MỞ ĐẦU Giấc ngủ là nhu cầu sinh lý bình thường của con người, có tác động tới phục hồi các quá trình sinh lý và tâm thần. Mất ngủ là vấn đề phổ biến trong cuộc sống hiện đại ngày nay, là trạng thái không thoải mái về số lượng và hoặc chất lượng của giấc ngủ, làm ảnh hưởng tới sức khoẻ và khả năng làm việc của bệnh nhân. Trên thế giới, tỷ lệ người trưởng thành mất ngủ khá cao, tuy nhiên theo “Quỹ tài trợ về bệnh mất ngủ quốc gia Mỹ” chỉ có dưới 5% người mất ngủ đến khám chuyên khoa. Tại Việt Nam chưa có thống kê đầy đủ về vấn đề này, tuy nhiên theo giáo sư Vũ Anh Nhị tỷ lệ bệnh nhân đến khám vì mất ngủ chiếm 20 đến 30% bệnh nhân đến khám tại phòng khám thần kinh.
Mất ngủ lâu ngày sẽ dẫn đến mệt mỏi, uể oải, dễ cáu gắt, thiếu tập trung, giảm trí nhớ, giảm năng suất làm việc và làm gia tăng nguy mắc các bệnh mãn tính. Theo báo cáo được công bố tại Mỹ: tổng chi phí trực tiếp hàng năm do hậu quả mà mất ngủ gây ra cho nền kinh tế Mỹ khoảng 90 tỷ USD, hơn 90% các chi phí trực tiếp là do việc vắng mặt, giảm năng suất lao động và người bệnh tốn 411 triệu USD mua thuốc ngủ theo đơn của bác sĩ[2], [8], [16], [19], [41], [58], [77]. Theo Y học cổ truyền, có nhiều nguyên nhân và thể bệnh mất ngủ nhưng quy chung lại có liên quan nhiều đến các tạng tâm, tỳ, can, thận và âm huyết không đủ vì dương thịnh, âm suy, âm dương không giao nhau[22]. Hiện nay các phương pháp điều trị không dùng thuốc nhằm hạn chế tác dụng phụ được bệnh nhân ưa chuộng, trong đó có các phương pháp như châm cứu, thuốc, xoa bóp bấm huyệt.
Cùng với phương pháp dùng thuốc thì châm cứu là một liệu pháp hữu hiệu để điều trị mất ngủ, bao gồm các phương pháp điện châm, nhĩ châm, thủy châm v.v… Theo kinh điển, trên các thể mất ngủ đều điều trị châm cứu trên các huyệt Thần môn, Tam âm giao, Nội quan kèm với các huyệt khác phù hợp với. Nhóm huyệt tam âm giao, nội quan, thần môn của phương pháp điện châm được sử dụng rất nhiều trên lâm sàng, đã được tác giả Đoàn Văn Minh nghiên cứu trên bệnh nhân mất ngủ không thực tổn, cho thấy kết quả khả quan khi so sánh trước và sau điều trị thời lượng giấc ngủ và hiệu quả giấc ngủ tăng lên rõ rệt[14]. Nhĩ châm là một phương pháp liên quan đến kích thích những điểm (huyệt) ở trong tai để ngăn ngừa, điều trị bệnh và giảm đau. Phương pháp nhĩ châm cũng được sử dụng nhiều trong điều trị mất ngủ, và các huyệt Thần môn, Vùng dưới vỏ, Tâm, Thần kinh thực vật thường được phối với các huyệt khác dùng trong nhĩ châm để điều trị mất ngủ ở các thể [4], [17].
Trong đó huyệt Tâm và Thần môn là hai huyệt xuất hiện hầu hết ở các nghiên cứu. Nghiên cứu của Wang (2015) chứng minh kết hợp thêm nhĩ châm huyệt Thần kinh thực vật và Dưới vỏ giúp cải thiện hiệu quả giấc ngủ 97,1% [74], [76]. Bên cạnh đó, huyệt dưới vỏ được đưa vào sách châm cứu học 2 với tác dụng điều trị mất ngủ, mộng mị, suy nhược thần kinh, đau[18]. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào sử dụng nhĩ châm bằng kim gài các huyệt Tâm, Thần môn, Thần kinh thực vật và vùng dưới vỏ để điều trị mất ngủ không thực tổn.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu “Hiệu quả điều trị của nhĩ châm trên các huyệt Thần môn, Tâm, Thần kinh thực vật và vùng dưới vỏ đối với bệnh mất ngủ không thực tổn”. Câu Hỏi Nghiên Cứu Hiệu quả điều trị nhĩ châm trên các huyệt Thần môn, Tâm, Thần kinh thực vật và Vùng dưới vỏ cải thiện chất lượng giấc ngủ như thế nào?. 3 Mục Tiêu Nghiên Cứu Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiệu quả điều trị mất ngủ của nhĩ châm trên các huyệt Thần môn, Tâm, Thần kinh thực vật và Vùng dưới vỏ. Mục tiêu cụ thể: 1.
