Mở đầu là nhà Ngô, tiếp theo là nhà Đinh, Lê, Lý. Dưới các triều đại này, chưa tìm thấy tài liệu nào ghi chép về hệ thống tổ chức y tế. Đến nhà Lý, nước ta đã có nhiều thầy thuốc chuyên nghiệp, triều đình đã có Ty thái y, trong đó có các ngự y chuyên chăm sóc sức khỏe cho vua. Năm 1136, vua Lý GIÁO TRÌNH ĐÔNG DƯỢC Trang 4 Trường Trung cấp Tây Sài Gòn Thân Tông phát bệnh điên cuồng, mình mọc đầy lông dài, miệng luôn gào thét, đã được Minh Không thiền sư điều trị khỏi bằng cách cho tắm nước Bồ hòn.
Y học cổ truyền dưới triều nhà Trần (1225 - 1399) Thời kỳ này, Nho học phát triển mạnh. Về y học, có Ty thái y sau nâng lên thành Viện thái y với chức năng chăm sóc sức khỏe cho vua quan trong triều đình, đồng thời có nhiệm vụ quản lý y tế trong cả nước. Khi có bệnh dịch, triều đình đã có chủ trương phát thuốc cho dân để chữa bệnh. Năm 1362, vua Trần Dụ Tông đã cho cấp phát tiền gạo và thuốc viên Hồng ngọc sương hoàn để chống dịch cho nhân dân ở hạt Tam Đới (Phú Thọ) và phủ Thiên Tường (Hà Nam Ninh).
Từ năm 1201, nhà Trần đã mở các khóa thi để tuyển lương y vào làm việc trong Viện thái y. Viện thái y đã chỉ đạo việc đào tạo thầy thuốc và có kế hoạch thu trữ, cấp phát dược liệu, phục vụ công tác trị bệnh cho vua quan và quân đội. Viện thái y đã thường xuyên tổ chức đi hái thuốc mọc hoang ở núi An Tử, Đông Triều. Lúc này, Phạm Ngũ Lão phụ trách việc trồng thuốc ở Phả Lại (vườn thuốc Vạn An và Dược Sơn xã Hưng Đạo, huyện Chi Lih ngày nay) để tự túc thuốc men, không phụ thuộc vào thuốc Trung Quốc (vì lúc này đang có sự bất hòa với phong kiến Nguyên Mông).
Như vậy, ông cha ta đã tiến hành việc trồng thuốc và thu hái thuốc mọc hoang từ khá sớm. Trong thời này, Tuệ Tĩnh, một nhà sư, cũng là một lương y, đã gây dựng phong trào trồng thuốc ở các đền chùa, vườn nhà để phục vụ việc trị bệnh cho dân. Cũng từ đó, xuất hiện ý thức trồng cây thuốc trong cộng đồng người Việt, có những làng chuyên trồng thuốc như Đại Yên (Ba Đình - Hà Nội), Nghĩa Trai (Văn Lâm - Hải Hưng) mà ngày nay vẫn còn truyền thống. Song song với việc dùng thuốc để trị bệnh, phương pháp châm cứu cũng được tin dùng hơn trước.
Trâu Canh là con Trâu Tôn, thầy thuốc của quân Nguyên Mông bị bắt và xin ở lại Việt Nam làm nghề thuốc đã cứu sống Trần Hạo (Trần Dụ Tông), khi đó mới 4 tuổi, khỏi bị chết đuối. Dưới thời nhà Trần, đã xuất hiện một số thầy thuốc tiêu biểu của Việt Nam như: - Phạm Công Bân (Cẩm Bình - Hải Dương) giữ chức Thái y lệnh từ 1278 - 1314, ngoài việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, ông còn bỏ tiền riêng để mua sắm thuốc men, dựng nhà nuôi dưỡng bệnh nhân nghèo bị tàn tật, hoặc trẻ mồ côi cơ nhỡ. - Tuệ Tĩnh còn gọi là Nguyễn Bá Tĩnh đã đề xuất tư tưởng “Nam dược trị Nam nhân - thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt”, dùng thang thuốc tại chỗ để chữa bệnh kịp thời. Ông đã biên soạn cuốn Nam dược thần hiệu với 499 vị thuốc và các phương thuốc nam dùng điều trị 184 loại bệnh.
