Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khoá trong các trường THPT. Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khoá của các trường THPT thành phố Nam Định. Chương 3: Các biện pháp quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khoá trong các trường THPT thành phố Nam Định. 5 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ TRONG CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Khái niệm về quản lý Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, chính sự phân công hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn. Nói đến hoạt động quản lý, K.Marx đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần có một sự chỉ đạo, điều hoà những hoạt động cá nhân nhằm thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” [30, tr.
Có nhiều phương diện khác nhau trong khi xem xét khái niệm quản lý, tuy nhiên tôi cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [20, tr. - Trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” Harold Koontz lại nhấn mạnh “Môi trường và hiệu quả kinh tế - xã hội” phải là mục tiêu của hoạt động quản lý, ông cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức). Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [29, tr. 6 z Ở nước ta, khoa học quản lý còn khá mới mẻ, chỉ mới phát triển mạnh trong vài mươi năm gần đây.
Tuy nhiên đến nay, khoa học quản lý nói chung, khoa học quản lý giáo dục nói riêng đã khẳng định vai trò và hiệu quả kinh tế - xã hội của nó. Về khái niệm quản lý, cũng đã có không ít tác giả đề cập đến, chỉ xin dẫn một số ý kiến tiêu biểu, có nhấn mạnh đến khách thể quản lý: Trong cuốn “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” cố giáo sư Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là sự tác động của chủ thể những người quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [27, tr. Hai tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc nhấn mạnh quản lý là chức năng đặc biệt của mọi tổ chức: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [21, tr. Như vậy, tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau về quản lý nhưng các tác giả đều thống nhất quan điểm về hoạt động quản lý như sau: Quản lý là sự tác động chuyên biệt, có hƣớng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra của một tổ chức/một hệ thống với hiệu quả cao nhất.
Các chức năng cơ bản của quản lý Hoạt động quản lý có những chức năng đặc biệt, Henri Fayol là người đầu tiên đã phân biệt được các chức năng của quản lý. Xuất phát từ các loại hình “Hoạt động quản lý”, ông đã phân biệt chúng thành năm chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra mà sau này chúng được kết hợp thành bốn chức năng cơ bản là: Kế hoạch hoá (Planning), tổ chức (Organizing), lãnh đạo - chỉ đạo (Leading) và kiểm tra (Controlling). Bốn chức năng cơ bản của quản lý đã được lý luận khái quát hoá gồm: * Kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá trong hoạt động quản lý có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và xác định rõ các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. 7 z * Tổ chức: Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
Nhờ việc tổ chức có hiệu quả người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả. * Lãnh đạo (chỉ đạo): Là quá trình tác động của chủ thể quản lý, sau khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu bộ máy được hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng. Chỉ đạo là quá trình liên kết, tập hợp giữa các thành viên trong tổ chức, động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức.
* Kiểm tra: Kiểm tra không chỉ là khâu thu thập thông tin phản hồi (feedback) trong một hoạt động mà còn chính là một chức năng của quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Mọi kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành điều chỉnh, uốn nắn. Bốn chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, luôn đan xen, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành một chu trình của quản lý. Sơ đồ 1: Các chức năng quản lý KẾ HOẠCH KIỂM TRA THÔNG TIN TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO 8 z Để vận dụng khái niệm quản lý và các chức năng của quản lý vào trong công tác quản lý cơ sở đào tạo của trường THPT, chúng ta còn cần khảo sát các khái niệm cụ thể hơn là quản lý giáo dục và quản lý nhà trường.
* Quản lý giáo dục: Quản lý giáo dục với tư cách là một bộ phận của quản lý xã hội đã xuất hiện và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội. Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số định nghĩa về quản lý giáo dục như sau: Theo tác giả M. Kônđacốp thì: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính. nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [31, tr.
Ở Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [27, tr. Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Việc quản lý nhà trường phổ thông (có thể mở rộng ra là việc quản lý giáo dục nói chung) là quản lý hoạt động dạy - học, tức là làm sao đưa hoạt động từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [23, tr. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì quản lý giáo dục không chỉ ở hoạt động dạy - học mà còn rộng hơn nhiều: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [18, tr. 9 z Từ các ý kiến trên, chúng tôi có thể khái quát được nội hàm cơ bản của quản lý giáo dục: Quản lý giáo dục là một hoạt động chuyên biệt của chủ thể quản lý, bao gồm một tập hợp các tác động có chủ đích thực hiện tốt các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đảm bảo sự vận hành tối ƣu của một hệ thống/tổ chức/cơ quan giáo dục - đào tạo, nhờ đó mà đạt đƣợc các mục tiêu phát triển giáo dục - đào tạo với chất lƣợng, hiệu quả cao hơn.
Quản lý giáo dục gồm nhiều cấp độ: Quản lý hệ thống giáo dục quốc dân, quản lý nhà trường, quản lý các hoạt động chuyên biệt. Quản lý giáo dục không chỉ quản lý hoạt động dạy - học (hoạt động cơ bản của giáo dục, nhà trường) mà còn quản lý lực lượng xã hội khác, các yếu tố, điều kiện khác nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục - dạy học. * Quản lý nhà trường: Luật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục. Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân” [11, chương 3].
Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính Nhà nước - xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục từ Trung ương đến địa phương. Vì vậy, nhà trường nói chung vừa là khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý, vừa là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội. Do đó, quản lý nhà trường nhất thiết phải vừa có tính chất Nhà nước, vừa có tính chất xã hội. Hoạt động đặc trưng của trường học là hoạt động dạy học.
Đó là hoạt động có tổ chức, có nội dung, có phương pháp, có mục đích, có sự lãnh đạo của nhà giáo dục đồng thời có sự hoạt động tích cực, tự giác của người học trong tất cả các loại hình hoạt động học tập.