Cách thức tổ chức ngữ nghĩa của định ngữ nghệ thuật

Cách thức tổ chức ngữ nghĩa của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt rất phong phú và đa dạng. Định ngữ nghệ thuật không chỉ đơn thuần bổ sung thông tin cho danh từ mà còn tạo ra những giá trị nghệ thuật sâu sắc. Chức năng ngữ nghĩa của định ngữ nghệ thuật thường thể hiện qua việc tạo ra hình ảnh, cảm xúc và ý nghĩa cho câu văn. Việc phân tích cách thức tổ chức ngữ nghĩa của định ngữ nghệ thuật sẽ giúp làm rõ hơn vai trò của nó trong việc tạo nên sức hấp dẫn của văn học. Các nhà văn thường sử dụng định ngữ nghệ thuật để thể hiện phong cách cá nhân và tạo ra những ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc. Điều này cho thấy rằng định ngữ nghệ thuật không chỉ là một thành phần ngữ pháp mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc tạo nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn của văn học.

III. Vai trò của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt

Vai trò của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt rất đa dạng và phong phú. Định ngữ nghệ thuật không chỉ làm phong phú thêm nội dung câu mà còn góp phần tạo nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn của văn học. Vai trò của định ngữ nghệ thuật đối với trung tâm cụm danh từ là rất quan trọng, giúp xác định rõ hơn ý nghĩa của danh từ. Ngoài ra, định ngữ nghệ thuật còn có vai trò trong việc tạo ra nhạc điệu cho câu văn, làm cho câu văn trở nên mềm mại và uyển chuyển hơn. Việc phân tích vai trò của định ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm văn xuôi Việt Nam sẽ giúp làm rõ hơn giá trị nghệ thuật của nó. Điều này cho thấy rằng định ngữ nghệ thuật không chỉ là một thành phần ngữ pháp mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của văn học.

3.1. Vai trò của định ngữ nghệ thuật trong cụm danh từ

Trong cụm danh từ, định ngữ nghệ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc xác định và làm rõ ý nghĩa của danh từ. Định ngữ nghệ thuật giúp người đọc hình dung rõ hơn về đối tượng được miêu tả, từ đó tạo ra những hình ảnh sống động trong tâm trí. Việc sử dụng định ngữ nghệ thuật trong cụm danh từ không chỉ làm phong phú thêm nội dung mà còn thể hiện phong cách ngôn ngữ của tác giả. Điều này cho thấy rằng định ngữ nghệ thuật không chỉ là một thành phần ngữ pháp mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của văn học.

3.2. Vai trò của định ngữ nghệ thuật đối với câu văn nghệ thuật

Trong câu văn nghệ thuật, định ngữ nghệ thuật có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra nhạc điệu và cảm xúc cho câu. Định ngữ nghệ thuật không chỉ bổ sung thông tin mà còn tạo ra những giá trị nghệ thuật sâu sắc. Việc phân tích vai trò của định ngữ nghệ thuật trong câu văn sẽ giúp làm rõ hơn cách thức mà các nhà văn sử dụng ngôn ngữ để tạo ra hiệu ứng nghệ thuật. Điều này cho thấy rằng định ngữ nghệ thuật không chỉ là một thành phần ngữ pháp mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc tạo nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn của văn học.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ ngữ văn định ngữ nghệ thuật trong tiếng việt qua một số tác phẩm văn xuôi việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu định ngữ và định ngữ nghệ thuật 1. Tình hình nghiên cứu định ngữ ở ngoài nước Thuật ngữ định ngữ (Atribute) được dùng trong nghiên cứu của Ngữ pháp học, liên quan đến việc miêu tả cấu tạo ngữ pháp, phân loại và phân tích thành phần câu. Trong các công trình của Ngôn ngữ học đại cương và Ngữ pháp học, định ngữ là một khái niệm được nhiều tác giả bàn tới, đánh giá về cương vị ngữ pháp của nó trong tổ chức cú pháp của câu.

