Tổng quan nghiên cứu

Ung thư đại tràng góc lách là một trong những bệnh lý ác tính phức tạp của đường tiêu hóa dưới, chiếm khoảng 3% đến 8% tổng số các ca ung thư đại tràng. Về phương diện giải phẫu, góc lách nằm ở vị trí cao nhất và sâu nhất trong ổ bụng, tiếp giáp phức tạp với cực dưới lách, đuôi tụy, thận trái và các bó mạch lớn. Do đặc thù vị trí giải phẫu hẹp, bệnh nhân thường đối mặt với nguy cơ biến chứng tắc ruột cao, trong đó tỷ lệ tắc ruột hoàn toàn chiếm khoảng 8,4% và bán tắc ruột lên tới 70,7%. Đa số người bệnh chỉ đến viện khi bệnh đã tiến triển sang giai đoạn muộn với các biểu hiện không đặc hiệu.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung vào hai nhiệm vụ trọng tâm: mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư đại tràng góc lách và đánh giá kết quả phẫu thuật sớm của phương pháp phẫu thuật nội soi cắt đại tràng trái cao. Nghiên cứu được triển khai trên 32 bệnh nhân tại Khoa Phẫu thuật ống tiêu hóa, Viện Phẫu thuật tiêu hóa thuộc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trong giai đoạn 3 năm từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 6 năm 2020.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa hiệu quả của kỹ thuật phẫu thuật nội soi ít xâm lấn. Kết quả cho thấy phương pháp này đảm bảo tính triệt căn ung thư học với diện cắt cách u trên 5 cm, số lượng hạch nạo vét đạt chuẩn quốc tế trên 12 hạch, đồng thời giảm thiểu mất máu xuống dưới 60 ml và rút ngắn thời gian nằm viện xuống dưới 10 ngày.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng đồng bộ các lý thuyết ung thư học hiện đại và giải phẫu ứng dụng ngoại khoa:

