Luận văn thạc sĩ y học đánh giá tác dụng điều trị liệt vii ngoại biên do lạnh bằng phương pháp điện châm kết hợp bài thuốc tk7 hv

Luận văn thạc sĩ y tế nghiên cứu y học đánh giá tác dụng điều trị liệt vii ngoại biên do lạnh bằng phương pháp điện châm kết hợp bài, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

100
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Điều Trị Liệt VII Ngoại Biên Do Lạnh

Liệt VII ngoại biên, hay còn gọi là liệt mặt ngoại biên, là tình trạng mất vận động của các cơ mặt do tổn thương dây thần kinh số VII. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do lạnh, chiếm tới 80% các trường hợp. Việc điều trị liệt VII ngoại biên do lạnh cần được thực hiện kịp thời để giảm thiểu các tác động tiêu cực đến sinh hoạt và tâm lý của bệnh nhân. Các phương pháp điều trị hiện nay bao gồm cả y học hiện đại và y học cổ truyền, trong đó có điện châm và bài thuốc “TK7 HV”.

1.1. Đặc Điểm Lâm Sàng Của Liệt VII Ngoại Biên

Liệt VII ngoại biên do lạnh thường biểu hiện bằng sự mất cân đối của khuôn mặt, với nửa mặt bên bệnh không thể cử động. Các triệu chứng đi kèm bao gồm không nhắm mắt được, miệng lệch và không thể nhăn trán. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để có phương pháp điều trị kịp thời.

1.2. Nguyên Nhân Gây Ra Liệt VII Ngoại Biên

Nguyên nhân chính gây ra liệt VII ngoại biên là do lạnh, nhưng cũng có thể do nhiễm trùng, chấn thương hoặc các rối loạn khác. Việc hiểu rõ nguyên nhân sẽ giúp trong việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

II. Phương Pháp Điều Trị Liệt VII Ngoại Biên Bằng Điện Châm

Điện châm là một phương pháp điều trị không dùng thuốc, được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền để điều trị liệt VII ngoại biên. Phương pháp này không chỉ giúp giảm đau mà còn kích thích phục hồi chức năng của dây thần kinh. Nghiên cứu cho thấy điện châm có tác dụng tích cực trong việc cải thiện triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân liệt VII ngoại biên do lạnh.

2.1. Cơ Chế Tác Động Của Điện Châm

Điện châm hoạt động bằng cách kích thích các huyệt đạo trên cơ thể, từ đó giúp tăng cường lưu thông máu và giảm viêm. Cơ chế này giúp phục hồi chức năng của dây thần kinh và giảm thiểu các triệu chứng của liệt VII ngoại biên.

2.2. Kỹ Thuật Thực Hiện Điện Châm

Kỹ thuật điện châm bao gồm việc sử dụng kim châm để kích thích các huyệt đạo cụ thể trên cơ thể. Thời gian và tần suất điều trị sẽ được điều chỉnh tùy theo tình trạng của bệnh nhân, nhằm đạt được hiệu quả tối ưu.

III. Bài Thuốc TK7 HV Trong Điều Trị Liệt VII Ngoại Biên

Bài thuốc “TK7 HV” là một trong những phương pháp điều trị hiệu quả cho liệt VII ngoại biên do lạnh. Bài thuốc này được nghiên cứu và phát triển dựa trên các nguyên lý của y học cổ truyền, với mục tiêu tán hàn, hoạt huyết và khứ ứ. Sự kết hợp giữa điện châm và bài thuốc này đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện tình trạng bệnh nhân.

3.1. Thành Phần Của Bài Thuốc TK7 HV

Bài thuốc “TK7 HV” bao gồm các thành phần thảo dược có tác dụng tán hàn và hoạt huyết. Mỗi thành phần được lựa chọn kỹ lưỡng để đảm bảo tính hiệu quả và an toàn cho người sử dụng.

