Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Những khái niệm cơ bản 1. Trường trung học cơ sở và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học cơ sở 1. Trường trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân Trung học cơ sở (THCS) là một bậc trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam hiện nay, trên Tiểu học và dưới Trung học phổ thông.
Trung học cơ sở kéo dài 4 năm (từ lớp 6 đến lớp 9). Thông thường, độ tuổi học sinh ở trường THCS là từ 11 đến 15. Theo quy định của Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học [19] 1. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học cơ sở Học sinh THCS bao gồm học sinh từ lớp 6 đến lớp 9, từ 11 đến 15,16 tuổi.
Đây là độ tuổi vị thành niên, độ tuổi đặc biệt quan trọng trong thời kỳ phát triển của các em; là một sự chuyển đổi từ thời thơ ấu sang tuổi thiếu niên và được và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”.[39] Đây là một thời kỳ có bước phát triển cả về thể chất và tinh thần, các em đang bị tách khỏi thời thơ ấu để tiến lên giai đoạn phát triển cao hơn (người lớn) tạo ra nội dung cơ bản khác trong tất cả các khía cạnh của sự phát triển: thể chất, trí tuệ, cảm xúc, đạo đức. của thời kỳ này. Ở độ tuổi của trẻ em học sinh trung học cơ sở tồn tại song song "cả trẻ con và người lớn", điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, điều kiện sống và sinh hoạt. Hành động cụ thể.
Ngoài ra, ở cùng độ tuổi nhưng do điều kiện sống, sinh hoạt, sinh hoạt khác nhau, họ có mức độ phát triển khác nhau trong quá trình trưởng thành. Nhiều phụ huynh có xu hướng yêu cầu các con chỉ tập trung vào việc học, không đòi hỏi các nghĩa vụ khác, không cho con tham gia vào các hoạt động, của vụ gia đình, trường học và xã hội nên có nhiều yếu tố kìm hãm sự phát triển để trở thành người lớn của các con. Ngoài các yếu tố ức chế, các con còn được tác động của nhiều yếu tố tích cực, thúc đẩy sự phát triển thành người lớn đó là sự gia tăng về thể chất, học vấn. Nhiều phụ huynh bận rộn, gia đình gặp khó khăn trong cuộc sống đòi hỏi họ phải làm việc chăm chỉ để sống, điều đó khiến con của họ sớm độc lập hơn, tự chủ hơn, tự khẳng định hơn.
Quá trình phát triển ở độ tuổi học sinh trung học cơ sở có thể xảy ra theo các hướng sau: 12 n Một số em, kiến thức sách giúp chúng mở rộng kiến thức, nhưng có nhiều vấn đề khác trong cuộc sống thực, các em bị hạn chế, thậm chí rất ít, chưa được định hình. Có những học sinh ít quan tâm đến việc học ở trường, nhưng chỉ quan tâm đến các vấn đề cuộc sống, sở thích cá nhân, làm thế nào để phù hợp với "thời trang", coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với những người lớn tuổi hơn để thảo luận, trao đổi với người lớn về các vấn đề cuộc sống thể hiện mình là người trưởng thành, Ở một số học sinh khác, chúng không thể hiện tính cách người lớn, nhưng thực tế chúng đang cố gắng rèn luyện bản thân để có những phẩm chất của người lớn như: dũng cảm, tự lập, độc lập, tự tin,. Độ tuổi của học sinh trung học cơ sở là tuổi giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển của nhân cách. Đó là giai đoạn từng bước hình thành quan điểm xã hội và đạo đức làm cơ sở cho sự phát triển hơn nữa trong thời kỳ phát triển.
Với bản chất tự nhiên, sinh lý của nhóm tuổi học sinh trung học cơ sở, được đặt trong điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội với các tác động đa chiều, cả tích cực và tiêu cực đang đặt ra. đối với bạn, bạn phải có kỹ năng sống cần thiết; Trước yêu cầu của xã hội các trường học, các nhà quản lý phải tổ chức tốt việc dạy kỹ năng sống cho học sinh. Phải chuẩn bị cho học sinh các kỹ năng cần thiết nhất để các em có thể làm chủ bản thân trong xã hội rất biến động ngày nay. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở 1.
Khái niệm kỹ năng sống Kỹ năng sống (life skills) là cụm tự được sử dựng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổi trong lĩnh vực hoạt động. “Kỹ năng” gợi lên khả năng thao tác, thực hiện chính xác một hoạt động nào đó. Hiện nay, xung quanh khái niệm KNS, còn có nhiều định nghĩa khác nhau. Từ năm 1996, khái niệm KNS xuất hiện ở nước ta trong một số chương trình GD của UNICEF tại Việt Nam, với “chương trình GD KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AISD cho thanh thiếu niên trong và ngoài trường”.
