Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong hệ thống ngữ pháp tiếng Việt, câu được tổ chức bởi các thành phần chính (nòng cốt câu) và các thành phần phụ. Trong khi thành phần chính giữ vai trò quyết định cấu trúc cú pháp, các thành phần phụ đảm nhiệm chức năng bổ sung thông tin, biểu thị tình thái, đồng thời có khả năng làm biến đổi và nâng cấp chất lượng ngữ nghĩa của thông báo. Định ngữ là một trong những thành phần phụ quan trọng tham gia vào cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa của câu, đặc biệt là trong cấu trúc của cụm danh từ.

Trong văn bản nghệ thuật, câu văn có xu hướng mở rộng thành phần linh hoạt nhằm tạo nên hiệu quả biểu đạt và giá trị thẩm mĩ. Định ngữ nghệ thuật (ĐNNT) là yếu tố thể hiện trực tiếp đặc trưng phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và dấu ấn sáng tạo cá nhân của nhà văn. Mặc dù thuật ngữ định ngữ và định ngữ nghệ thuật đã được đề cập trong các nghiên cứu ngữ pháp học, phong cách học và phê bình văn học, nhưng phần lớn các công trình trước đây chỉ dừng lại ở những nhận xét sơ giản hoặc khảo sát cục bộ ở một tác giả, một thể loại hoặc một từ loại nhất định (như định tố tính từ). Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định là việc thiếu vắng một công trình miêu tả, phân loại và phân tích một cách toàn diện, có hệ thống về ĐNNT trong tiếng Việt trên cả ba bình diện: cấu tạo ngữ pháp, tổ chức ngữ nghĩa và vai trò chức năng trong văn bản nghệ thuật (cụ thể là văn xuôi).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các đặc điểm về ngữ pháp, ngữ nghĩa và vai trò của định ngữ nghệ thuật trong câu văn tiếng Việt thông qua khảo sát văn xuôi.

Để đạt được mục đích trên, luận án đề ra 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình và kết quả nghiên cứu về ĐNNT; làm rõ cơ sở lí luận và hướng tiếp cận của đề tài;
  2. Phân tích, miêu tả cách thức tổ chức cấu tạo và cách thức tổ chức ngữ nghĩa của ĐNNT trong tiếng Việt;
  3. Phân tích vai trò của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tiếp cận ĐNNT trên các phương diện ngữ pháp (cấu tạo, từ loại), ngữ nghĩa và vai trò chức năng trong tiếng Việt. Đơn vị khảo sát, phân tích và miêu tả được giới hạn trong các câu có cụm danh từ chứa ĐNNT, trích xuất từ 14 tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu định ngữ và định ngữ nghệ thuật

Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu định ngữ và định ngữ nghệ thuật qua các mảng tư liệu trong nước và quốc tế:

1. Nghiên cứu định ngữ ở ngoài nước

  • Ngôn ngữ học Nga: Các nhà ngôn ngữ học Nga như A. M. Peshkovsky phân định thành phần câu gồm vị ngữ, chủ ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, vị ngữ phụ thuộc và định ngữ; đồng thời phân biệt cú pháp học câu (nghiên cứu thành phần chính) và cú pháp học từ tổ (nghiên cứu thành phần phụ). Yu. S. Stepanov (Xtepanop) nghiên cứu cấu trúc cú pháp ở bậc câu qua hai loại kết cấu: kết cấu hướng tâm ($A + N \to N$, trong đó $A$ là tính từ/định ngữ, $N$ là danh từ) và kết cấu li tâm.
  • Ngữ pháp chức năng phương Tây: M. A. K. Halliday nghiên cứu cấu trúc kinh nghiệm của danh ngữ tiếng Anh, xác định các yếu tố tính ngữ (epithet - chỉ phẩm chất) và phân loại tố (classifier - chỉ tiểu lớp sự vật). Beatrice Warren nghiên cứu các thành phần phụ thuộc của câu, phân tích định ngữ ở ba chức năng: miêu tả, phân loại và định dạng (nhận dạng sự vật trong ngữ cảnh giao tiếp cụ thể). M. B. Emeneau tiếp cận định ngữ (attribute) như thành phần bổ sung thuộc tính cho danh từ đi trước trong ngữ danh từ.