3.2. Cách Sử Dụng Bài Thuốc TK7 HV

Bài thuốc này thường được sử dụng dưới dạng sắc thuốc hoặc viên hoàn. Liều lượng và cách sử dụng sẽ được điều chỉnh tùy theo tình trạng sức khỏe của bệnh nhân, nhằm đạt được hiệu quả điều trị tốt nhất.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Điều Trị

Nghiên cứu cho thấy sự kết hợp giữa điện châm và bài thuốc “TK7 HV” mang lại hiệu quả điều trị cao cho bệnh nhân liệt VII ngoại biên do lạnh. Các triệu chứng lâm sàng được cải thiện rõ rệt sau 7, 14 và 21 ngày điều trị. Điều này chứng tỏ rằng phương pháp đa trị liệu có thể nâng cao hiệu quả điều trị và phục hồi chức năng cho bệnh nhân.

4.1. Sự Cải Thiện Triệu Chứng Lâm Sàng

Sau 7 ngày điều trị, nhiều bệnh nhân đã có sự cải thiện rõ rệt về khả năng cử động của cơ mặt. Sự cải thiện này tiếp tục gia tăng sau 14 và 21 ngày, cho thấy hiệu quả bền vững của phương pháp điều trị.

4.2. Đánh Giá Tác Dụng Không Mong Muốn

Trong quá trình điều trị, một số tác dụng không mong muốn đã được ghi nhận, nhưng hầu hết đều ở mức độ nhẹ và có thể tự hồi phục. Việc theo dõi chặt chẽ các triệu chứng này là cần thiết để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

V. Kết Luận Về Điều Trị Liệt VII Ngoại Biên

Điều trị liệt VII ngoại biên do lạnh bằng phương pháp điện châm kết hợp với bài thuốc “TK7 HV” đã cho thấy hiệu quả tích cực. Phương pháp này không chỉ giúp cải thiện triệu chứng lâm sàng mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới trong điều trị liệt VII ngoại biên, khẳng định giá trị của việc kết hợp giữa y học hiện đại và y học cổ truyền.

5.1. Tương Lai Của Phương Pháp Điều Trị

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp điều trị kết hợp nhằm nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân liệt VII ngoại biên. Việc áp dụng các công nghệ mới trong y học cổ truyền cũng sẽ là một hướng đi tiềm năng.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Bệnh Nhân

Bệnh nhân nên được tư vấn và theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị. Việc kết hợp giữa các phương pháp điều trị khác nhau sẽ giúp đạt được hiệu quả tối ưu và giảm thiểu các tác dụng không mong muốn.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ y học đánh giá tác dụng điều trị liệt vii ngoại biên do lạnh bằng phương pháp điện châm kết hợp bài thuốc tk7 hv

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Liệt VII ngoại biên theo y học hiện đại 1. Giải phẫu chức năng dây thần kinh số VII Nhân dây thần kinh số VII nằm ở cầu não gồm có 4 nhân: nhân vận động, nhân cảm giác (nhân bó đơn độc), nhân thực vật gồm hai nhân (nhân lệ tỵ và nhân bọt trên cho ra dây VII’) [24],[32]. Các nhân thần kinh mặt và các tiếp nối trung ương [12] Nhân dây vận động VII ở cầu não có hai phần, phần trên phụ trách nửa mặt trên (từ đuôi khóe mắt trở lên) còn nhân phần dưới phụ trách nửa mặt dưới.

Nhân phần trên được vỏ não hai bán cầu chi phối vì vậy khi tổn thương bán cầu não một bên thì nửa mặt trên không bị liệt. Nhân phần dưới chỉ được vỏ não bên đối diện chi phối nên khi tổn thương một bán cầu não chỉ gây liệt nửa mặt dưới bên đối diện [24]. 4 Dây thần kinh số VII phụ trách vận động các cơ bám da mặt, cơ bám da cổ, xương bàn đạp ở tai giữa (dây VII). Dây VII đi qua xương đá nhận thêm sợi phó giao cảm dây VII' chi phối hoạt động bài tiết của các tuyến nước mắt, tuyến dưới hàm, tuyến dưới lưỡi, tuyến niêm dịch của mũi và cũng nhận thêm vị giác ở hai phần ba trước lưỡi và cảm giác vòm miệng, cảm giác nông vùng ống tai ngoài và vùng da nhỏ phía sau vành tai (dây VII') [24],[32].