Quyển sách của ông đã được Hòa thượng bản lai biên tập, bổ sung và in khắc lại năm 1761. Quyển Nam được chỉnh bản (có tựa của Chúa Trịnh-1717) gồm 2 quyển Nam dược quốc ngũ phủ gồm 590 vị thuốc và Trực giải chỉ nam dược tính phủ gồm 220 vị. Sau này đổi tên là Hồng nghĩa giác tư y thư. GIÁO TRÌNH ĐÔNG DƯỢC Trang 5 Trường Trung cấp Tây Sài Gòn Một số tác phẩm của Tuệ Tĩnh đã nổi bật lên đạo đức và đường hướng y học của ông.
Trong thời gian này, nhiều vị thuốc được phát hiện như Hoàng nàn, Hoàng đẳng, Hồng lực, Độc lực, Tân lang, Đơn lá đỏ, Vỏ lựu… Đồng thời, Tuệ Tĩnh đã bước đầu chia bệnh thành 10 khoa. Y học thời nhà Hồ và thời thuộc Minh (1400 - 1427) Triều đình nhà Hồ có chủ trương chữa bệnh rộng rãi cho nhân dân, đã lập Quảng tế tự, tổ chức các cơ sở chữa bệnh ở địa phương. Trong thời kỳ này, có Nguyễn Đại Năng giữ chức tá nhị ở Viện thái y, ông đã biên soạn tài liệu Châm cứu tiệp liệu diễn ca, phát hiện nhiều huyệt mới để chữa các bệnh hiểm nghèo (sốt rét, động kinh). Ngoài ra, Vũ Toàn Trai (Hải Hưng), Úy Công Tuân (Tiên Sơn, Hà Bắc) cũng đã biên soạn được một số tác phẩm châm cứu giá trị.
Y học dưới Triều Lê (1428 - 1788) Dưới triều đại nhà Lê, Lê Nhân Tông rất chú trọng phát triển nền y học cổ truyền, lúc này đã có quan hệ trao đổi sản vật lấy thuốc Bắc của Trung Quốc. Nhà Lê rất quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Luật Hồng Đức đã đưa ra quy chế hành nghề y. Trong đó, có các điều luật trừng phạt những thầy thuốc vụ lợi, có tính chữa bệnh dây dưa hoặc chữa khoản; có quy chế vệ sinh xã hội; nghiêm trị những người chế tạo và bán thuốc độc.
Cuốn sách “Bảo sinh diên thọ toàn yếu” hướng dẫn giữ vệ sinh, luyện tập vận động thân thể để tăng tuổi thọ. Về tổ chức y tế, ở triều đình có Viện thái y, đứng đầu là Đại sứ có các chánh phó ngự y giúp việc chữa bệnh cho vua, chánh phó lương y để chữa bệnh cho hoàng gia và quan lại. Ở sáu viện có các kho thuốc do các Viên tư dược và Trường dược phụ trách việc phân phối cấp phát thuốc điều trị. Trong Viện thái y có khoa huấn luyện y học.
Tại các tỉnh có Tể sinh đường, có các khán chắn để khám bệnh và chức sứ trông coi kho thuốc và cấp phát thuốc, các chánh phó lương y chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho tướng sĩ quân đội. Trong thời kỳ này có các lương y nổi tiếng như: - Lương y Nguyễn Trực nghiên cứu điều trị bệnh trẻ em bằng xoa bóp, bấm huyệt, đốt bấc, sở trường điều trị bệnh sởi, đậu ma. - Lương y Chu Doãn Văn (Thanh Trì) với các y án trị bệnh ngoại cảm, đã biên soạn 4 thiên lý luận cơ bản rất súc tích. - Lương y Hoàng Đồn Hòa (Thanh Oai-Hà Tây) đã thành công trong việc dùng thuốc hoàn chế sẵn và dược liệu trồng tại chỗ để chữa bệnh, đặc biệt là bệnh sốt rét và thổ tả… Ngoài ra, còn có nhiều các danh y khác như: Nguyễn Đạo An, Lê Đức Vong, Đào Công Chính, Tạ Chất Phác, Trần Hải Yến… đã góp nhiều công lao cho nền y học cổ truyền.
