ĐẶT VẤN ĐỀ Trầm cảm là nguyên nhân gây tàn phế hàng đầu trên toàn cầu. Tổ chức Y tế Thế giới ước tính có hơn 322 triệu người phải chịu đựng trầm cảm, với tỉ lệ hiện mắc từ 2,6 đến 5,9% khác nhau giữa các vùng [76]. So với dân số chung, sinh viên y khoa có các triệu chứng trầm cảm cao hơn hẳn, ở mức 27% [63]. Cũng trên nhóm cộng đồng này, trầm cảm và sự đau khổ về mặt tinh thần có liên quan đến các kết cục không mong muốn như kết quả học tập kém, không trung thực trong thi cử, thái độ nghi ngờ, lạm dụng rượu, chất gây nghiện và ý tưởng tự sát [16].
Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh là một trong các trường đào tạo y khoa chính tại Việt Nam, số lượng sinh viên năm học 2018-2019 là 9664, chỉ tiêu tuyển mới năm 2019-2020 là 2250 sinh viên (theo phòng công tác sinh viên). Tỉ lệ sinh viên có triệu chứng rối loạn trầm cảm chủ yếu ở Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh cũng ở mức 28-50% tùy theo thang điểm tầm soát và thời điểm nghiên cứu [2],[4],[5]. Như vậy, tính sơ bộ có thể có từ 2300 đến 4800 sinh viên có vấn đề trầm cảm đang theo học tại trường. Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở các trường y khoa lớn ở Việt Nam, trong đó có Đại học Y khoa Hà Nội, Đại học Y Dược Huế và Đại học Y Dược Cần Thơ [31],[60].
Thực tế trên cho thấy cần có một công cụ tầm soát chính xác, dễ sử dụng để đánh giá vấn đề trầm cảm trên đối tượng sinh viên y khoa tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và sinh viên y khoa Việt Nam nói chung. Kết quả tầm soát khi sử dụng công cụ sẽ là cơ sở cho việc lưu trữ hồ sơ theo dõi sức khỏe, hỗ trợ điều trị cá nhân sớm và can thiệp cộng đồng kịp thời [25]. Thang điểm Patient Health Questionnaire 9 items (PHQ-9) thường được sử dụng để tầm soát trầm cảm trên cộng đồng với tính giá trị, độ tin cậy (Cronbach’s alpha ở mức 0,74-0,81), độ nhạy, độ đặc hiệu cao (trên 80%) và thời gian khảo sát ngắn (ước lượng khoảng 01 phút) [20],[37],[51]. Tuy nhiên, bởi vì PHQ-9 được thiết kế để sử dụng trong bối cảnh chăm sóc sức khỏe ban đầu trên dân số chung nên trước khi sử dụng trên sinh viên y.
2 khoa, thang đo này cần được xác định lại các thuộc tính tâm trắc cũng như sự khả thi trong quá trình tiến hành [8],[71]. Trong y văn chúng tôi tiếp cận được, thang PHQ-9 phiên bản tiếng Việt tuy đã từng được sử dụng trong các nghiên cứu nhưng chưa được chuẩn hóa trên đối tượng sinh viên Y khoa. Hơn nữa, cho tới thời điểm tiến hành nghiên cứu, chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào đã được công bố có mục tiêu xác định giá trị và độ tin cậy của thang đo PHQ-9 trên nhóm đối tượng cụ thể này. Chúng tôi kỳ vọng rằng kết quả của nghiên cứu của chúng tôi sẽ là cơ sở khoa học cho việc sử dụng thang đo PHQ-9 để tầm soát và nghiên cứu các rối loạn trầm cảm và các vấn đề liên quan đến trầm cảm trên đối tượng sinh viên y khoa.