Các cơ biểu hiện nét mặt [57] 5 1. Đường đi của dây thần kinh VII Hình 1. Đường đi của dây thần kinh số VII [57] Đoạn trong xương đá: sau khi qua lỗ tai trong, dây VII đi trong ống tai trong. Đoạn này dây VII đi bên cạnh dây VIII, nằm ngay trên dây VIII (uốn cong như một cái võng ở hạch gối) rồi chui vào hố trước trên của đáy ống tai, dây VII vào ống Fallop (hay còn gọi là ống dây VII) [24],[32].

Đoạn 1 trong xương đá nằm trước hạch gối, ở đoạn này dây VII’ phân nhánh cho tuyến lệ để chi phối tiết nước mắt. Nếu tổn thương dây VII sau chỗ 6 chia nhánh cho tuyến lệ thì bệnh nhân không bị khô mắt. Đoạn 1 dài khoảng 14,72 mm; Góc tạo bởi đoạn 1 và đoạn 2 dây VII (góc của hạch gối) trung bình là 780 [24],[32]. Đoạn 2 trong xương đá sau hạch gối phân nhánh vận động cho cơ bàn đạp, dây VII’ tách ra khỏi dây VII tạo thành dây thừng nhĩ và phân nhánh cảm giác cho 1/3 trước lưỡi và tuyến nước bọt mang tai.

Nếu tổn thương đoạn 2 sau chỗ tách ra dây thừng nhĩ thì bệnh nhân chỉ liệt mặt đơn thuần mà không khô mắt, không giảm thính lực, không mất cảm giác 1/3 trước lưỡi và không khô miệng. Chiều dài đoạn 2 dây VII trung bình là 11,08 mm [24],[32]. Các nhánh thần kinh VII bên trong phần đá của xương thái dương (đường màu đen là sợi vị giác) [57] Khoảng cách từ gối 2 đến điểm xuất phát dây thừng nhĩ trung bình là 10,88 mm; khoảng cách từ lỗ trâm chũm đến điểm xuất phát của dây thừng nhĩ là 4,78 mm. - Đoạn ngoài xương đá (đoạn ngoài sọ): Dây VII chui qua lỗ châm chũm để ra ngoài sọ, sau đó đi qua giữa 2 thùy của tuyến mang tai và chia thành 2 nhánh 7 tận (nhánh thái dương - mặt và nhánh cổ - mặt).

Đây là hai nhánh thuần vận động phân bố cho cơ bám da mặt và bám da cổ. + Nhánh thái dương - mặt còn gọi là nhánh trên phân bố cho các cơ nằm bên trên mặt, trong đó có ba cơ quan trọng là cơ trán, cơ mày và cơ vòng mi mắt. + Nhánh cổ - mặt còn gọi là nhánh dưới phân bố cho các cơ nằm bên dưới mặt, trong đó quan trọng là cơ vòng miệng và xa hơn nữa dây VII phân nhánh xuống tới tận cơ bám da cổ. Dây thần kinh VII đoạn ngoài xương đá và đoạn trong tuyến nước bọt mang tai [57] 1.

Khái niệm Liệt VII ngoại biên (hay liệt mặt ngoại biên) là tình trạng mất vận động hoàn toàn hay một phần các cơ của nửa mặt, mà nguyên nhân là do tổn thương dây thần kinh mặt, trái ngược với liệt mặt trung ương là tổn thương liên quan đến não [5]. Nguyên nhân Liệt nửa mặt ngoại vi khi có tổn thương từ nhân dây VII trở ra, biểu hiện tổn thương là liệt hoàn toàn nửa mặt cùng bên. Có nhiều nguyên nhân gây nên. Nguyên nhân - Tổn thương cầu não: u thần kinh đệm, u lao, di căn ung thư hoặc đột quỵ vùng cầu não, có thể là dấu hiệu đầu tiên của viêm tủy xám nhất là ở trẻ em, bệnh xơ não tuỷ rải rác, lao màng não, viêm màng não mủ hoặc do virus, u góc cầu tiểu não thường do u dây thần kinh số VIII, viêm tai xương chũm, u màng não, viêm màng nhện vùng góc cầu - tiểu não [12],[35],[36].