2. Nghiên cứu định ngữ ở Việt Nam

  • Quan niệm định ngữ là thành phần câu: Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1981, 1992, 1999) xếp định ngữ câu vào nhóm thành phần thứ yếu (cùng với khởi ngữ, tình thái ngữ, trạng ngữ), có vị trí đứng trước nòng cốt câu hoặc xen giữa chủ ngữ và vị ngữ để biểu thị ý nghĩa hạn định về tình thái hoặc cách thức cho sự tình.
  • Quan niệm định ngữ là thành phần phụ của cụm từ (từ tổ, đoản ngữ): Hoàng Tuệ (1962), Nguyễn Kim Thản (1964), Bưstrov - Nguyễn Tài Cẩn - N. V. Stankevich (1975), Đái Xuân Ninh (1978), Hoàng Trọng Phiến (1980), Diệp Quang Ban (1984, 1992), Đinh Văn Đức (1986), Cao Xuân Hạo (1998, 1999), Bùi Tất Tươm - Nguyễn Văn Bằng - Hoàng Xuân Tâm (1992, 1997), Nguyễn Thiện Giáp (1997, 2010), Nguyễn Thị Nhung (nghiên cứu chuyên sâu về định tố tính từ trong tiếng Việt). Các tác giả này tập trung miêu tả mô hình cụm danh từ và xác định định ngữ là thành phần phụ thuộc bổ nghĩa cho danh từ trung tâm.

3. Nghiên cứu định ngữ nghệ thuật

  • Góc độ thi pháp học và văn học: A. Veselovsky (A. Veclovxki) nhận định lịch sử của ĐNNT là lịch sử của phong cách thi ca dưới dạng rút gọn. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học (2004) xác định ĐNNT là phương thức chuyển nghĩa nhằm làm nổi bật đặc điểm đối tượng để tạo ấn tượng thẩm mĩ. Trần Đình Sử (2002) trong Thi pháp Truyện Kiều phân tích ngôn từ ý tượng và hệ thống định ngữ tu sức biểu đạt màu sắc, hình tượng nghệ thuật.
  • Góc độ ngôn ngữ học và phong cách học: Nguyễn Cao Đàm (2005) nhấn mạnh chức năng thẩm mĩ và khả năng tạo hình của ĐNNT; Đinh Trọng Lạc phân tích ĐNNT trong các văn bản cụ thể (Âm thanh thành phố, Tranh làng Hồ); Đỗ Việt Hùng và Nguyễn Thị Ngân Hoa (2004) phân tích vai trò cụ thể hóa nghĩa biểu vật và tăng tính hình tượng của định ngữ; Đặng Lưu và Nguyễn Thị Mai khảo sát ĐNNT ở từng tác giả riêng biệt hoặc từ loại tính từ.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở các nhận xét định tính, khảo sát đơn lẻ một tác giả (như Nguyễn Tuân) hoặc một từ loại (tính từ). Luận án của Trần Thị Mỹ Hạnh định vị việc giải quyết khoảng trống: khảo sát hệ thống ĐNNT tiếng Việt dựa trên nguồn ngữ liệu văn xuôi thực tế (2.000 đơn vị), xác lập các tiêu chí phân biệt ĐNNT với định ngữ thông thường, miêu tả chi tiết cấu tạo ngữ pháp, tổ chức ngữ nghĩa và làm rõ vai trò đa tầng của ĐNNT từ cấp độ cụm từ, câu văn đến cấp độ phong cách văn bản và phong cách tác giả.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án kết hợp khung lí thuyết của hai chuyên ngành: Ngữ pháp học và Phong cách học.