  • Nguyên lý cắt toàn bộ mạc treo đại tràng (Complete Mesocolic Excision - CME): Được GS. Hohenberger đề xuất năm 2009, nguyên lý CME yêu cầu phẫu tích sắc bén dọc theo các lớp mạc phôi học, bảo tồn nguyên vẹn bao mạc tạng Toldt và thắt mạch nuôi tại gốc giải phẫu. Ứng dụng CME giúp lấy bỏ trọn khối tổ chức mạc treo chứa mạng bạch huyết, nâng tỷ lệ sống thêm 4 năm không bệnh lên 85,8% so với 75,9% của phẫu thuật truyền thống và gia tăng số hạch nạo vét trung bình từ 20,9 hạch lên 36,5 hạch.
  • Hệ thống phân loại giai đoạn TNM ấn bản thứ 8 (AJCC 2017): Đánh giá chính xác độ xâm lấn khối u nguyên phát (từ T1 đến T4b), tình trạng di căn hạch vùng (N0 đến N2b) và di căn xa (M0 đến M1c). Đây là tiêu chuẩn vàng để xác định giai đoạn bệnh từ giai đoạn I đến giai đoạn IV, định hướng chỉ định phẫu thuật triệt căn R0.
  • Hệ thống phân loại hạch bạch huyết theo Hiệp hội Ung thư Đại trực tràng Nhật Bản (JSCCR): Phân loại hạch thành 3 chặng dựa trên trục động mạch đại tràng trái (mã số 23x), bao gồm chặng 1 (hạch cạnh đại tràng dưới 5 cm quanh khối u), chặng 2 (hạch trung gian từ 5 đến 10 cm dọc thân mạch) và chặng 3 (hạch chính tại gốc động mạch mạc treo tràng dưới).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hai giai đoạn thu thập dữ liệu gồm hồi cứu 30 hồ sơ bệnh án (từ tháng 6/2017 đến tháng 12/2019) và tiến cứu 2 bệnh nhân (từ tháng 1/2020 đến tháng 6/2020).
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ, thu nhận toàn bộ 32 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi cắt đại tràng trái cao và có kết quả giải phẫu bệnh khẳng định ung thư biểu mô đại tràng góc lách tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ giúp thu thập tối đa số ca bệnh đặc thù trong khung thời gian 36 tháng mà không tạo ra sai số chọn mẫu.
  • Kỹ thuật thu thập và biến số nghiên cứu: Dữ liệu được trích xuất từ bệnh án lâm sàng, hình ảnh nội soi đại tràng ống mềm sinh thiết, phim chụp cắt lớp vi tính đa dãy (CT Scanner) ổ bụng, chỉ số sinh hóa máu (nồng độ kháng nguyên CEA với ngưỡng bình thường 0 - 5 ng/ml) và biên bản giải phẫu bệnh sau mổ.
  • Xử lý số liệu: Toàn bộ thông tin được mã hóa, làm sạch và xử lý thống kê y học bằng phần mềm SPSS phiên bản 26.0, tính toán các tham số thống kê mô tả gồm giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần số và tỷ lệ phần trăm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Phân bố dịch tễ học: Tuổi trung bình của nhóm đối tượng nghiên cứu là 54,8 ± 13,4 tuổi, phân bố từ 29 tuổi đến 81 tuổi. Đáng chú ý, nhóm bệnh nhân dưới 50 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 37,5%. Nam giới chiếm tỷ lệ áp đảo với 65,6% (21 bệnh nhân), trong khi nữ giới chiếm 34,4% (11 bệnh nhân), tỷ lệ nam/nữ đạt 1,9/1. Về bệnh phối hợp, 18,8% bệnh nhân có tiền sử bệnh lý tiêu hóa, các bệnh tim mạch, nội tiết và hô hấp đều chiếm tỷ lệ đồng đều 6,3%, và 68,8% bệnh nhân không có bệnh lý nền kèm theo.
  • Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng: Đau bụng cục bộ và đại tiện ra máu là hai triệu chứng cơ năng điển hình, xuất hiện ở trên 75% trường hợp. Chụp cắt lớp vi tính và nội soi đại tràng ghi nhận kích thước khối u trung bình khoảng 3,95 cm, trong đó các u kích thước từ 3 đến 5 cm chiếm tỷ lệ chủ yếu. Tỷ lệ tăng nồng độ CEA huyết thanh trên 5 ng/ml ghi nhận ở khoảng 40% bệnh nhân trước mổ.
  • Thông số kỹ thuật trong phẫu thuật: Thời gian phẫu thuật nội soi trung bình dao động từ 120 đến 135 phút. Lượng máu mất trung bình trong mổ thấp dưới 60 ml. Tỷ lệ chuyển mổ mở đạt 0% (không có ca nào phải chuyển mổ mở do biến chứng mạch máu hay dính).
  • Kết quả sớm sau mổ: Thời gian trung tiện trung bình đạt từ 2 đến 4 ngày sau mổ; bệnh nhân bắt đầu ăn lỏng sau 3,5 ngày và vận động tự ngồi dậy sau 2 đến 2,5 ngày. Thời gian nằm viện sau phẫu thuật trung bình đạt từ 7 đến 9,5 ngày. Biến chứng sớm ghi nhận tỷ lệ thấp với rò miệng nối chỉ chiếm khoảng 3,1% (1 trường hợp và đã được phẫu thuật xử trí ổn định), không có trường hợp tử vong nội viện.

Thảo luận kết quả

Kỹ thuật phẫu tích từ giữa ra bên (medial-to-lateral approach) áp dụng trong nghiên cứu đã phát huy tối đa ưu thế kiểm soát mạch máu cuống mạc treo từ gốc, tách biệt an toàn niệu quản trái và bó mạch sinh dục trước khi di động đại tràng góc lách. Khi so sánh với công trình của Grieco và cộng sự (2019) trên 117 bệnh nhân với thời gian mổ 179,4 phút và tỷ lệ chuyển mổ mở 12,8%, kết quả tại Bệnh viện 108 cho thấy tính ưu việt rõ rệt với 0% chuyển mổ mở và thời gian can thiệp ngắn hơn đáng kể.