- Tổn thương trong xương đá: zona hạch gối, viêm tai xương chũm, u trong xương đá (hiếm gặp). - Tổn thương dây VII ngoài sọ: u ở tuyến mang tai, bệnh hủi (Lepra), bệnh uốn ván, hội chứng Guillain - Barré (chiếm 69% trường hợp liệt mặt hai bên, xuất hiện vào ngày thứ 5 đến ngày thứ 12 của bệnh), viêm nhiều dây thần kinh sọ não, viêm quanh động mạch dạng nút, bệnh Kahler, bệnh đái tháo đường, liệt dây VII do thai nghén (xuất hiện khi thai trên 6 tháng do phù, ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch và rối loạn chuyển hoá vitamin. Điều trị chủ yếu dùng vitamin nhóm B liều cao và làm tăng lưu thông tuần hoàn. Tiên lượng tốt sau khi sinh).

Các nguyên nhân khác - Chấn thương sọ não Chấn thương sọ não gây vỡ xương đá, ổ máu tụ ở hõm nhĩ. - Liệt nửa mặt nguyên phát Liệt nửa mặt do lạnh (liệt Bell). Trường hợp này thường do mạch nuôi của dây thần kinh bị co thắt gây ra thiếu máu cục bộ, phù và chèn ép dây thần kinh trong ống Fallope. Các trường hợp liệt tự phát đó thường tiến triển cấp tính có liên quan tới gió lùa, lạnh, hay xảy ra vào ban đêm.

Cơ chế bệnh sinh Y học hiện đại có nhiều giả thuyết khác nhau về bệnh sinh liệt VII, song các tác giả tập trung vào hai thuyết đó là thuyết thiếu máu và thuyết Lympho. Thuyết thiếu máu Khi tổn thương dây VII thường có kèm rối loạn thị lực bên liệt, co thắt động mạch thái dương và tăng nhãn áp, đau phía sau tai đi đôi với liệt dây VII đột ngột. Theo Blunt, liệt dây VII có biểu hiện phù nề dây thần kinh cùng với đám chảy máu ở trên mặt và những thoái hóa sợi fibrin mà không có biểu hiện viêm. Trạng thái này thường chỉ xảy ra do thiếu máu.

Thiếu máu dẫn tới thiếu oxy và các quá trình này ngày càng tăng dần dẫn đến những biến đổi không phục hồi [11]. Thuyết Lympho Funchs thấy các hạch Lympho to lên ở vùng lỗ trâm-chũm và đè ép vào dây VII. Bell cũng mô tả viêm hạch Lympho khu trú ở cổ bên liệt hoặc ở cả hai bên [13]. Đặc điểm lâm sàng và phân độ lâm sàng liệt VII ngoại biên 1.

Đặc điểm lâm sàng liệt VII ngoại biên do lạnh - Quan sát mặt bệnh nhân khi tĩnh: hai bên mặt không cân đối, các cơ mặt bị kéo về bên lành, nhân trung bị kéo lệch về bên lành. Nửa mặt bên bệnh bất động và nhẽo (giảm trương lực cơ), mất nếp nhăn trán và nếp nhăn khóe mắt, lông mày hơi sụp xuống, má hơi xệ, rãnh mũi - má mờ, góc mép miệng bị xệ xuống, tai hình như thấp xuống. Tuy nhiên, trong giai đoạn muộn có nhiều trường hợp mặt bệnh nhân khi không cử động nhìn thấy mặt vẫn cân đối, chỉ khi cử động mới thấy mất cân đối do cơ bên liệt bị co cứng. - Nhìn khi bệnh nhân cử động: mặt và mắt mất cân đối rõ rệt hơn.