  1. Lí thuyết về câu và cụm danh từ tiếng Việt:
    • Cụm danh từ được tổ chức theo mô hình cấu trúc 6 vị trí:
      • Nhóm thành tố phụ trước: Vị trí (-3) chỉ tổng thể, (-2) chỉ số lượng, (-1) chỉ xuất/chủng loại.
      • Thành tố trung tâm: Vị trí (0) do danh từ đơn hoặc danh từ phức đảm nhiệm.
      • Nhóm thành tố phụ sau: Vị trí (1) là vị trí của định ngữ miêu tả/đặc trưng (vị trí xuất hiện của ĐNNT); Vị trí (2) là thành tố chỉ định khép lại cụm danh từ.
  2. Lí thuyết phong cách học và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật:
    • Bản chất của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật với ba đặc trưng cơ bản: tính hình tượng, tính truyền cảm và tính cá thể hoá.
    • Các biện pháp tu từ từ vựng - ngữ nghĩa (ẩn dụ, hoán dụ, so sánh...), tu từ cú pháp và tu từ văn bản.
    • Khái niệm màu sắc tu từ và chức năng thẩm mĩ của ngôn từ trong văn bản nghệ thuật.
  3. Khái niệm và tiêu chí nhận diện ĐNNT:
    • Khái niệm: ĐNNT là loại định ngữ nằm trong cấu trúc của cụm danh từ, là thành phần mang màu sắc tu từ và tính thẩm mĩ cho câu văn thuộc văn bản nghệ thuật.
    • Tiêu chí phân biệt với định ngữ thông thường:
      • Về vị trí: ĐN thông thường có thể phân bố ở các vị trí phụ trước (-3, -2, -1) và phụ sau (1, 2); ĐNNT chỉ xuất hiện ở vị trí phụ sau (1) ngay sau danh từ trung tâm (hoặc gián cách qua một định ngữ phân loại).
      • Về cấu tạo: ĐNNT có cấu tạo đa dạng từ từ đơn, từ phức, từ láy, tiểu cụm từ chính phụ, cụm đẳng lập đến tiểu cú (kết cấu chủ - vị).
      • Về ngữ nghĩa: ĐN thông thường phản ánh đặc điểm khách quan, vốn có nhằm mục đích hạn định hoặc nhận dạng; ĐNNT mang lại ý nghĩa mới, ý nghĩa liên hội, tạo hình nghệ thuật và gợi cảm xúc thẩm mĩ.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả: Sử dụng miêu tả đồng đại để làm rõ đặc điểm cấu tạo ngữ pháp, từ loại, khả năng kết hợp và chức năng ngữ nghĩa của ĐNNT trong ngữ cảnh câu văn. Đi kèm các thủ pháp: phân tích ngữ nghĩa, phân tích ngữ cảnh/ngôn cảnh, thủ pháp thử nghiệm (thay thế, lược bỏ, cải biến, đối chiếu) và phân tích thành tố trực tiếp.
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Khảo sát ĐNNT trong chỉnh thể văn bản nghệ thuật, đánh giá mối liên hệ và tác động qua lại giữa ĐNNT với cấu trúc câu, mạch liên kết đoạn văn và phong cách thể loại.
  • Thủ pháp thống kê - phân loại: Thống kê 2.000 ngữ liệu câu văn chứa ĐNNT từ các tác phẩm văn xuôi, phân loại theo các tiêu chí hình thức cú pháp, cấu tạo từ loại, cơ chế tổ chức ngữ nghĩa và thể loại văn bản.

Nguồn ngữ liệu nghiên cứu

Luận án tiến hành khảo sát và thu thập 2.000 đơn vị ngữ liệu câu văn có cụm danh từ chứa ĐNNT từ 14 tác phẩm thuộc 3 thể loại văn xuôi Việt Nam:

  1. Thể loại tiểu thuyết (4 tác phẩm):
    • Nguyễn Minh Châu, Dấu chân người lính (1972)
    • Ma Văn Kháng, Côi cút giữa cảnh đời (1989)
    • Lê Lựu, Thời xa vắng (1986)
    • Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh (1990)
  2. Thể loại truyện ngắn (5 tập truyện):
    • Nam Cao, Truyện ngắn trước 1945 (2016)
    • Tô Hoài, Truyện Tây Bắc (1953)
    • Nguyễn Khải, Mùa lạc (1960)
    • Nguyễn Thi, Truyện và kí (1978)
    • Nguyễn Tuân, Nguyễn Tuân tuyển tập (2012)
  3. Thể loại tùy bút, bút ký (5 tác phẩm):
    • Vũ Bằng, Thương nhớ mười hai (1956)
    • Nguyễn Khải, Tháng ba ở Tây Nguyên (1976)
    • Lưu Quý Kỳ, Sông núi còn đây (1973)
    • Nguyễn Trung Thành, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (1969)
    • Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ai đã đặt tên cho dòng sông (1986)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về định ngữ và định ngữ nghệ thuật trong ngôn ngữ học thế giới và Việt ngữ học. Tác giả phân tích hai luồng quan điểm chính về định ngữ: quan điểm coi ĐN là thành phần câu (Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp) và quan điểm coi ĐN là thành phần phụ thuộc trong cụm danh từ (Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo). Luận án xác định đi theo quan điểm coi ĐN là thành phần phụ trong cấu trúc cụm danh từ.

