chương 1 giới thiệu đại cương về bào chế và sinh dược học, các chương 2 đến chương 7 giới thiệu về các dạng thuốc như: dung dịch thuốc, hỗn dịch thuốc, nhũ tương thuốc, thuốc tiêm, thuốc nhỏ mắt, các thuốc bào chế bằng phương pháp chiết xuất. Giáo trình mới xuất bản lần đầu với thời gian biên soạn có hạn nên có thể còn nhiều thiếu sót, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, sinh viên và các bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn cho lần tái bản. Các tác giả 5 BÀI1 ĐẠI CƯƠNG VÈ BÀO CHẾ VÀ SINH DƯỢC HỌC MỤC TIÊU 1. Trình bày được một số khái niệm về bào chết sinh dược học và cách đánh giá sinh khả dụng, ý nghĩa, 2.
Nêu được thành phần của một dạng thuốc và phân loại dạng thuốc 3・ Phân tích được các yếu tố dược học và sinh học ảnh hưởng đến sinh khả dụng 1. ĐẠI CƯƠNG VỀ BÀO CHẾ 1. Khái niệm về bào chế Bào chế là môn học về nguyên lý cấu tạo và kỹ thuật pha chế? sản xuất các dạng thuốc. Kỹ thuật bào chế là quá trình chế biến nhằm đưa dược chất vào dạng thuốc để người bệnh tiện dùng, dễ hấp thu, hiệu quả nhanh, nhằm làm giảm triệu chứng hoặc bệnh tật.
Nội dung nghiên cứu của môn học bào chế bao gồm: a. Thành phần dạng thuốc, phương pháp bào chế, quy cách đóng gói và bảo quản, độ ổn định, tiêu chuẩn chất lượng, b. Đánh giá về sinh dược học, sinh khả dụng, các yếu tố ảnh hưởng đến sinh khả dụng nhằm tối ưu hiệu quả điều trị của thuốc, tiện dùng, an toàn, kinh tế cho bệnh nhân Mục tiêu của môn học bào chế bao gồm: 1. Phân tích được thành phần chính, nguyên tắc bào chế của dạng thuốc.
Giải thích được quy cách đóng gói, bảo quản, tiêu chuẩn chất lượng, độ ổn định dạng thuốc. Áp dụng được kiến thức môn học để xây dựng công thức bào chế phù hợp cho dạng thuốc, pha chế một số dạng thuốc và hướng dẫn sử dụng thuốc. Tóm tắt lịch sử phát triển môn Bào chế Từ thời nguyên thủy, con người đã biết tự chữa bệnh bằng cách sử dụng cây cỏ, khoáng vật có sẵn trong tự nhiên. Các tài liệu cổ cách đây 3000 năm đã có ghi chép về kỹ thuật bào chế các dạng thuốc.
Vào thế kỷ thứ V tìuớc công nguyên, các nhà triết học kiêm thầy thuốc của La Mã - Hy Lạp như Platon, Aristot. đã đi sâu nghiên cứu các phương pháp chữa bệnh và bào chế thuốc. Sự phát triển của môn học bào chế được đánh dấu bằng các nghiên cứu của Claudius Geneus (131 - 210 trước Công nguyên). Ông đã để lại 500 tác phẩm về y học, trong đó có tập sách dành cho việc phân loại thuốc có ghi chi tiết về cách pha chế một số dạng thuốc.
Ông được coi là người sáng lập ra môn bào chế học và người ta đã lấy tên Ông để đặt tên cho môn học. Thế kỷ thứ XIX, do sự phát triển của các ngành khoa học như vật lý5 hoá học, sinh học. Ngành Dược và kỳ thuật bào chế đã có sự phát triển mạnh mẽ. Các dạng thuốc mới ra đời: thuốc tiêm, viên nén, viên nang mềm.
Lý thuyết về bào chế đã được xây dựng trên cơ sở khoa học do vận dụng các thành tựu của các môn khoa học cơ bản và cơ sở. Ngành công nghiệp dược phẩm ra dời, bào chế quy ước đạt đến đỉnh cao. Hàng loạt biệt dược được sản xuất ở quy mô công nghiệp với máy móc hiện đại năng suất cao, có hình thức trình bày đẹp, hấp dẫn đã thay thế dần các chế phẩm pha chế theo đơn hoặc bào chế ở quy mô nhỏ.