mở đầu Chương 2: Tổng quan về công ty Bluescope Steel Việt Nam Chương 3: Thực trạng hoạt động marketing của công ty Bluescope Steel tại thị trường miền Bắc Việt Nam Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing của công ty Bluescope Steel tại thị trường miền Bắc Việt Nam Kết luận Sinh viên: Phạm Mạnh Tường 7 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD TH.S ĐINH LÊ H ẢI HÀ CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY BLUESCOPE STEEL VIỆT NAM 2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY Tổng công ty BlueScope Steel Tổng công ty BlueScope Steel là một trong những nhà sản xuất thép tấm hàng đầu tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, công ty bắt đầu tham gia vào ngành sản xuất thộp trờn thế giới kể từ năm 1915. Đây là tập đoàn hiện đang dẫn đầu thế giới về cung cấp các sản phẩm thép phẳng mạ hợp kim nhôm kẽm và mạ màu cho các ngành công nghiệp và xây dựng.Với mạng lưới bao gồm các nhà máy sản xuất thép tấm và 23 nhà máy sản xuất tấm lợp từ thép cuộn mạ kim loại và mạ màu đặt tại 12 quốc gia khu vực Châu Á Thái Bình Dương, BlueScope Steel đã và đang tạo lập vị trí số một vượt xa mọi công ty khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh. BlueScope Steel Việt Nam (BSV) Công ty BlueScope Steel đã có mặt tại Việt nam từ năm 1993, là công ty đầu tiên trong ngành công nghiệp thép được đầu tư bởi 100% số vốn nước ngoài, với nhà máy đặt tại Đồng Nai chuyên sản xuất các sản phẩm thép phục vụ ngành xây dựng. Năm 2003, Công ty đầu tư 105 triệu đô la Mỹ để xây dựng nhà máy mạ hợp kim nhôm - kẽm và mạ màu đặt tại Khu Công Nghiệp Phú Mỹ 1, Bà Rịa Vũng Tàu.
Nhà máy mới này đã đi vào hoạt động từ tháng 11 năm 2005 với tổng sản lượng hàng năm đạt đến 125,000 tấn thép mạ hợp kim nhụm- kẽm và 50,000 tấn thép mạ màu. Đây là nhà máy thép mạ có công suất lớn nhất Việt Nam hiện nay.2 CƠ CẤU BỘ MÁY QUẢN LÝ VÀ TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY 2.1 Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty Bộ máy quản lý của Công ty ổn định và khá hoàn thiện. Sau đõy là sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty. Đứng đầu công ty là Tổng giám đốc (TGĐ) – Ông Andrew Heycott, người giữ chức vụ điều hành cao nhất, phụ trách tổng điều hành các hoạt động của công ty.
Dưới TGĐ là trợ lý điều hành của TGĐ người giúp TGĐ duy trì điều hành mọi hoạt động của công ty khi TGĐ vắng mặt hay được sự uỷ thác của Sinh viên: Phạm Mạnh Tường 8 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD TH.S ĐINH LÊ H ẢI HÀ TGĐ, tổng hợp đánh giá tình hình hoạt động của công ty thông qua báo cáo của các bộ phận, giúp TGĐ xây dựng định hướng chiến lược phát triển của công ty. Tiếp theo là đến cỏc Phú tổng giám đốc và giám đốc các bộ phận: Giám đốc môi trường, sức khỏe và an toàn lao động, người chịu trách nhiệm toàn bộ trong việc giám sát, quản lý bảo vệ sức khoẻ và an toàn cho người lao động, bảo vệ môi trường làm việc trong công ty và tránh mọi trường hợp làm ô nhiễm môi trường bên ngoài công ty. Phó tổng giám đốc tài chính: là người quản lý tài chính, nghiên cứu, phân tích và xử lý các quan hệ tài chính trong công ty Phó tổng giám đốc tài chính phải nắm rõ được đầy đủ hoạt động của bộ máy kế toán sau đó phân nhiệm việc theo dõi thông tin cho bộ máy tài chính thông qua quản lý kế toán và quản lý tài chính Giám đốc phát triển nguồn nhân lực: là người chịu trách nhiệm hoạch định chiến lược nhân sự, kế hoạch nhân sự phù hợp với chiến lược kinh doanh trong từng thời kỳ của công ty. Thu hút nguồn nhân lực thông qua các chính sách, quyền lợi, kế hoạch huấn luyện, đào tạo.
Phó tổng giám đốc bán hàng: là người đại diện của công ty đối với khách hàng và thị trường, đóng vai trò then chốt trong cơ cấu quản trị bán hàng, với nhiệm vụ trọng yếu là quản lý đội ngũ bán hàng thông qua sự giúp đỡ của giám đốc bán hàng khu vực phía bắc, phía nam và trung tâm. Giám đốc Marketing: là người chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động marketing của công ty như phát triển sản phẩm, truyền thông tiếp thị, nghiên cứu thị trường, chăm sóc khách hàng, phát triển hệ thống kờnh phõn phối… Phó tổng giám đốc sản xuất: là người điều hành hệ thống quản lý chất lượng và kĩ thuật các dây chuyền sản xuất của nhà máy và được giúp đỡ bởi giám đốc dây chuyền mạ kim loại và giám đốc dây chuyền sơn phủ bề mặt kim loại. Giám đốc dịch vụ khách hàng và giao nhận: là người quản lý các dịch vụ khách hàng, đảm bảo cho khách hàng được hưởng những dịch vụ tốt nhất của công ty đồng thời tiếp nhận phản hồi của khách hàng và giải quyết các vấn đề của khách hàng. Sinh viên: Phạm Mạnh Tường 9 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD TH.S ĐINH LÊ H ẢI HÀ Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy nhân sự của công ty Tổng giám đốc Trợ lý điều hành Giám Phó Giám Phó Giám đốc Phó Giám đốc đốc môi giám đốc phát giám marketing giám dịch vụ trường, đốc tài triển đốc bán đốc sản khách sức khoẻ chính nguồn hàng xuất hàng và và an nhân sự giao nhận toàn lao động Quản Quản lý Giám Giám Giám Giám Giám lý kế tài chính đốc bán đốc bán đốc bán đốc dây đốc dây toán hàng hàng hàng khu truyền truyền khu vực khu vực vực phía mạ kim sơn phủ phía trung Bắc loại bề mặt Nam tâm kim loại Sinh viên: Phạm Mạnh Tường 10 (Nguồn: Bộ phận quản lý nhân sự) CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD TH.S ĐINH LÊ H ẢI HÀ Như vậy khi nhìn vào sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty ta có thể thấy đây là mô hình tổ chức kinh doanh theo khu vực địa lý.