Về mặt ung thư học, số lượng hạch bạch huyết nạo vét trung bình đạt trên 15 hạch mỗi ca, vượt qua tiêu chuẩn tối thiểu 12 hạch do Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (AJCC) khuyến cáo. Dữ liệu này có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ phân bố số lượng hạch nạo vét theo các nhóm giai đoạn bệnh T và N, kết hợp bảng đối chiếu chỉ số phục hồi chức năng ruột giữa các kỹ thuật khâu nối bằng máy (Stapler) và khâu tay. So sánh với phẫu thuật mở truyền thống, phẫu thuật nội soi cắt đại tràng trái cao giúp giảm đau sau mổ, giảm sử dụng thuốc giảm đau gây nghiện và giảm từ 20% đến 30% chi phí điều trị tổng thể nhờ rút ngắn ngày điều trị nội trú.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Chuẩn hóa quy trình phẫu tích nội soi: Các khoa ngoại tiêu hóa tại bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương cần triển khai kỹ thuật phẫu tích từ trong ra ngoài (medial-to-lateral) làm quy trình chuẩn, giúp bộc lộ rõ góc Treitz, bảo vệ an toàn niệu quản trái và tĩnh mạch mạc treo tràng dưới, hướng tới giảm thiểu biến chứng tổn thương tạng lân cận xuống dưới 0,5%.
  • Thực hiện triệt để nguyên lý CME và kiểm soát diện cắt: Phẫu thuật viên ngoại tiêu hóa cần duy trì nạo vét tối thiểu 12 đến 15 hạch bạch huyết vùng, đồng thời kiểm soát diện cắt bờ ruột trên và dưới cách khối u tối thiểu 5 cm nhằm đạt mức độ triệt căn R0 cho 100% ca mổ trong giai đoạn 2024 - 2026.
  • Ứng dụng quy trình chẩn đoán hình ảnh đa phương thức: Cơ sở y tế cần kết hợp nội soi đại tràng ống mềm độ phân giải cao có sinh thiết với chụp cắt lớp vi tính đa dãy ổ bụng (MSCT) có tiêm thuốc cản quang trong vòng 48 giờ sau nhập viện để đánh giá chính xác mức độ xâm lấn thành ruột (T) và hạch vùng (N) với độ nhạy trên 90%.
  • Triển khai phác đồ hóa trị bổ trợ đa mô thức đúng thời điểm: Hội đồng hội chẩn u bướu cần xây dựng kế hoạch hóa trị bổ trợ sớm (phác đồ FOLFOX hoặc CapeOX) bắt đầu từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 12 sau mổ cho 100% bệnh nhân giai đoạn II có nguy cơ cao và giai đoạn III, duy trì liệu trình đủ 6 tháng để kéo dài thời gian sống thêm không bệnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Bác sĩ ngoại khoa tiêu hóa và phẫu thuật viên ung bướu: Nắm vững giải phẫu định khu mạch máu mạc treo, các bước đặt 4-5 trocar, thao tác hạ đại tràng góc lách và kỹ thuật tái lập lưu thông miệng nối đại tràng ngang - đại tràng sigma ngoài ổ bụng.
  • Học viên sau đại học, bác sĩ nội trú và cao học chuyên ngành Ngoại khoa: Sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng kết hợp hồi cứu - tiến cứu, kỹ thuật xử lý số liệu y sinh học trên phần mềm SPSS và ứng dụng phân loại TNM ấn bản 8.
  • Cán bộ quản lý bệnh viện và bảo hiểm y tế: Tiếp cận các chỉ số phục hồi chức năng sau mổ (thời gian trung tiện dưới 4 ngày, nằm viện dưới 10 ngày) để xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật và tối ưu hóa chi phí điều trị ngoại khoa ít xâm lấn.
  • Bệnh nhân và gia đình người bệnh ung thư đại tràng: Hiểu rõ các triệu chứng cảnh báo sớm như rối loạn tiêu hóa, đại tiện ra máu, cũng như lợi ích vượt trội về độ an toàn và tốc độ hồi phục của kỹ thuật mổ nội soi hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

Những dấu hiệu lâm sàng nào cảnh báo sớm ung thư đại tràng góc lách?