Từ đó đến nay, khái niệm KNS được đề cập trong nhiều chương trình, tài liệu của ngành GD và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) “Kĩ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và 13 n thách thức của cuộc sống hàng ngày” [38]. WHO dựa trên lý thuyết học tập xã hội của Bandura (1977), tức là nhấn mạnh sự học tập qua quá trình trải nghiệm của con người, qua sự tích lũy kinh nghiệm sống, cấu trúc kinh nghiệm và chủ động nắm lấy kinh nghiệm, đã định nghĩa: “KNS là những năng lực giao tiếp đáp ứng những hành vi tích cực của cá nhân có thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày [25]. Cụ thể hơn thì KNS là một nhóm các nhận thức, khả năng cá nhân có thể giúp con người tạo ra những quyết định đúng đắn.
giải quyết vấn đề, suy nghĩ một cách sáng tạo và có phê phán, giao tiếp hiệu quả, xây dựng các mối quan hệ làmh mạnh, biết thông cảm với người khác, biết sắp xếp cuộc sống của mình theo cách khỏe mạnh và hiệu quả. Theo quan niệm của WHO [34] các KNS được phân loại thành 3 nhóm: Nhóm các KN nhận thức gồm KN tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề. Nhóm các KN xã hội gồm KN giao tiếp, KN cảm thông, KN hợp tác, KN làm việc nhóm,. Nhóm các KN cảm xúc gồm KN ứng phó với cảm xúc, KN ứng phó với căng thẳng, tự giám sát và điều chỉnh cảm xúc.
UNICEF quan niệm: “KNS là những KN tâm lý xã hội có liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống” [33]. GD dựa trên KNS cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và hành vi. Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì và làm như thế nào). Quan niệm của UNICEF [33] chỉ rõ KNS đưọc phân thành 3 nhóm: Nhóm KN xã hội gồm: KN giao tiếp (Truyền thông bằng lời và không bằng lời; lắng nghe tích cực; Biểu lộ cảm xúc, phản hồi; KN quan hệ, tương tác liên nhân cách), KN đàm phán, thương lượng, từ chối (Thương lượng và xử lý mâu thuẫn; KN tự khẳng định; KN từ chối), KN quan hệ xã hội, KN làm việc nhóm, hợp tác, KN thấu cảm, KN động viên (KN ảnh huởng và thuyết phục; KN tạo mạng lưới và động vìên).
14 n Nhóm KN phát triển nhận thức gồm: KN ra quyết định và giải quyết vấn đề, KN thu thập thông tin (Đánh giá hệ quả tương lai của những hành động hiện tại với bản thân và người khác; Xác định các giải pháp khác nhau cho vấn đề; KN phân tích ảnh hưởng của các giá trị, thái độ, động cơ của bản thân và người khác), KN suy nghĩ có phán đoán, KN tư duy sáng tạo. Nhóm KN đối phó với cảm xúc và làm chủ bản thân gồm: KN quản lý căng thẳng (Quản lý thời gian; Tư duy tích cực; Kỹ thuật cơ bản) KN quản lý cảm xúc (Làm chủ sự tức giận; Xử lý những đau buồn và lo âu; Đối phó với những mất mát, chấn thưong), KN tự điều chỉnh (Ý thức về giá trị bàn thân, KN xây dựng sự tự tin; Ý thức về bản thân, bao gồm ý thức về quyền, ảnh hưởng, giá trị, thái độ, mặt mạnh, mặt yếu của bản thân). Có sự khác nhau về quan niệm KNS, nhưng các tổ chức UNESCO, WHO và UNICEF đều đã thống nhất 10 KNS cơ bản, được xem như cần thiết nhất cho tất cả mọi người, trong đó có HS trường THCS: KN ra quyết định; KN giải quyết vấn đề; KN tư duy sáng tạo; KN tư duy phê phán; KN truyền thông có hiệu quả; KN giao tiếp giữa người và người; KN tự nhận thức bàn năng; Khả năng thấu cảm; KN ứng phó với cảm xúc; KN ứng phó với stress. Khái niệm KNS chỉ thật sự được hiểu thấu đáo sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và KNS” do UNESSCO tài trợ tổ chức từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội.
KNS được tiếp cận trên bốn trụ cột của giáo dục bao gồm: Học để biết (Learning to know), Học để làm (Learning to do), Học để tự khẳng định (Learning to be) và Học để cùng chung sống (Learning to live together). Theo quan niệm của UNESCO [31], KNS gồm: Các KN cơ bản: KN đọc, viết, tính toán cho các chức năng hàng ngày. Những KN này không mang đặc trưng tâm lý mà là nền tảng cho những năng lực thực hiện các chức năng của cuộc sống. Các KN chung: (KN nhận thức, KN cảm xúc, KN xã hội) như các KN ra quyết định, KN tư duy phê phán, KN làm việc nhóm, KN giao tiếp.