+ Bên bệnh không nhăn trán được, mắt không nhắm kín (dấu hiệu hở mi), nhe răng thấy miệng lệch, mím môi không chặt, không huýt sáo, thổi lửa, được. + Dấu hiệu Charles - Bell dương tính: biểu hiện là khi bệnh nhân nhắm mắt chủ động, mắt bên liệt nhắm không kín, nhãn cầu vận động lên trên và ra ngoài (khi đó giác mạc lẩn dưới mi trên, củng mạc trắng lộ rõ giữa hai khe mi). + Dấu hiệu Negro: khi bệnh nhân ngước mắt nhìn lên trên, đồng tử bên tổn thương ở vị trí cao hơn bên lành. + Dấu hiệu Souques: trong khi nhắm hai mắt thì mắt bên bệnh nhắm không được chặt, lông mi của bên bệnh còn thò ra ngoài dài hơn bên lành.

+ Dấu hiệu Pierre Marie - Foix: phát hiện liệt mặt trong trường hợp bệnh nhân hôn mê. Thầy thuốc ấn mạnh vào hai góc hàm hoặc giật tóc mai của bệnh nhân, bệnh nhân sẽ nhăn mặt, khi đó nửa mặt bên lành sẽ co, còn bên liệt không có phản ứng gì. 11 - Các triệu chứng khác: liệt dây VII ngoại vi có thể đi kèm theo liệt nửa người kiểu trung ương bên đối diện như trong hội chứng Millard - Gubler hay hội chứng Foville cầu não dưới [12],[35],[36]. Phân độ lâm sàng liệt VII ngoại biên * Phân độ House-Brackmann (1985) Để đánh giá và xếp loại bệnh nhân theo mức độ triệu chứng phục vụ cho tiên lượng và điều trị, người ta đã dùng các bảng phân loại lâm sàng liệt VII ngoại biên.

Có rất nhiều bảng phân loại khác nhau như bảng Botman và Jongkees (1995), May (1981), House – Brackmann (1983)… Trong đó bảng phân loại House – Brackmann đã được Ủy ban rối loạn thần kinh mặt (FND) công nhận là thang điểm đánh giá mức độ thần kinh mặt FNGS (Facial Nerve Grading Scale) năm 1985 và sử dụng rộng rãi trên lâm sàng với các ưu điểm vượt trội giúp đánh giá mức độ phục hồi của người bệnh và so sánh chức năng của dây VII trước và sau điều trị. Phân độ House – Brackmann đánh giá dựa vào biểu hiện trên khuôn mặt, bao gồm biểu hiện tổng thể, biểu hiện khi nghỉ ngơi và khi vận động tại 3 khu vực trán - mắt - miệng. Bảng phân loại cũng đưa ra đánh giá đồng vận trên bệnh nhân. Đồng vận là sự rối loạn các dây thần kinh sau tổn thương, biểu hiện bằng sự vận động không chủ động sau một vận động chủ động.

Bệnh nhân xếp loại theo 6 mức độ từ độ I là hoàn toàn bình thường cho đến độ VI là liệt hoàn toàn [55]. Bảng phân độ House – Brackmann tóm tắt (1985) [55] Phân độ Tình trạng Biểu hiện I Bình thường Cử động mặt bình thường, không có đồng vận. Chức năng vùng trán tốt, có đồng vận nhẹ, yếu II Biến dạng nhẹ nhẹ, mất cân xứng ở mặt nhẹ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Điều Trị Liệt VII Ngoại Biên Do Lạnh Bằng Điện Châm Và Bài Thuốc TK7 HV" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp điều trị liệt VII ngoại biên do lạnh, kết hợp giữa điện châm và bài thuốc truyền thống. Nội dung tài liệu nhấn mạnh hiệu quả của điện châm trong việc kích thích lưu thông máu và giảm đau, đồng thời giới thiệu bài thuốc TK7 HV như một giải pháp hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân.

Đối với những ai quan tâm đến các phương pháp điều trị tương tự, tài liệu này mở ra cơ hội tìm hiểu thêm về các nghiên cứu khác. Ví dụ, bạn có thể tham khảo Đánh giá kết quả điều trị của bài thuốc bổ dương hoàn ngũ thang phối hợp với điện châm, nơi nghiên cứu sự kết hợp giữa thuốc và điện châm trong điều trị di chứng đột quỵ. Ngoài ra, tài liệu Đánh giá hiệu quả phương pháp điện châm kết hợp sóng ngắn cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ứng dụng của điện châm trong điều trị thoái hóa khớp gối. Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về các phương pháp điều trị hiện đại.