CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu định ngữ và định ngữ nghệ thuật 1. Tình hình nghiên cứu định ngữ ở ngoài nước Thuật ngữ định ngữ (Atribute) được dùng trong nghiên cứu của Ngữ pháp học, liên quan đến việc miêu tả cấu tạo ngữ pháp, phân loại và phân tích thành phần câu. Trong các công trình của Ngôn ngữ học đại cương và Ngữ pháp học, định ngữ là một khái niệm được nhiều tác giả bàn tới, đánh giá về cương vị ngữ pháp của nó trong tổ chức cú pháp của câu.
Nhưng có thể thấy, cho đến nay, các nhà nghiên cứu còn có những ý kiến khác nhau về định ngữ; nhìn chung, các ý kiến mới chỉ dừng lại ở vài nhận xét sơ giản, mà chưa dành nhiều quan tâm như các thành phần khác. Qua các tài liệu mà chúng tôi có được, tuy chưa đầy đủ nhưng có thể nêu tổng quan mấy điểm chính về tình hình và các kết quả nghiên cứu ngữ pháp có bàn đến định ngữ theo mấy hướng sau đây. Các nhà ngôn ngữ học Nga (như A.) cho rằng thành phần câu gồm: vị ngữ, chủ ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, vị ngữ phụ thuộc và định ngữ. Khi đề cập đến thành phần phụ của câu, người ta xem trạng ngữ là thành phần bị dẫn tiếp, bổ ngữ là thành phần bị chế ước còn định ngữ là thành phần bị hợp dạng [Dẫn theo 163, tr.
Họ phân biệt hai loại cú pháp: Cú pháp học câu nghiên cứu thành phần chính trong mối quan hệ với câu và trong mối quan hệ tương hỗ với nhau; còn Cú pháp học từ tổ chủ yếu nghiên cứu các thành phần phụ của câu trong mối quan hệ với các thành phần chính và cũng đặt trong mối quan hệ tương hỗ với nhau [Dẫn theo 163, tr. Xtepanop, khi bàn về cấu trúc cú pháp ở bậc câu trong tiếng Nga có nói đến hai loại kết cấu: kết cấu hướng tâm (từ tổ có thành phần chủ yếu) và kết cấu li tâm (từ tổ không có thành phần chủ yếu). Kết cấu hướng tâm là loại từ tổ được mở rộng thành phần chính, khi vận động theo hướng ngược lại thì kết cấu được rút gọn cho đến tận thành phần chính. Mô hình: A+N N (trong đó, A: tính từ - định ngữ, N: danh từ [178, tr.
8 Các nhà nghiên cứu của Mỹ, Đức, Anh theo quan điểm ngữ pháp quan hệ, ngữ pháp chức năng về sau này chủ yếu quan tâm đến thành phần chính (đặc biệt là vị ngữ); họ không hoặc ít quan tâm đến các thành phần phụ, thậm chí không nói đến định ngữ. Tổng hợp các tài liệu [66], [54] có liên quan đến nội dung đề tài, chúng tôi thấy giai đoạn sau này, khoảng những năm 80 của thế kỷ XX, khi xu hướng nghiên cứu ngữ pháp chú trọng đến ngữ nghĩa và chức năng phát triển, bàn về thành phần câu, người ta có đề cập đến thành phần định ngữ. Halliday cho rằng trong cấu trúc kinh nghiệm của danh ngữ tiếng Anh có một số yếu tố, trong đó phải kể đến tính ngữ (epithet) và phân loại tố (classifier). Trong đó, tính ngữ là “…chỉ ra một phẩm chất nào đó của tiểu tập hợp, như, old (già/ cũ), long (dài/ lâu), blue (xanh da trời), fast (nhanh)”; phân loại tố lại “chỉ ra tiểu lớp của sự vật […], ví dụ, electric train (tàu điện), passenger train (tàu khách), wooden train (tàu bằng gỗ)” [59, tr.