Đánh giá tác dụng làm tăng thời gian ngủ của nhĩ châm huyệt Thần môn, Tâm, Thần kinh thực vật và Vùng dưới vỏ trên bệnh nhân mất ngủ không thực tổn. Đánh giá tác dụng làm giảm thời gian đi vào giấc ngủ của nhĩ châm huyệt Thần môn, Tâm, Thần kinh thực vật và Vùng dưới vỏ trên bệnh nhân mất ngủ không thực tổn. Đánh giá tác dụng cải thiện chất lượng giấc ngủ của nhĩ châm huyệt Thần môn, Tâm, Thần kinh thực vật và Vùng dưới vỏ thông qua thang điểm PSQI trên bệnh nhân mất ngủ không thực tổn. Khảo sát những tác dụng không mong muốn (nếu có) khi nhĩ châm huyệt Thần môn, Tâm, Thần kinh thực vật và Vùng dưới vỏ trên bệnh nhân mất ngủ không thực tổn.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về mất ngủ theo yhhđ Giấc ngủ là một phần quan trọng trong thói quen hàng ngày của chúng ta, chùng ta dành khoảng một phần ba thời gian cuộc đời để ngủ. Giấc ngủ chất lượng cũng quan trọng đối với sức khỏe tốt như chế độ dinh dưỡng hợp lý và hoạt động thể chất. Giấc ngủ quan trọng đối với nhiều chức năng của não, và ảnh hưởng đến hầu hết mọi loại mô và hệ thống trong cơ thể.
Thiếu ngủ mãn tính có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm như tăng huyết áp, tiểu đường, bệnh tim mạch và béo phì[45], [64]. Khái niệm Ngủ là một trạng thái vô thức, trong đó não bộ tương đối phản ứng với các kích thích bên trong hơn là bên ngoài. Chu kỳ ngủ có thể đoán trước được và có thể đảo ngược tình trạng không phản ứng bên ngoài thành trạng thái hoạt động một cách nhanh chóng. Khi đi vào giấc ngủ, bộ não dần dần trở nên kém phản ứng hơn với các kích thích từ các giác quan đồng thời sự điều hòa nội môi trong chu trình là những đặc điểm khác giúp phân biệt giấc ngủ với các trạng thái bất tỉnh khác[45].
Thời lượng Người lớn khỏe mạnh cần ngủ từ 7 đến 9 giờ mỗi đêm. Trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và thanh thiếu niên cần ngủ nhiều hơn để kích thích sự tăng trưởng và phát triển của chúng [5]. Những người trên 65 tuổi cũng nên ngủ từ 7 đến 8 giờ mỗi đêm. Trong mỗi nhóm, các hướng dẫn đưa ra khoảng thời gian ngủ hàng đêm là được khuyến nghị cho những người khỏe mạnh.
Trong một số trường hợp, ngủ nhiều hơn hoặc ít hơn một giờ so với phạm vi chung có thể. 5 được chấp nhận dựa trên hoàn cảnh của mỗi người, cũng như chất lượng sống trong và ngoài giấc ngủ của mỗi cá nhân[43]. Theo các hiệp hội nghiên cứu về Giấc ngủ của Mỹ cũng như Canada đều thống nhất về thời lượng ngủ tương đối tốt cho nhóm tuổi người lớn như sau:[33], [64]. Người lớn nên ngủ thường xuyên từ 7 giờ trở lên mỗi đêm để tăng cường sức khỏe tối ưu.