Như vậy, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là thang đo PHQ-9 có giá trị và độ tin cậy phù hợp để ứng dụng trong thực tế tầm soát và mô tả vấn đề trầm cảm ở sinh viên y khoa hay không? Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu này, mục tiêu chính của nghiên cứu của chúng tôi là xác định giá trị và độ tin cậy của thang đo PHQ-9 phiên bản tiếng Việt trên đối tượng sinh viên y khoa Việt Nam. Đối tượng cụ thể của nghiên cứu là nhóm sinh viên y khoa năm nhất tại Việt Nam (sau đây gọi ngắn gọn là sinh viên y khoa). Nhằm thực hiện mục tiêu chính đó, chúng tôi có các mục tiêu chuyên biệt: 1. Chuyển ngữ, thích ứng văn hóa và đảm bảo giá trị nội dung cho thang đo PHQ-9 phiên bản tiếng Việt trên đối tượng sinh viên y khoa 2.
Xác định độ tin cậy của thang PHQ-9 phiên bản tiếng Việt trong đo lường trầm cảm ở sinh viên y khoa 3. Xác định giá trị cấu trúc của thang PHQ-9 phiên bản tiếng Việt trong đo lường trầm cảm ở sinh viên y khoa 4. Xác định giá trị tiêu chuẩn của thang PHQ-9 phiên bản tiếng Việt trong tầm soát và mô tả trầm cảm ở sinh viên y khoa. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Trầm cảm và giai đoạn trầm cảm chủ yếu Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trầm cảm là một trong hai nhóm rối loạn sức khỏe tâm thần thường gặp nhất trên toàn cầu. Năm 2017, số liệu thống kê của tổ chức này cho thấy có khoảng 322 triệu người – tương đương 4,4% dân số thế giới – đang phải chịu đựng các rối loạn trầm cảm. Trong đó, tại Việt Nam có 3,5 triệu trường hợp với tỉ lệ trầm cảm trong dân số chung ở khoảng 4% [76]. Hai bộ tiêu chí để định nghĩa và chẩn đoán trầm cảm được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là Sổ tay chẩn đoán và thống kê bản số 5 (DSM-5) của Hiệp hội Tâm thần học Hoa kỳ và Phân loại quốc tế về bệnh tật bản số 10 (ICD-10) của Tổ chức Y tế thế giới.
Ở nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng DSM-5 để định nghĩa chẩn đoán và cũng là tiêu chuẩn vàng để so sánh với kết quả của thang đo PHQ-9. Theo DSM-5, các rối loạn trầm cảm đặc trưng ở (1) khí sắc trầm buồn, (2) cảm giác mất hứng thú, (3) rối loạn giấc ngủ và (4) rối loạn ăn uống, (5) cảm giác mệt mỏi mất năng lượng, (6) chậm chạp hoặc bứt rứt tâm thần vận động, (7) khó tập trung, (8) cảm thấy tội lỗi và/hoặc hình ảnh bản thân thấp, (9) suy nghĩ và/hoặc hành vi lặp đi lặp lại về cái chết. Tình trạng này có thể kéo dài mạn tính hoặc có đợt tăng giảm, làm giảm chất lượng cuộc sống, suy giảm chức năng làm việc, học tập hay các lĩnh vực quan trọng khác trong đời sống [9]. Về mặt thuật ngữ, từ “trầm cảm” thường được dùng với nghĩa rất rộng: mô tả một cảm xúc, chỉ một triệu chứng, một hội chứng, một giai đoạn khí sắc (giai đoạn trầm cảm chủ yếu) hoặc một “bệnh” (rối loạn trầm cảm chủ yếu).
Để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu là xác định giá trị và độ tin cậy của thang đo PHQ-9, khái niệm “trầm cảm” trong nghiên cứu của chúng tôi sẽ chỉ bao gồm “giai đoạn trầm cảm chủ yếu” và “giai đoạn giống trầm cảm chủ yếu”. Trong đó, “giai đoạn trầm cảm chủ yếu” được chẩn đoán khi trong ít nhất 2 tuần qua, đối tượng có ít nhất 5 trên 9 triệu chứng thuộc hội chứng trầm cảm hiện diện. 4 trong hầu như cả ngày, hầu như mọi ngày, trong đó bắt buộc có triệu chứng khí sắc trầm hoặc giảm hứng thú (tiêu chuẩn A). Các triệu chứng này gây ra sự đau khổ khó chịu đáng kể trên lâm sàng hoặc gây suy giảm đáng kể các chức năng xã hội quan trọng của người bệnh (tiêu chuẩn B).