Trong khi phân loại chức năng các thành tố phụ trong danh ngữ, M. Halliday không xét danh ngữ trong hoạt động hành chức cũng như trong mối quan hệ với ngữ cảnh (cả đối ngôn và hiện thực bên ngoài ngôn ngữ). Mặc dù không trực tiếp nói ra, nhưng ông đã xem xét chức năng của các thành tố phụ trong tiếng Anh (trong đó có các thành phần định ngữ) trên bình diện ngữ nghĩa. Ngoài chức năng tính ngữ và phân loại tố, chúng ta có thể thấy còn các chức năng như hậu chỉ trỏ.
Đây là một trong những gợi ý để chúng tôi, khi xem xét chức năng của ĐN nói chung và ĐNNT nói riêng và phân loại chúng trên bình diện ngữ nghĩa ở mục nói về chức năng định ngữ tiếng Việt. Trong một công trình khác, Beatrice Warren [205] cũng có mục nói về các thành phần phụ thuộc của câu, trong đó có định ngữ. Theo tác giả, ngoài chức năng miêu tả, phân loại, định ngữ còn có chức năng định dạng. Khi xem xét chức năng này, tác giả đặt định ngữ trong tình huống sử dụng cụ thể của nó (tức là trong hoạt động giao tiếp cụ thể).
Bà viết: “Chúng ta hãy giả sử rằng người A muốn người B đưa cho anh ta một cuốn sách. Nếu có trên một cuốn sách ở gần, A phải nhận dạng cuốn sách nào anh ta đòi hỏi. Một cách tự nhiên làm điều này là bổ nghĩa cho danh từ bằng một tính từ chỉ ra đặc điểm có thể 9 ứng dụng được - hoặc ít nhất là dễ thấy nhất đối với sự biểu đạt có ý định trong những sự biểu đạt có thể của sách trong những tình huống cụ thể. Ví dụ: - Hãy đưa cho tôi cuốn sách màu đỏ!” [205, tr.
Rõ ràng, chức năng miêu tả và phân loại của ĐN trong những ngữ cảnh nhất định thường được dùng để “giúp cho việc nhận dạng” sự vật được nói đến trong ngữ cảnh. Điều này giúp chúng ta nhận ra vai trò cần thiết và quan trọng trong việc phân loại ĐN. Tình hình nghiên cứu định ngữ ở Việt Nam Khoảng đầu thế kỷ XX một số tác giả (như: Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Lê Văn Lý) tiếp thu lí thuyết của ngôn ngữ châu Âu vào nghiên cứu tiếng Việt. Riêng ở lĩnh vực ngữ pháp, giai đoạn đầu (những năm 40 thế kỷ XX), các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt chủ yếu vận dụng lí thuyết các trường phái ngôn ngữ phương Tây vốn phù hợp với các ngôn ngữ biến hình để phân loại từ và câu tiếng Việt - một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập.
Giai đoạn tiếp theo (những năm 70), ngữ pháp tiếng Việt đã có những thay đổi theo hướng nghiên cứu câu tiếng Việt trên nền tảng của các lí thuyết mới của phương Tây, bám sát vào cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa. Từ những năm 90 của thế kỉ XX, các nhà Việt ngữ học tiếp cận ngữ pháp từ bình diện chức năng, quan tâm đến ngữ nghĩa ngữ dụng của câu trong hoạt động giao tiếp. Khi đề cập đến cấu trúc câu, một trong những vấn đề trọng tâm mà các tác giả bàn tới là các thành phần câu, trong đó nhiều tác giả đề cập đến thành phần ĐN. Các nhà nghiên cứu dễ dàng xác định ĐN có cương vị ngữ pháp khá đặc thù so với các thành phần khác (như chủ ngữ, vị ngữ hay bổ ngữ) trong câu nhưng đặc điểm và vai trò của nó thì lại có nhiều hướng nhìn nhận, phân tích đánh giá.