Ở giai đoạn sớm, bệnh thường diễn biến âm thầm không có biểu hiện rõ rệt. Khi khối u phát triển, các triệu chứng phổ biến gồm đại tiện phân nhầy máu đỏ tươi chiếm từ 76,9% đến 82,8%, đau quặn bụng tại mạn sườn trái chiếm trên 80% và rối loạn tiêu hóa kéo dài trên 1 tháng.

Tại sao phẫu thuật cắt đại tràng góc lách lại có độ phức tạp kỹ thuật cao?

Đại tràng góc lách nằm ở vị trí sâu nhất của khung đại tràng, áp sát vào lách, đuôi tụy, thận trái và động mạch chủ. Thao tác nội soi đòi hỏi phẫu tích tỉ mỉ trong phẫu trường hẹp để tránh rách bao lách, tổn thương mạch máu lớn và hạn chế nguy cơ thủng ruột.

Cắt toàn bộ mạc treo đại tràng (CME) đem lại giá trị ung thư học như thế nào?

Nguyên lý CME đảm bảo bóc tách trọn vẹn bao mạc tạng nguyên khối chứa toàn bộ mạch bạch huyết và hạch di căn mà không làm rách vỏ bọc mạc treo. Phương pháp này giúp lấy được trên 15 hạch vùng và nâng tỷ lệ sống không bệnh sau 4 năm lên 85,8%.

Bệnh nhân mất bao lâu để phục hồi sinh hoạt sau phẫu thuật nội soi?

Nhờ ít sang chấn thành bụng, bệnh nhân thường có trung tiện sau 2 đến 4 ngày, bắt đầu ăn lỏng và tự ngồi dậy sau 2 đến 3 ngày. Thời gian nằm viện sau mổ chỉ từ 7 đến 9,5 ngày, nhanh hơn từ 3 đến 5 ngày so với phẫu thuật mổ mở.

Trường hợp nào cần điều trị hóa chất bổ trợ sau khi phẫu thuật nội soi?

Bệnh nhân ung thư đại tràng từ giai đoạn II có yếu tố nguy cơ cao (như u gây tắc ruột, số hạch nạo vét dưới 12 hạch, mô học kém biệt hóa) và giai đoạn III có di căn hạch vùng đều có chỉ định hóa trị bổ trợ phác đồ FOLFOX hoặc CapeOX trong 6 tháng.

Kết luận

  • Phẫu thuật nội soi cắt đại tràng trái cao là giải pháp ngoại khoa triệt căn, an toàn và khả thi hàng đầu đối với ung thư đại tràng góc lách.
  • Kỹ thuật phẫu tích từ trong ra ngoài kết hợp nguyên lý cắt toàn bộ mạc treo đại tràng (CME) giúp kiểm soát mạch máu tối ưu, nạo vét trung bình trên 15 hạch và đạt diện cắt âm tính.
  • Tỷ lệ tai biến trong mổ và biến chứng sớm sau mổ rất thấp, tỷ lệ chuyển mổ mở là 0% và tỷ lệ rò miệng nối chỉ chiếm 3,1%.
  • Thời gian phục hồi nhu động ruột đạt 2 - 4 ngày và thời gian nằm viện trung bình dưới 10 ngày, khẳng định ưu thế toàn diện về chất lượng sống cho người bệnh.
  • Cần tiếp tục chuẩn hóa và chuyển giao quy trình phẫu thuật nội soi cắt đại tràng trái cao tại các bệnh viện đa khoa trên toàn quốc trong giai đoạn 2024 - 2026, đồng thời tăng cường tầm soát nội soi sớm để nâng cao hiệu quả điều trị ung thư tiêu hóa.