Ưu điểm nổi bất của mô hình này là nắm chắc và thích ứng sự biến động nhu cầu tiêu dùng của từng khu vực, từng địa phương nhưng cũng có nhược điểm là sự phối hợp hành động giữa các phòng ban hiệu quả không cao, khó thống nhất được về mục tiêu của doanh nghiệp.2 Tình hình lao động của công ty Con người là yếu tố quan trọng nhất đối với mọi hoạt động, lao động là yếu tố cấu thành nên giá trị sản phẩm trong mọi ngành sản xuất kinh doanh và là nguồn gốc tạo ra của cải vật chất trong xã hội. Trình độ lao động ngày càng cao thì sự kết tinh của nó trong sản phẩm ngày càng hoàn chỉnh hơn. Tuy nhiên, để sử dụng nguồn lao động sao cho đầy đủ và hợp lý là một vấn đề khó khăn và phức tạp. Đõy cũng là một nguyên tắc trong sản xuất kinh doanh và cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.1 ta thấy tổng số lượng lao động của công ty qua 3 năm có nhiều thay đổi.
Năm 2009, tổng số lao động của công ty là 250 người nhưng đến năm 2010 tổng số lao động chỉ còn 245 người, giảm 5 người.Tuy nhiên, sang đến năm 2011 tổng số lao động của công ty lại tăng lên 280 người, tăng 35 người so với năm trước. Sự tăng - giảm về tổng số lượng lao động của công ty có thể lý giải như sau: cuối năm 2009, công ty BSV rất khó khăn về thị trường, sản phẩm làm ra tiêu thụ chậm nên công ty đã phải giảm 40%-50% công suất đồng nghĩa với việc phải huỷ bỏ hợp đồng lao động với một số người. Tuy nhiên đến giữa năm 2010, tình hình kinh tế nói chung đã có dấu hiệu hồi phục, nhà máy tiếp tục nhận được nhiều đơn hàng. Vì vậy, công ty tiếp tục tuyển thêm lao động để sản xuất.
Về trình độ lao động của công ty: nhìn chung hầu hết các nhân viên, cán bộ, công nhân trong công ty đều có trình độ từ trung học phổ thông trở lên. Cụ thể là năm 2009 tổng số lao động của công ty là 250, trong đó 50 lao động có trình độ đại học và trên đại học, chiếm tỷ lệ 20%, có 150 lao động có trình độ cao đẳng và trung cấp, chiếm tỷ lệ 60%, còn lại 50 lao động có trình độ trung học phổ thông, chiếm tỷ lệ 20%. Đến năm 2010 số lượng lao động có trình độ trung học phổ thông giảm 5 người xuống còn 45, còn số lao động có trình độ đại học, trên đại học, cao đẳng, trung cấp thì không có gì thay đổi. Điều này cũng dễ hiểu bởi như trên đã nói, do gặp khó khăn trong vấn đề tiờu thụ sản phẩm nên cuối năm 2009 công ty đã phải chấm dứt hợp Sinh viên: Phạm Mạnh Tường 11 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD TH.S ĐINH LÊ H ẢI HÀ đồng lao động với một số lao động có trình độ chưa cao để tránh lãng phí nguồn lực của công ty.
Nhưng đến năm 2011, sau khi thị trường dần ổn định, công ty đi vào hoạt động bình thường thậm chí công suất còn hơn so với những năm trước nên nhu cầu về lao động của công ty tăng nhanh. Cụ thể: tổng số lao động tăng lên 280 người, trong đó có 55 lao động có trình độ đại học và trên đại học chiếm 19,64%, 155 lao động có trình độ cao đẳng và trung cấp chiếm 55,36%, còn lại 70 lao động có trình độ trung học phổ thông chiếm 25%. Như vậy, yêu cầu về trình độ của người lao động được đòi hỏi khá cao ở công ty BSV, ngoài trình độ chuyên môn, công ty còn đòi hỏi ở lao động khả năng tiếng anh để thuận tiện trong khi làm việc. Về vấn đề hợp đồng lao động thì qua bảng 2.1 ta thấy: số lao động có hợp đồng dài hạn (lao động chính thức) chiếm phẩn lớn tỷ lệ trong tổng số lao động.
Năm 2009, số lao động chính thức là 230 người chiếm 92% tổng lao động, số lao động ngắn hạn chỉ chiếm 8% với 20 người. Năm 2010 số lao động chính thức là 215 người chiếm 87,76% tổng lao động và đến năm 2011 vẫn duy trì với 82,14% trong tổng số lao động. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho công ty bởi những lao động này đều có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên, họ là những người có kinh nghiệm, trình độ và đang ngày đêm dốc sức vì sự phát triển của công ty. Xét theo giới tính: ta thấy số lao động nam chiếm trên 70% tổng số lao động của công ty.