Nhưng có thể thấy, cho đến nay, các nhà nghiên cứu còn có những ý kiến khác nhau về định ngữ; nhìn chung, các ý kiến mới chỉ dừng lại ở vài nhận xét sơ giản, mà chưa dành nhiều quan tâm như các thành phần khác. Qua các tài liệu mà chúng tôi có được, tuy chưa đầy đủ nhưng có thể nêu tổng quan mấy điểm chính về tình hình và các kết quả nghiên cứu ngữ pháp có bàn đến định ngữ theo mấy hướng sau đây. Các nhà ngôn ngữ học Nga (như A.) cho rằng thành phần câu gồm: vị ngữ, chủ ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, vị ngữ phụ thuộc và định ngữ. Khi đề cập đến thành phần phụ của câu, người ta xem trạng ngữ là thành phần bị dẫn tiếp, bổ ngữ là thành phần bị chế ước còn định ngữ là thành phần bị hợp dạng [Dẫn theo 163, tr.

Họ phân biệt hai loại cú pháp: Cú pháp học câu nghiên cứu thành phần chính trong mối quan hệ với câu và trong mối quan hệ tương hỗ với nhau; còn Cú pháp học từ tổ chủ yếu nghiên cứu các thành phần phụ của câu trong mối quan hệ với các thành phần chính và cũng đặt trong mối quan hệ tương hỗ với nhau [Dẫn theo 163, tr. Xtepanop, khi bàn về cấu trúc cú pháp ở bậc câu trong tiếng Nga có nói đến hai loại kết cấu: kết cấu hướng tâm (từ tổ có thành phần chủ yếu) và kết cấu li tâm (từ tổ không có thành phần chủ yếu). Kết cấu hướng tâm là loại từ tổ được mở rộng thành phần chính, khi vận động theo hướng ngược lại thì kết cấu được rút gọn cho đến tận thành phần chính. Mô hình: A+N  N (trong đó, A: tính từ - định ngữ, N: danh từ [178, tr.

8 Các nhà nghiên cứu của Mỹ, Đức, Anh theo quan điểm ngữ pháp quan hệ, ngữ pháp chức năng về sau này chủ yếu quan tâm đến thành phần chính (đặc biệt là vị ngữ); họ không hoặc ít quan tâm đến các thành phần phụ, thậm chí không nói đến định ngữ. Tổng hợp các tài liệu [66], [54] có liên quan đến nội dung đề tài, chúng tôi thấy giai đoạn sau này, khoảng những năm 80 của thế kỷ XX, khi xu hướng nghiên cứu ngữ pháp chú trọng đến ngữ nghĩa và chức năng phát triển, bàn về thành phần câu, người ta có đề cập đến thành phần định ngữ. Halliday cho rằng trong cấu trúc kinh nghiệm của danh ngữ tiếng Anh có một số yếu tố, trong đó phải kể đến tính ngữ (epithet) và phân loại tố (classifier). Trong đó, tính ngữ là “…chỉ ra một phẩm chất nào đó của tiểu tập hợp, như, old (già/ cũ), long (dài/ lâu), blue (xanh da trời), fast (nhanh)”; phân loại tố lại “chỉ ra tiểu lớp của sự vật […], ví dụ, electric train (tàu điện), passenger train (tàu khách), wooden train (tàu bằng gỗ)” [59, tr.

Trong khi phân loại chức năng các thành tố phụ trong danh ngữ, M. Halliday không xét danh ngữ trong hoạt động hành chức cũng như trong mối quan hệ với ngữ cảnh (cả đối ngôn và hiện thực bên ngoài ngôn ngữ). Mặc dù không trực tiếp nói ra, nhưng ông đã xem xét chức năng của các thành tố phụ trong tiếng Anh (trong đó có các thành phần định ngữ) trên bình diện ngữ nghĩa. Ngoài chức năng tính ngữ và phân loại tố, chúng ta có thể thấy còn các chức năng như hậu chỉ trỏ.

Đây là một trong những gợi ý để chúng tôi, khi xem xét chức năng của ĐN nói chung và ĐNNT nói riêng và phân loại chúng trên bình diện ngữ nghĩa ở mục nói về chức năng định ngữ tiếng Việt. Trong một công trình khác, Beatrice Warren [205] cũng có mục nói về các thành phần phụ thuộc của câu, trong đó có định ngữ. Theo tác giả, ngoài chức năng miêu tả, phân loại, định ngữ còn có chức năng định dạng. Khi xem xét chức năng này, tác giả đặt định ngữ trong tình huống sử dụng cụ thể của nó (tức là trong hoạt động giao tiếp cụ thể).

