Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giáo dục tình dục an toàn Giáo dục tình dục an toàn là một phần của giáo dục giới tính. Nội dung giáo dục không phải là đề ra những cấm đoán khắc nghiệt mà là trang bị cho vị thành niên những hành trang đúng đắn và giá trị của cuộc sống. Dựa trên nền tảng đó vị thành niên sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội.
Giáo dục tình dục an toàn cho vị thành niên với mục tiêu giúp các em có ứng xử đúng trong mối quan hệ nam nữ với hai nội dung chính: giáo dục kỹ năng kiềm chế, từ chối khi bị lôi cuốn vào quan hệ tình dục và giáo dục để biết tự bảo vệ khi không thể kiềm chế (biết cách phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục và biết cách ngăn ngừa mang thai ngoài ý muốn bằng các biện pháp tránh thai). Thực hành tình dục an toàn là sự lựa chọn cần thiết khi các em không thể vượt qua sự kiềm chế quan hệ tình dục[46], [85]. Giáo dục giới tính, hiểu một cách đầy đủ là sự giáo dục về sinh lí cơ thể, vệ sinh thân thể, sức khỏe sinh sản và tình dục. Vì vậy “Giáo dục giới tính toàn diện” là một thuật ngữ rộng miêu tả việc giáo dục về giải phẫu cơ quan sinh dục, quan hệ tình dục, sức khỏe sinh sản, các quan hệ tình cảm, quyền sinh sản và các trách nhiệm, biện pháp tránh thai và các khía cạnh khác của thái độ tình dục.
Giáo dục giới tính có thể được dạy một cách không chính thức như khi nhận được thông tin từ trao đổi, trò chuyện với cha mẹ, bạn bè, người giảng đạo, hay qua truyền thông và cũng có thể được các tác giả truyền tải thông qua tác phẩm về giới tính, chuyên mục báo chí, hay qua các trang web về giáo dục giới tính. Giáo dục giới tính cũng có thể được 6 dạy như một chương trình chính thức trong nhà trường bởi thầy cô giáo hay người làm trong ngành y tế, chăm sóc sức khỏe thực hiện [85]. Có rất nhiều cách tiếp cận giáo dục giới tính, sau đây là một số cách được đề cập nhiều nhất: - Tiếp cận dựa trên sự kiêng khem: nhiều nghiên cứu về vấn đề này tuy nhiên nhiều kết quả còn bàn cãi. - Tiếp cận giáo dục giới tính toàn diện (UNESCO, 2013): chứng cứ cho thấy hiệu quả mang lại là rất lớn, chương trình giáo dục làm giảm rõ rệt nguy cơ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, có thai ngoài ý muốn (Dinnisson 2004; Kirby, Laris & Rolleri, 2005) bao gồm trì hoãn quan hệ tình dục lần đầu, tăng tỉ lệ dùng bao cao su, sử dụng thuốc tránh thai, gia tăng sự hiểu biết về hành vi tình dục an toàn [81], [Aaron Benavot, Tóm tắt báo cáo theo dõi toàn cầu: Giáo dục cho mọi người, UNESCO].
- Tiếp cận dựa vào thầy giáo và trường học: một số nghiên cứu cho thấy cách tiếp cận này cũng mang lại hiệu quả làm giảm nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, mang thai ngoài ý muốn (Mckay & Bissel, 2010), tuy nhiên có bằng chứng mạnh rằng chương trình giáo dục này không đủ để thúc đẩy sự gia tang hoạt động tình dục hay hành vi nguy cơ tình dục (Kirby, Obasi, Laris 2006; Rhoades, Stanley & fincham 2010; Mickey & Bissell 2010) [81]. - Tiếp cận dựa trên giáo dục đồng đẳng: cách tiếp cận này thường áp dụng trên một quần thể đặc biệt như trường học, cơ quan, nơi làm việc, dựa trên những người huấn luyện đặc biệt. Cách tiếp cận này cũng cho thấy hiệu quả nhất định. Ở Hà Lan, hầu như mọi trường cấp II đều có các bài giảng về giáo dục giới tính, là một phần của môn sinh học.
Truyền thông đã khuyến khích đối 7 thoại công khai và chương trình chăm sóc sức khỏe đảm bảo cách tiếp cận bí mật và không phán xét. Hà Lan là một trong những nước có tỉ lệ mang thai ở vị thành niên thấp nhất thế giới và cách tiếp cận của Hà Lan thường được các nước khác xem như là hình mẫu. Ở Thụy Điển, giáo dục giới tính trở thành chương trình bắt buộc trong giáo dục học đường từ năm 1956. Môn học được bắt đầu từ tuổi lên 7 - 10 và tiếp tục ở những lớp cao hơn, có liên hệ chặt chẽ với những môn như sinh học và lịch sử.
Ở Anh và Xứ Wales, giáo dục giới tính trong trường học không phải là môn bắt buộc do có nhiều bậc cha mẹ e ngại không muốn cho con tham gia. Chương trình nhắm vào việc giảng dạy hệ thống sinh sản, sự phát triển của bào thai và những thay đổi tâm sinh lí của tuổi vị thành niên [85]. Ở Việt Nam, do đặc trưng văn hóa và nhận thức của người dân còn hạn chế nên vấn đề giới tính và tình dục được xem là tế nhị, thường bị lảng tránh, không được đề cập công khai [40]. Tại Mỹ chương trình giáo dục giới tính và sức khỏe tình dục đã đưa vào các trường Trung học phổ thông, kết hợp với việc thành lập phòng y tế học đường ngay tại các trường để kịp thời cung cấp thông tin và các dịch vụ y tế thích hợp cho học sinh.