Định ngữ trong mối quan hệ với câu Hiện nay có hai loại ý kiến phân tích về ĐN tiếng Việt. Loại ý kiến thứ nhất xem ĐN thuộc thành phần của câu, nhưng quan niệm ĐN thuộc thành phần câu cũng khác nhau và có phân biệt về thứ bậc, tôn ti. 10 Các tác giả Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1981, 1992) xem định ngữ là “một loại thành phần phụ có thể đứng trước nòng cốt câu hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ, có nhiệm vụ biểu thị những ý nghĩa hạn định về tình thái hoặc cách thức cho sự tình được nêu trong câu” [163, tr. Ví dụ: - Đột nhiên, Hộ nảy ra ý định muốn lại gần Từ, nhìn kĩ xem mặt Từ lúc bấy giờ ra sao (Nam Cao); - Bỗng đùng một cái, tôi nghe tin anh chết (Nam Cao); - Vậy thì hắn đích thực là một con người hay lật lọng (Nam Cao).
Các định ngữ, theo quan niệm của hai tác giả, có thể dễ dàng thay đổi vị trí mà không làm thay đổi hay mất đi ý nghĩa của toàn bộ câu văn. Trong công trình viết chung Thành phần câu tiếng Việt (1999), hai tác giả phân chia thành phần câu tiếng Việt làm hai loại: Loại thành phần chủ yếu của câu gồm: vị ngữ, chủ ngữ và bổ ngữ; loại thành phần thứ yếu của câu gồm: khởi ngữ, tình thái ngữ, định ngữ câu và trạng ngữ. Như vậy, định ngữ là thành phần có hai vị trí: đứng trước nòng cốt câu hoặc chen giữa chủ ngữ và vị ngữ, bổ sung ý nghĩa về mặt tình thái (khách quan hay chủ quan) cho câu [163, tr. Loại ý kiến thứ hai xem ĐN không có cương vị là thành phần câu mà là thành phần phụ thuộc của từ (từ tổ, cụm từ).
Nhiều ý kiến của các nhà Việt ngữ học theo hướng này. Hoàng Tuệ (1962) xem ngoài các thành viên chính của câu là chủ ngữ và vị ngữ thì có thành viên thứ yếu bổ ngữ, còn định ngữ (bổ sung ý nghĩa cho danh từ) là loại thành viên không nằm cùng hàng với chủ ngữ, vị ngữ và bổ ngữ [174, tr. Nguyễn Kim Thản (1964) xác định các thành phần câu gồm: thành phần chính của câu (chủ ngữ, vị ngữ), thành phần thứ yếu của câu (trạng ngữ, khởi ngữ), còn bổ ngữ và định ngữ là thành phần thứ yếu của từ tổ. Thành phần thứ yếu của câu thì phụ thuộc vào cả câu, còn thành phần thứ yếu của từ tổ thì “phụ thuộc hẳn vào một từ nhất định” [145, tr.
Bưstrov, Nguyễn Tài Cẩn, N. Stankevich (1975) xem các thành phần phụ khi ở trong đoản ngữ (cụm từ, từ tổ) là “thành phần phụ thuộc”, điển hình là định ngữ [16, tr. Cao Xuân Hạo (1999), khi xác định cấu trúc của câu tiếng Việt theo quan điểm ngữ pháp chức năng đã chia theo thứ bậc: Bậc cấu trúc cơ bản của câu, gồm phần chính (đề - thuyết) và phần phụ (trạng ngữ) và các thành 11 phần khác ngoài cấu trúc cơ bản của câu gồm: khởi ngữ, hô ngữ, thành phần chuyển tiếp và thành phần chú thích. Định ngữ và bổ ngữ không phải là thành phần câu mà thuộc cấu trúc của ngữ.
“Ngữ làm các thành phần chức năng trong câu có cấu trúc gồm một từ trung tâm và các định ngữ (ngữ danh từ), các bổ ngữ (ngữ vị từ) của nó” [68, tr. Trong cấu trúc ngữ danh từ kiểu như cái áo cuối cùng, cái áo đẹp nhất thì cuối cùng, đẹp nhất là định ngữ [66, tr. Tóm lại, các nhà ngôn ngữ học nước ngoài hay trong giới Việt ngữ học khi bàn đến cấu tạo ngữ pháp của câu tiếng Việt đều đề cập đến thành phần câu, miêu tả các thành phần câu.