Bà viết: “Chúng ta hãy giả sử rằng người A muốn người B đưa cho anh ta một cuốn sách. Nếu có trên một cuốn sách ở gần, A phải nhận dạng cuốn sách nào anh ta đòi hỏi. Một cách tự nhiên làm điều này là bổ nghĩa cho danh từ bằng một tính từ chỉ ra đặc điểm có thể 9 ứng dụng được - hoặc ít nhất là dễ thấy nhất đối với sự biểu đạt có ý định trong những sự biểu đạt có thể của sách trong những tình huống cụ thể. Ví dụ: - Hãy đưa cho tôi cuốn sách màu đỏ!” [205, tr.

Rõ ràng, chức năng miêu tả và phân loại của ĐN trong những ngữ cảnh nhất định thường được dùng để “giúp cho việc nhận dạng” sự vật được nói đến trong ngữ cảnh. Điều này giúp chúng ta nhận ra vai trò cần thiết và quan trọng trong việc phân loại ĐN. Tình hình nghiên cứu định ngữ ở Việt Nam Khoảng đầu thế kỷ XX một số tác giả (như: Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Lê Văn Lý) tiếp thu lí thuyết của ngôn ngữ châu Âu vào nghiên cứu tiếng Việt. Riêng ở lĩnh vực ngữ pháp, giai đoạn đầu (những năm 40 thế kỷ XX), các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt chủ yếu vận dụng lí thuyết các trường phái ngôn ngữ phương Tây vốn phù hợp với các ngôn ngữ biến hình để phân loại từ và câu tiếng Việt - một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập.

Giai đoạn tiếp theo (những năm 70), ngữ pháp tiếng Việt đã có những thay đổi theo hướng nghiên cứu câu tiếng Việt trên nền tảng của các lí thuyết mới của phương Tây, bám sát vào cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa. Từ những năm 90 của thế kỉ XX, các nhà Việt ngữ học tiếp cận ngữ pháp từ bình diện chức năng, quan tâm đến ngữ nghĩa ngữ dụng của câu trong hoạt động giao tiếp. Khi đề cập đến cấu trúc câu, một trong những vấn đề trọng tâm mà các tác giả bàn tới là các thành phần câu, trong đó nhiều tác giả đề cập đến thành phần ĐN. Các nhà nghiên cứu dễ dàng xác định ĐN có cương vị ngữ pháp khá đặc thù so với các thành phần khác (như chủ ngữ, vị ngữ hay bổ ngữ) trong câu nhưng đặc điểm và vai trò của nó thì lại có nhiều hướng nhìn nhận, phân tích đánh giá.

Định ngữ trong mối quan hệ với câu Hiện nay có hai loại ý kiến phân tích về ĐN tiếng Việt. Loại ý kiến thứ nhất xem ĐN thuộc thành phần của câu, nhưng quan niệm ĐN thuộc thành phần câu cũng khác nhau và có phân biệt về thứ bậc, tôn ti. 10 Các tác giả Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1981, 1992) xem định ngữ là “một loại thành phần phụ có thể đứng trước nòng cốt câu hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ, có nhiệm vụ biểu thị những ý nghĩa hạn định về tình thái hoặc cách thức cho sự tình được nêu trong câu” [163, tr. Ví dụ: - Đột nhiên, Hộ nảy ra ý định muốn lại gần Từ, nhìn kĩ xem mặt Từ lúc bấy giờ ra sao (Nam Cao); - Bỗng đùng một cái, tôi nghe tin anh chết (Nam Cao); - Vậy thì hắn đích thực là một con người hay lật lọng (Nam Cao).

Các định ngữ, theo quan niệm của hai tác giả, có thể dễ dàng thay đổi vị trí mà không làm thay đổi hay mất đi ý nghĩa của toàn bộ câu văn. Trong công trình viết chung Thành phần câu tiếng Việt (1999), hai tác giả phân chia thành phần câu tiếng Việt làm hai loại: Loại thành phần chủ yếu của câu gồm: vị ngữ, chủ ngữ và bổ ngữ; loại thành phần thứ yếu của câu gồm: khởi ngữ, tình thái ngữ, định ngữ câu và trạng ngữ. Như vậy, định ngữ là thành phần có hai vị trí: đứng trước nòng cốt câu hoặc chen giữa chủ ngữ và vị ngữ, bổ sung ý nghĩa về mặt tình thái (khách quan hay chủ quan) cho câu [163, tr. Loại ý kiến thứ hai xem ĐN không có cương vị là thành phần câu mà là thành phần phụ thuộc của từ (từ tổ, cụm từ).