Hoạt động chính trong những chương trình bao gồm: tiết học tại trường, lớp tập huấn cho giáo viên về lĩnh vực giáo dục giới tính cho tuổi trẻ, buổi hội thảo cho cha mẹ học sinh, tập huấn cho các học sinh trở thành chuyên gia tư vấn cho các bạn cùng giới tính và thực hiện truyền thông đại chúng. Kết quả của các chương trình trên khắp nước Mỹ rất đáng khích lệ: làm gia tăng tỉ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai cho nữ vị thành niên có sinh hoạt tình dục; giảm tỉ lệ mang thai ngoài ý muốn; nâng cao kiến thức về các nguy cơ hoạt động tình dục không bảo vệ; trì hoãn thời điểm quan hệ tình dục lần đầu; tăng kiến thức về sức khỏe sinh sản ở học sinh và cải thiện hơn việc trao đổi thông tin giữa cha mẹ và con cái về những vấn đề nhạy cảm như trinh tiết, giới tính và tình dục [40],[85]. 8 Hầu hết ở các nước đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của truyền hình trong vấn đề giáo dục giới tính. Tại Hoa Kỳ, một nghiên cứu ghi nhận khi chương trình truyền hình “16 and pregnant” được trình chiếu từ tháng 6/2009 đến hết năm 2010 đã được vị thành niên hào hứng đón nhận và tỉ lệ sinh ở trẻ vị thành niên đã giảm 5,7% (chương trình “16 and pregnant” là một chuỗi những phim tài liệu đồng hành với các bà mẹ ở tuổi 16.
Mỗi tập phim đan xen những câu chuyện với vô số thách thức mà các bà mẹ trẻ phải đối mặt như: kết hôn, các mối quan hệ, sự hỗ trợ của gia đình, việc nhận con nuôi, tài chính, tốt nghiệp trung học, bắt đầu bước vào đại học, xin được một công việc, giai đoạn khó khăn khi chuyển ra ngoài và tạo dựng một gia đình của riêng họ) [93]. Tình dục an toàn: Thực hiện tình dục an toàn trở nên phổ biến từ cuối thập niên 1980 vì sự xuất hiện của đại dịch AIDS. Từ đó tình dục an toàn là một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục giới tính [40]. Khái niệm tình dục an toàn được hiểu là sự lựa chọn hành vi tình dục đem lại sự thoải mái, bảo vệ được cho bản thân và cho người khác không bị những hậu quả có hại đến sức khỏe.
Tình dục không an toàn là bị lây nhiễm các bệnh do quan hệ tình dục và mang thai ngoài ý muốn. Tình dục an toàn nhấn mạnh đến trách nhiệm và sự lựa chọn của mỗi cá nhân trong đời sống tình dục, hay nói cách khác tình dục an toàn là hình thức quan hệ có dùng biện pháp ngăn chặn nguy cơ truyền nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV/AIDS. Giảm thiểu khả năng tiếp xúc với chất dịch từ cơ thể bạn tình – tinh dịch do bộ phận sinh dục nam tiết ra, hoặc chất nhầy âm đạo, máu từ nữ giới, nhưng không có khả năng loại trừ nguy cơ lây nhiễm một cách tuyệt đối. Vậy tình dục an toàn bao gồm hàng loạt những hành vi: lối sống lành mạnh, tôn trọng mối quan hệ chung thủy với một bạn tình, sử dụng bao cao su khi có nguy cơ bị lây nhiễm 9 các bệnh lây truyền qua đường tình dục, sử dụng các biện pháp tránh thai đáng tin cậy và an toàn, thực hành tình dục không thô bạo, sử dụng kim, bơm tiêm riêng và đã vô khuẩn, kiểm tra y tế khi nghi ngờ bị nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Tình dục được phân ra thành các mức độ nguy hiểm (không an toàn) khác nhau: - Tình dục không nguy hiểm hoặc mức độ nguy hiểm rất thấp như hôn, vuốt ve, thủ dâm, quan hệ tình dục đường miệng với nam giới dùng bao cao su, với nữ giới đeo màng chắn miệng hoặc miếng chắn bằng nhựa. - Tình dục nguy hiểm mức độ thấp như quan hệ tình dục qua âm đạo hoặc hậu môn, trong đó nam hoặc nữ có sử dụng bao cao su; không dùng bao cao su nhưng cả hai người không nhiễm bệnh và trước đó chưa từng quan hệ tình dục với ai. - Tình dục nguy hiểm nhất như quan hệ trực tiếp qua âm đạo hoặc hậu môn, khi một trong hai người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục. Ngoài ra hành vi tình dục được coi là lành mạnh khi phù hợp với những chuẩn mực văn hóa của xã hội hiện đại, nhấn mạnh đến sự tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không làm thương tổn cho nhau và chia sẻ chân thành.
Nhiều hành vi tình dục không phù hợp với đạo đức, văn hóa truyền thống, có thể an toàn nhưng không lành mạnh, ví dụ quan hệ với gái mại dâm, với trẻ em. Vị thành niên cũng cần nhận thức được việc thực hành tình dục an toàn là khẳng định giá trị của bản thân. Vị thành niên Ở mọi quốc gia vị thành niên và thanh niên là tiềm năng to lớn quyết định vận mệnh, sự thịnh vượng của mỗi quốc gia, dân tộc, chính vì vậy vị thành niên và thanh niên luôn nhận được sự quan tâm hàng đầu của nhà nước và toàn xã hội trong việc chăm sóc, bảo vệ, đặc biệt là giáo dục. Giáo dục ở 10 đây không chỉ dừng lại ở việc giáo dục nhân cách, nhận thức, hành vi hay văn hóa, mà giáo dục về giới tính và tình dục cũng rất được coi trọng.
Vị thành niên là thời kỳ phát triển rất nhanh trong cuộc đời của mỗi con người.