Đặc biệt trong thời kỳ này, danh y Lê Hữu Trác (1720-1791) đã nổi bật lên như một ngôi sao sáng trong nền y học cổ truyền Việt Nam, thường gọi là Hải Thượng Lãn Ông (Hải Hưng). Ông đã để lại một kho kinh nghiệm quý báu, đúc kết qua nhiều GIÁO TRÌNH ĐÔNG DƯỢC Trang 6 Trường Trung cấp Tây Sài Gòn thế hệ các nhất y học cổ truyền Việt Nam và Trung Quốc với bộ sách khổng lồ Lãn Ông Tâm Lĩnh, sau đổi tên thành Hải Thượng Y Tôn Tâm Lĩnh (gồm 28 tập, 66 quyển) để phổ cập đào tạo thầy thuốc và lưu truyền hậu thế. Để ghi nhớ công ơn ông, ngành y tế Việt Nam đã lấy ngày mất của ông 15-1 (âm lịch) làm ngày truyền thống của những người làm công tác y học cổ truyền Việt Nam. Y học cổ truyền dưới triều Tây Sơn (1789 - 1802) Kết quả của sự chia cắt đất nước lâu dài (Trịnh Nguyễn phân tranh) làm cho nhân dân vô cùng khốn khổ, bệnh tật phát triển.
Thái y viện đã tăng cường việc chống dịch ở các địa phương. Chính quyền lúc đó đã thành lập Nam dược cục, mời các lão y về nghiên cứu thuốc Nam. Đứng đầu là lương y Nguyễn Hoành (Thanh Hóa), ông đã biên soạn 500 vị thuốc từ cây cỏ có sẵn tại địa phương và 130 vị thuốc lấy từ các loại chim, cá, kim, thạch trong nước. Y học cổ truyền dưới triều Nguyễn (1802 - 1883) Nhà Nguyễn đã lập các Tế sinh đường ở các tỉnh, sau đổi thành Ty lương y.
Những người tàn tật nghèo khổ được nuôi dưỡng ở Dưỡng tế sự của các tỉnh. Viện thái y có quy định cụ thể các chức quan phụ trách việc bào chế, kiểm tra, đóng gói, sắc thuốc… Năm 1856, vua Tự Đức cho mở trường dạy thuốc ở Huế, Nhà Nguyễn đã đặt ra những quy chế riêng về nghề y, trừng phạt các thầy thuốc trị bệnh sai, gây tử vong, hoặc cố tình gây nguy hiểm cho người bệnh. Luật Gia Long còn quy định các điều khoản để trừng phạt người điều trị bệnh trái phép, gây chết người. Y học cổ truyền dưới thời Pháp thuộc (1884 - 1945) Sau khi chiếm được nước ta, người Pháp đã tiến hành tổ chức hệ thống y tế nước ta theo cách tây y.
Thành lập các nhà thương ở thành phố, bệnh xá ở các tỉnh lỵ. Lúc đầu, các nhà thương, bệnh xá này đều do thầy thuốc nhà binh phụ trách. Từ năm 1905, các bệnh viện, bệnh xá do giám đốc y tế của 3 kỳ lãnh đạo dưới quyền của thanh tra y tế Đông Dương, Các Ty lương y ở Nam triều bị giải tán. Y hoc cổ truyền không còn nằm trong hệ thống y tế nhà nước.
Tuy vậy, những người dân nghèo ở nông thôn và miền núi vẫn tiếp tục chữa bệnh bằng các phương pháp y học cổ truyền. Y học cổ truyền bị thực dân Pháp chèn ép đè nén. Pháp hạn chế số người làm nghề y học cổ truyền, chỉ cấp thẻ môn bài cho không quá 500 người hành nghề y học cổ truyền ở Nam bộ. Mặc dù vậy, y học cổ truyền vẫn cố gắng tìm cách hoạt động để giữ gìn vốn quý của cha ông.
Hội y học Trung kỳ được thành lập ngày 14/09/1436, đã phát hành 46 sổ tạp chí y học. Y học cổ truyền Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay Sau khi giành được chính quyền, Bác Hồ và Đảng ta đã rất quan tâm đến nền y học cổ truyền. Trong thư gửi cán bộ y tế 27/02/1955. Bác đã viết “ Y học phải dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại chúng.
Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc Bắc. Để mở rộng phạm vi y GIÁO TRÌNH ĐÔNG DƯỢC Trang 7 Trường Trung cấp Tây Sài Gòn học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc Đông với thuốc Tây”.