Về cơ sở lí thuyết, chương này xác lập các khái niệm nòng cốt: cấu trúc câu tiếng Việt, cấu tạo 6 vị trí của cụm danh từ, các phương tiện và biện pháp tu từ, đặc trưng phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, tính thẩm mĩ và màu sắc tu từ. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra định nghĩa ĐNNT và hệ thống tiêu chí phân biệt ĐNNT với định ngữ thông thường dựa trên vị trí cú pháp, cấu tạo từ loại và chức năng ngữ nghĩa biểu đạt.

Chương 2. Cách thức tổ chức của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt (qua một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam)

Chương 2 tập trung phân tích thực nghiệm ngữ liệu trên hai bình diện: cách thức tổ chức ngữ pháp và cách thức tổ chức ngữ nghĩa của ĐNNT.

1. Cách thức tổ chức ngữ pháp

  • Vị trí của ĐNNT trong cụm danh từ: Kết quả khảo sát 2.000 trường hợp cho thấy vị trí chủ đạo của ĐNNT là đứng liền sau danh từ trung tâm (DTTT).
STT Vị trí phân bố Số lượng (trường hợp) Tỉ lệ (%)
1 Liền sau danh từ trung tâm 1.938 96,9%
2 Bị gián cách bởi định ngữ khác 62 3,1%
Tổng 2.000 100,0%

Trong 62 trường hợp ĐNNT bị gián cách với DTTT bởi một định ngữ khác, các từ loại xen vào giữa gồm có:

STT Từ loại đứng trước ĐNNT và sau DTTT Số lượng (trường hợp) Tỉ lệ (%)
1 Danh từ (khu biệt/phân loại) 39 62,9%
2 Động từ 18 29,0%
3 Tính từ 3 4,9%
4 Đại từ 2 3,2%
Tổng 62 100,0%
  • Số lượng và cấu tạo của ĐNNT:
    • Số lượng: Đa số cụm danh từ chứa 1 đơn vị ĐNNT đứng sau DTTT theo quan hệ chính phụ (chiếm ưu thế tuyệt đối), hoặc chứa tổ hợp ĐNNT liên kết theo quan hệ đẳng lập (Cái rét êm êm ngòn ngọt, Một cô sơn nữ đẹp não nùng, sầu biêng biếc).
    • Cấu tạo hình thức: ĐNNT có cấu tạo đa dạng gồm từ đơn, từ phức, từ láy, tiểu cụm từ và tiểu cụm hỗn hợp. Trong đó, dạng cấu tạo là tiểu cụm từ chiếm 837 trường hợp (41,9%), tiểu cụm hỗn hợp chiếm 84 trường hợp (4,2%).

2. Cách thức tổ chức ngữ nghĩa

Chương 2 phân tích các cơ chế chuyển nghĩa và biện pháp tu từ được sử dụng để tạo nên ĐNNT:

  • Chức năng ngữ nghĩa của ĐNNT: biểu thị đặc trưng thẩm mĩ, cụ thể hóa thuộc tính sự vật thông qua lăng kính chủ quan của người viết.
  • Các phương thức tu từ chủ đạo tạo nên ĐNNT:
    • Phương thức ẩn dụ tu từ (ẩn dụ phẩm chất, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, ẩn dụ nhân hóa như những ngày mưa sầu thảm).
    • Phương thức so sánh tu từ có hạt nhân tính từ (ngõ hẻm câm lặng như hang sâu).
    • Biểu đạt ý nghĩa liên hội và sắc thái tình cảm, thái độ (châm biếm, ngợi ca, trân trọng).

Chương 3. Vai trò của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt (qua một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam)

Chương 3 luận giải vai trò chức năng của ĐNNT trên ba cấp độ cấu trúc:

1. Vai trò của ĐNNT trong cụm danh từ

  • Đối với danh từ trung tâm (DTTT): ĐNNT bổ sung các nét nghĩa miêu tả thẩm mĩ, làm mờ đi tính định danh thuần túy của DTTT để tạo nên hình tượng nghệ thuật; chuyển hóa các danh từ cụ thể thành các "ý tượng" giàu tính liên tưởng.
  • Đối với các thành tố phụ khác: ĐNNT phối hợp với các thành tố phụ trước (chỉ lượng, chỉ xuất) và thành tố phụ sau (chỉ định) để hoàn chỉnh cấu trúc ngữ nghĩa của danh ngữ, tạo sự tương hợp về phong cách.