Bên cạnh đó, cần loại trừ tình trạng trầm cảm này là hậu quả của việc sử dụng chất, thuốc, hoặc do mắc phải tình trạng y khoa khác (tiêu chuẩn C). “Giai đoạn giống trầm cảm chủ yếu” bao gồm các tiêu chuẩn chẩn đoán của “giai đoạn trầm cảm chủ yếu”, trừ tiêu chuẩn C [9]. Các tiêu chuẩn này được chúng tôi trích nguyên văn, chuyển ngữ và trình bày ở Phụ lục số 7. Sinh viên y khoa và vấn đề trầm cảm So với dân số chung, đối tượng sinh viên y khoa có các triệu chứng trầm cảm cao hơn hẳn, ở mức 27% [21],[63].
So với các sinh viên khác cùng lứa tuổi, trầm cảm ở sinh viên y khoa cũng cao hơn [4],[10]. Các nghiên cứu trong năm 2012 (thang DASS-21), 2018 (thang PHQ-9 với điểm cắt ≥10), 2019 (thang CESD với điểm cắt ≥16) trên đối tượng sinh viên ở Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ sinh viên có triệu chứng trầm cảm lần lượt là 28,8%, 30,6% và 50,3% [5],[4],[2]. Các tỉ lệ này có nghĩa rằng luôn có hơn 2300 sinh viên có các triệu chứng của rối loạn trầm cảm đang theo học tại trường. Một số nghiên cứu cũng đặt ra vấn đề xác định nguyên nhân hoặc yếu tố liên quan đến tỉ lệ trầm cảm cao ở sinh viên y khoa.
Điểm chung của các các kết quả nghiên cứu xoay quanh việc Y khoa là ngành học đặc thù với khối lượng kiến thức lớn, các kỳ thi căng thẳng, áp lực cạnh tranh và yêu cầu chuyên môn cao [11],[43],[64]. Bên cạnh đó, sinh viên y khoa còn phải đối mặt với khối lượng công việc quá tải, khó khăn trong cân bằng học tập – công việc – cuộc sống và những mối quan hệ, tương tác với các bạn đồng học, các vấn đề sức khỏe và tài chính [28]. Trong thực hành lâm sàng, sinh viên y khoa còn phải đối mặt với các thách thức về đạo đức, đồng thời phải chứng kiến nỗi đau và cái chết của bệnh nhân [16]. 5 Mặc dù stress ở mức độ vừa phải có thể giúp sinh viên y khoa thể hiện tốt hơn trong môi trường học thuật, stress nặng và kéo dài về nhiều vấn đề kể trên có mối liên quan đến trầm cảm và các vấn đề sức khỏe tâm thần khác [62],[69].
Trầm cảm ở sinh viên y khoa làm cho học tập sa sút, giảm sự thấu cảm với bệnh nhân và tăng tỉ lệ bỏ học trường y [17],[43],[52],[67],[78]. Bên cạnh đó, trầm cảm còn dẫn tới sự gãy đổ các mối quan hệ, lạm dụng rượu, chất kích thích và gia tăng hiện tượng tự sát [16]. Khi phân chia cộng đồng sinh viên y khoa theo các năm học, các nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm sinh viên y khoa năm nhất có ít khả năng phát hiện trầm cảm và ít kĩ năng đối phó với trầm cảm hơn sinh viên y khoa các năm trên. Đồng thời, nhóm sinh viên này có nhiều nguy cơ có suy nghĩ hay hành vi tự sát cao hơn các sinh viên năm trên [48].
Nguyên nhân vẫn chưa được xác định rõ, một số tác giả đặt ra giả thiết rằng các sinh viên năm trên học được kỹ năng chăm sóc sức khỏe tinh thần từ quá trình đào tạo y khoa hoặc có thể chỉ là sự trưởng thành tự nhiên theo lứa tuổi, trong khi sinh viên y khoa năm nhất chưa có đủ cả hai yếu tố trên.