Ngủ ít hơn 7 giờ mỗi đêm thường xuyên có liên quan đến các kết quả xấu về sức khỏe, bao gồm tăng cân và béo phì, tiểu đường, tăng huyết áp, bệnh tim và đột quỵ, trầm cảm và tăng nguy cơ tử vong. Ngủ ít hơn 7 giờ mỗi đêm cũng liên quan đến suy giảm chức năng miễn dịch, tăng đau, suy giảm hiệu suất, tăng sai sót và nguy cơ tai nạn cao hơn. Ngủ nhiều hơn 9 giờ mỗi đêm thường xuyên có thể thích hợp cho thanh niên, những người đang hồi phục và những người bị bệnh. Đối với những người khác, không chắc chắn liệu ngủ hơn 9 giờ mỗi đêm có liên quan đến nguy cơ sức khỏe hay không.
Những người lo lắng rằng họ đang ngủ quá ít hoặc quá nhiều nên tham khảo ý kiến của nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ. Chức năng giấc ngủ Chức năng “Làm sạch các sản phẩm chuyển hóa dư thừa”: Trong quá trình ngủ, các sản phẩm chuyển hóa của cơ thể như immunoglobulin, các mảnh vỡ protein, hoặc các protein nguyên vẹn như phân tử amyloid beta, có thể được đào thải từ khoang dịch kẽ thông qua hệ thống làm sạch chất thải cho hệ thần kinh trung ương (glymphatic system) với các kênh giống như bạch huyết là aquaporin–4 (AQP4), các kênh này chính là cầu nối cho phép liên thông khoang cận mạch với mạng lưới các tế bào hình sao, nhờ đó. 6 tạo hiện tượng đối lưu của dòng chảy CSF qua nhu mô não (khi CSF đã thoát khỏi tế bào hình sao) giúp thải trừ các chất thừa qua dịch não tủy[61], [80]. Chức năng “Phục hồi chức năng sinh học”: Sự chữa lành vết thương được cho là chịu ảnh hưởng bởi giấc ngủ.
Tình trạng thiếu ngủ sẽ dẫn đến các thay đổi của hệ miễn dịch. Quá trình ngủ không chỉ đơn giản chỉ là một đáp ứng sinh lý bình thường, người ta đã khám phá ra rằng là nó làm tăng số lượng bạch cầu tuần hành trong máu. Trong trạng thái ngủ, tốc độ biến dưỡng giảm hẳn và các ROS độc hại bị lấy đi, như vậy giúp khôi phục trạng thái sinh lý của cơ thể trở về bình thường[40], [63], [71], [84]. Chức năng “Nội tiết”: Chu kỳ ngủ - thức đã ảnh hưởng lên sự giải phóng của nhiều nội tiết tố.
Giai đoạn chuyển hóa trong quá trình ngủ là đồng hóa; và những hormone đồng hóa chẳng hạn như là hormone tăng trưởng (GH) được phóng thích mạnh mẽ trong lúc ngủ. Trong khi đó prolactin được giải phóng sớm ngay sau giai đoạn ngủ nông, và tăng dần xuyên suốt cả đêm. Hormone cortisol và TSH cũng quy theo nhịp sinh học, trong giấc ngủ REM hay lúc thức thì đều làm tăng cortisol, TSH sẽ được tăng tiết trong giấc ngủ ban đêm, suy giảm khi thời lượng của giấc ngủ giảm, tuy nhiên lại tăng trong mất ngủ thể cấp[49], [51]. Chức năng “Xử lý thông tin và trí nhớ”: giấc ngủ có vai trò tăng cường khả năng gọi ra các thông tin đã được tiếp nhận và những kinh nghiệm quá khứ, điều này tùy thuộc vào giai đoạn của giấc ngủ và loại hình trí nhớ.
Kết quả đã chỉ ra rằng là trí nhớ quy nạp cải thiện hơn nhiều trong giấc ngủ giai đoạn đầu, trong khi trí nhớ thường trực lại được củng cố trong giai đoạn sau (đa số là giấc ngủ REM). Đối với trí nhớ quy nạp, người ta quan sát được trong giai đoạn đầu giấc ngủ N1, ở cấu tạo hải mã có sự tuần hoàn lặp đi lặp lại các xung động thần kinh ở những nơron đã mã hóa từ trước đó, chính sự. 7 dội đi dội lại đều đặn của các tín hiệu thần kinh đã củng cố và thành lập trí nhớ dài hạn[30], [66].