2. Vai trò của ĐNNT đối với câu văn nghệ thuật

  • Về cấu tạo câu: Tham gia mở rộng thành phần câu, tạo điều kiện tổ chức các kiểu câu có dung lượng lớn, câu nhiều tầng bậc hoặc câu đặc biệt.
  • Về nội dung ngữ nghĩa: Nâng cấp chất lượng thông tin của câu văn, truyền tải nội dung tình thái, cảm xúc và thái độ đánh giá của người viết đối với sự tình được phản ánh.
  • Về nhạc điệu câu văn: Nhờ cấu trúc đối xứng, việc sử dụng từ láy, từ tượng thanh, tượng hình và sự phối hợp thanh điệu bằng - trắc trong nội bộ ĐNNT, câu văn xuôi đạt được tính nhạc, chất thơ và nhịp điệu uyển chuyển (mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh...).

3. Vai trò của ĐNNT đối với tác phẩm nghệ thuật

  • Góp phần thể hiện đặc điểm phong cách chức năng văn bản: Phân biệt rõ rệt văn bản nghệ thuật với các phong cách chức năng khác (khoa học, hành chính, chính luận); phản ánh đặc trưng của từng thể loại văn xuôi (tính cụ thể, kịch tính trong tiểu thuyết; tính cô đọng, sắc sảo trong truyện ngắn; tính trữ tình, phóng túng trong tùy bút, bút ký).
  • Góp phần thể hiện phong cách ngôn ngữ của nhà văn: Thể hiện cá tính sáng tạo, vốn từ vựng và phương thức tư duy nghệ thuật riêng biệt của từng tác giả (sự tài hoa, uyên bác và giàu chất tạo hình của Nguyễn Tuân; chất hiện thực sắc sảo, lạnh lùng nhưng giàu trắc ẩn của Nam Cao; chất trữ tình nồng nàn của Vũ Bằng hay Hoàng Phủ Ngọc Tường).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lí luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ các đặc điểm về hình thức cấu tạo ngữ pháp, cơ chế tổ chức ngữ nghĩa và vai trò chức năng của ĐNNT trong cấu trúc cụm danh từ tiếng Việt.
  2. Làm rõ mối quan hệ tương tác giữa ĐNNT với cấu trúc cú pháp câu văn và chỉnh thể tác phẩm văn học; xác lập tiêu chí khoa học phân biệt ĐNNT với định ngữ thông thường.
  3. Bổ sung các luận điểm lí thuyết về định ngữ và định ngữ nghệ thuật trong trạng thái hành chức thực tế, chỉ ra giá trị tu từ học và hiệu quả thẩm mĩ của thành phần này trong văn bản nghệ thuật.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Xây dựng một tập hợp ngữ liệu gồm 2.000 đơn vị câu văn chứa ĐNNT được trích xuất từ 14 tác phẩm văn xuôi tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, được phân loại theo các tiêu chí rõ ràng, cung cấp nguồn tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về ngữ pháp và phong cách học.
  2. Kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng trực tiếp vào việc dạy học phân môn Ngữ văn trong trường phổ thông:
    • Ứng dụng trong các giờ thực hành Tiếng Việt: rèn luyện kĩ năng đặt câu, mở rộng thành phần câu, phân tích ngữ pháp và nâng cao kĩ năng diễn đạt trong tập làm văn.
    • Ứng dụng trong các giờ Đọc - hiểu văn bản: giúp học sinh phân tích ngôn từ nghệ thuật, tiếp cận giá trị thẩm mĩ của tác phẩm và nhận diện phong cách tác giả.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Về phạm vi ngữ liệu: Luận án chỉ giới hạn khảo sát trên 14 tác phẩm văn xuôi hiện đại thuộc 3 thể loại (tiểu thuyết, truyện ngắn, tùy bút/ký), chưa bao quát toàn bộ các giai đoạn lịch sử của văn xuôi tiếng Việt.
  • Về phạm vi cấu trúc cú pháp: Luận án tập trung khảo sát ĐNNT nằm trong cấu trúc của cụm danh từ, chưa khảo sát các hiện tượng định ngữ mở rộng ngoài danh ngữ hoặc định ngữ nghệ thuật trong các cấu trúc cú pháp khác.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu ĐNNT sang các loại hình văn bản nghệ thuật khác, đặc biệt là thể loại thơ ca, kịch bản văn học và văn học trung đại.
  • Nghiên cứu so sánh đối chiếu đặc điểm cấu tạo và chức năng của ĐNNT giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác (ngôn ngữ biến hình hoặc ngôn ngữ đơn lập trong khu vực).
  • Nghiên cứu ứng dụng các phát hiện về ĐNNT vào việc xây dựng tài liệu giảng dạy chuyên đề phong cách học và ngữ pháp tiếng Việt ứng dụng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo cơ sở lí luận về cấu trúc cụm danh từ, ngữ pháp chức năng, thi pháp học ngôn ngữ và phương pháp phân tích diễn ngôn nghệ thuật (đặc biệt là nội dung phân loại vị trí và cấu tạo ở Chương 2).
  • Nhà nghiên cứu Lí luận văn học và Phong cách học: Khai thác các phân tích về mối quan hệ giữa ĐNNT với việc hình thành phong cách ngôn ngữ cá nhân của các tác giả lớn như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Bằng, Bảo Ninh (nội dung Chương 3).
  • Giáo viên môn Ngữ văn tại các trường phổ thông: Vận dụng hệ thống ví dụ, bảng thống kê và phân tích ngữ nghĩa để thiết kế bài giảng về các biện pháp tu từ, mở rộng thành phần câu và hướng dẫn học sinh đọc hiểu ngôn từ trong tác phẩm văn học.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định vị trí ngữ pháp phổ biến nhất của ĐNNT trong cụm danh từ tiếng Việt là gì?