Nhiều ý kiến của các nhà Việt ngữ học theo hướng này. Hoàng Tuệ (1962) xem ngoài các thành viên chính của câu là chủ ngữ và vị ngữ thì có thành viên thứ yếu bổ ngữ, còn định ngữ (bổ sung ý nghĩa cho danh từ) là loại thành viên không nằm cùng hàng với chủ ngữ, vị ngữ và bổ ngữ [174, tr. Nguyễn Kim Thản (1964) xác định các thành phần câu gồm: thành phần chính của câu (chủ ngữ, vị ngữ), thành phần thứ yếu của câu (trạng ngữ, khởi ngữ), còn bổ ngữ và định ngữ là thành phần thứ yếu của từ tổ. Thành phần thứ yếu của câu thì phụ thuộc vào cả câu, còn thành phần thứ yếu của từ tổ thì “phụ thuộc hẳn vào một từ nhất định” [145, tr.

Bưstrov, Nguyễn Tài Cẩn, N. Stankevich (1975) xem các thành phần phụ khi ở trong đoản ngữ (cụm từ, từ tổ) là “thành phần phụ thuộc”, điển hình là định ngữ [16, tr. Cao Xuân Hạo (1999), khi xác định cấu trúc của câu tiếng Việt theo quan điểm ngữ pháp chức năng đã chia theo thứ bậc: Bậc cấu trúc cơ bản của câu, gồm phần chính (đề - thuyết) và phần phụ (trạng ngữ) và các thành 11 phần khác ngoài cấu trúc cơ bản của câu gồm: khởi ngữ, hô ngữ, thành phần chuyển tiếp và thành phần chú thích. Định ngữ và bổ ngữ không phải là thành phần câu mà thuộc cấu trúc của ngữ.

“Ngữ làm các thành phần chức năng trong câu có cấu trúc gồm một từ trung tâm và các định ngữ (ngữ danh từ), các bổ ngữ (ngữ vị từ) của nó” [68, tr. Trong cấu trúc ngữ danh từ kiểu như cái áo cuối cùng, cái áo đẹp nhất thì cuối cùng, đẹp nhất là định ngữ [66, tr. Tóm lại, các nhà ngôn ngữ học nước ngoài hay trong giới Việt ngữ học khi bàn đến cấu tạo ngữ pháp của câu tiếng Việt đều đề cập đến thành phần câu, miêu tả các thành phần câu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Định Ngữ Nghệ Thuật Trong Tiếng Việt: Phân Tích Qua Các Tác Phẩm Văn Xuôi Việt Nam là một tài liệu chuyên sâu khám phá cách sử dụng định ngữ nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam, làm nổi bật vai trò của chúng trong việc tạo nên sắc thái và chiều sâu cho tác phẩm. Tài liệu này không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về cấu trúc ngôn ngữ mà còn mang lại cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật biểu đạt trong văn học. Nếu bạn quan tâm đến cách ngôn ngữ được sử dụng tinh tế trong văn học, bạn có thể tìm hiểu thêm qua Luận văn văn hóa tâm linh trong truyện kiều và văn chiêu hồn của nguyễn du, nơi khám phá sâu hơn về yếu tố tâm linh trong ngôn ngữ văn học. Đồng thời, Luận văn thạc sĩ cấm kỵ và đối phó với cấm kỵ nhìn từ góc độ văn hóa khảo sát qua thơ nôm truyền tụng của hồ xuân hương cung cấp góc nhìn độc đáo về cách ngôn ngữ vượt qua những rào cản văn hóa. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ ngữ văn vị từ tình thái trong truyện kiều của nguyễn du sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự tinh tế trong cách sử dụng từ ngữ để truyền tải cảm xúc. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và khám phá sâu hơn về ngôn ngữ và văn học Việt Nam.