Theo số liệu thống kê trên 2.000 đơn vị ngữ liệu tại Bảng 2.1 của luận án, vị trí phổ biến nhất của ĐNNT là đứng liền sau danh từ trung tâm, chiếm 1.938 trường hợp (tỉ lệ 96,9%). Vị trí bị gián cách bởi các định ngữ khác chỉ chiếm 62 trường hợp (tỉ lệ 3,1%).

2. Khi ĐNNT bị gián cách với danh từ trung tâm thì những từ loại nào thường đứng chen vào giữa?

Trong 62 trường hợp ĐNNT bị gián cách với danh từ trung tâm (Bảng 2.2), các từ loại đứng trước ĐNNT gồm có: danh từ chiếm số lượng cao nhất với 39 trường hợp (62,9%), động từ có 18 trường hợp (29,0%), tính từ có 3 trường hợp (4,9%) và đại từ có 2 trường hợp (3,2%).

3. Căn cứ cơ bản nào được sử dụng để phân biệt định ngữ thông thường và định ngữ nghệ thuật?

Luận án phân biệt dựa trên ba tiêu chí:

  • Vị trí: ĐN thông thường có thể đứng trước (-3, -2, -1) hoặc sau (1, 2) danh từ trung tâm; ĐNNT chỉ xuất hiện ở vị trí (1) sau danh từ trung tâm.
  • Cấu tạo: ĐNNT có cấu tạo đa dạng hơn, thường là từ ghép, từ láy, tiểu cụm từ chính phụ, cụm đẳng lập hoặc tiểu cú.
  • Ngữ nghĩa và chức năng: ĐN thông thường chỉ nêu đặc điểm khách quan vốn có nhằm hạn định/nhận dạng; ĐNNT mang tính thẩm mĩ, màu sắc tu từ, tạo nghĩa mới và gợi cảm xúc cho người đọc.

4. Luận án đã khảo sát ngữ liệu từ bao nhiêu tác phẩm văn xuôi và thuộc những thể loại nào?

Luận án khảo sát ngữ liệu từ 14 tác phẩm văn xuôi Việt Nam thuộc 3 thể loại:

  • Tiểu thuyết (4 tác phẩm): của Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh.
  • Truyện ngắn (5 tập truyện): của Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Khải, Nguyễn Thi, Nguyễn Tuân.
  • Tùy bút, bút ký (5 tác phẩm): của Vũ Bằng, Nguyễn Khải, Lưu Quý Kỳ, Nguyễn Trung Thành, Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt (qua một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam)" của tác giả Trần Thị Mỹ Hạnh là công trình nghiên cứu chuyên sâu về một thành phần phụ giàu giá trị thẩm mĩ trong cụm danh từ tiếng Việt. Dựa trên cơ sở kết hợp lí thuyết Ngữ pháp học và Phong cách học cùng nguồn ngữ liệu thực chứng gồm 2.000 câu văn, luận án đã làm sáng tỏ quy luật phân bố vị trí cú pháp, các dạng thức cấu tạo và cơ chế tổ chức ngữ nghĩa của ĐNNT. Công trình khẳng định vai trò đa diện của ĐNNT trong việc nâng cao chất lượng biểu đạt của câu văn, tạo lập nhạc điệu và định hình phong cách tác giả, đồng thời cung cấp tư liệu tham khảo thiết thực cho công tác giảng dạy Ngữ văn và nghiên cứu ngôn ngữ học tiếng Việt.