CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ BẢN THÂN CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về giá trị bản thân của sinh viên 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Nghiên cứu về giá trị bản thân nói chung Khái niệm về cái tôi và những khía cạnh của nó đã được các nhà tâm lí học quan tâm từ rất sớm.
William James là người đặt nền móng đầu tiên cho việc phân biệt những tiêu chí quan trọng mà cá nhân dựa vào để xác định giá trị bản thân với tác phẩm “Những nguyên lí của tâm lí học” (The principles of psychology). Từ đó, giá trị bản thân tiếp tục được các nhà tâm lí học trên thế giới nghiên cứu như là một thành tố của lòng tự trọng. Năm 1999, Shirley McGuire và cộng sự trong “Năng lực nhận thức và giá trị bản thân trong giai đoạn thanh thiếu niên: Một nghiên cứu theo chiều dọc về hành vi di truyền” (Perceived competence and self-worth during adolescence: A longitudinal behavioral genetic study) đã tiến hành nghiên cứu theo chiều dọc về khái niệm cái tôi ở lứa tuổi vị thành niên. Nghiên cứu được thực hiện trên 248 cặp anh, chị em trong 3 năm nhằm xác định mối quan hệ giữa yếu tố di truyền và môi trường với nhận thức của trẻ em về năng lực và giá trị bản thân.
Nghiên cứu đã cho thấy sự tác động của yếu tố môi trường cùng chia sẻ không đáng kể, trong khi yếu tố di truyền có tác động đến trình độ học vấn, thành tích thể thao, hình dáng cơ thể và giá trị bản thân (McGuire và cộng sự, 1999). Năm 2002, Jennifer Crocker cùng cộng sự trong nghiên cứu “Những sự quan hệ của các lĩnh vực xác định giá trị bản thân với sự tự điều chỉnh bản thân và những tổn thương tâm lí” (Contingencies of self-worth implications for self- regulation and psychological vulnerability) và nghiên cứu “Những lĩnh vực xác định giá trị bản thân” (Contingencies of self-worth) năm 2005 đã khẳng định sự thành công hay thất bại đối với những lĩnh vực xác định giá trị bản thân dẫn tới sự gia tăng hoặc giảm đi lòng tự trọng. Những lĩnh vực này đóng vai trò quan trọng trong việc tự điều chỉnh của cá nhân. Trong các lĩnh vực này, con người theo đuổi 5 Luan van lòng tự trọng bằng cách cố gắng xác nhận khả năng và chất lượng của họ.
Những lĩnh vực bên ngoài của giá trị bản thân không phải là nguồn động lực hiệu quả, mặc dù sự thúc đẩy lòng tự trọng tốt có thể kích thích sự thành công mãi mãi để tránh đi cảm giác thất bại hoặc là vô giá trị. Sự theo đuổi lòng tự trọng phải trả giá bằng con đường học tập, những mối quan hệ, sức khỏe tinh thần và thể chất. Tác giả đề xuất việc ngừng theo đuổi mù quáng những giá trị được xác định bởi lĩnh vực bên ngoài và phát triển “lòng tự trọng chân chính”, sự tự chủ và những hành động có hiệu quả trong hoàn cảnh xác thực (Crocker, 2002; Crocker & Knight, 2005). Tiếp tục theo đuổi nghiên cứu về giá trị bản thân, Jennifer Crocker cùng cộng sự đã thực hiện đề tài “Những lĩnh vực xác định giá trị bản thân của sinh viên Đại học: Lí thuyết và cách đo lường” (Contingencies of self-worth in college students: Theory and measurement) nhằm đánh giá 7 lĩnh vực mà sinh viên dựa vào để xác định giá trị bản thân bao gồm: năng lực học tập, ngoại hình, sự công nhận từ người khác, sự cạnh tranh, sự hỗ trợ từ gia đình, niềm tin tôn giáo và phẩm chất đạo đức.
Nghiên cứu được thực hiện trên 1418 sinh viên và mô hình 7 yếu tố này đã được chứng nhận phù hợp hơn so với các mô hình trước. Các tác giả đã nhận định rằng, những lĩnh vực mà cá nhân dựa vào để xác định giá trị bản thân quan trọng hơn việc giá trị bản thân của họ dựa vào yếu tố bên ngoài hay bên trong, bởi những lĩnh vực này là riêng biệt. Thang đo được sử dụng có sự liên kết, độ tin cậy cao, phân biệt rõ ràng so với các thang đo khác về nhân cách và có một cấu trúc bao gồm các mảng liên tục từ lĩnh vực bên ngoài đến nguồn lực bên trong (Crocker, Luhtanen, Cooper, & Bouvrette, 2003). Bên cạnh các lĩnh vực được sử dụng để xác định giá trị bản thân của cá nhân trong thang đo CSW ở trên, hai nghiên cứu “Những người quan trọng và những lĩnh vực xác định giá trị bản thân: Hiệu lực và những hệ quả của việc sử dụng mối quan hệ đặc biệt để xác định giá trị bản thân” (Significant others and contingencies of self-worth: Activation and consequences of relationship-specific contingencies of self-worth) và “Những phản ứng không thích hợp với việc đổ vỡ 6 Luan van mối quan hệ: Vai trò của lĩnh vực mối quan hệ trong giá trị bản thân” (Maladaptive responses to relationship dissolution: The role of relationship contingent self-worth) khảo sát giá trị bản thân dựa trên những mối quan hệ đặc biệt.
Nghiên cứu đã đưa đến kết luận về việc khi khởi động sự biểu hiện tinh thần ở những người quan trọng mà cá nhân muốn gần gũi, cá nhân sẽ đánh giá lòng tự trọng của họ ở những lĩnh vực mà người quan trọng muốn cá nhân đó nổi trội. Điều này được thể hiện qua việc cá nhân tự nhận xét về giá trị của bản thân, việc nhận được phản hồi trước một kết quả liên quan đến một tình huống cụ thể về mối quan hệ cũng như việc cảm nhận về việc giá trị bản thân bị giảm đi sau khi suy nghĩ về thất bại. Việc xác định giá trị bản thân có thể phụ thuộc vào tình huống xã hội và sự thể hiện trong mối quan hệ đặc biệt có thể ảnh hưởng đến nhận thức của họ về mối quan hệ (Horberg & Chen, 2010). Việc xác định giá trị của bản thân dựa vào tình trạng mối quan hệ tình cảm có thể trở thành yếu tố gây tổn thương và làm trầm trọng thêm những phản ứng tình cảm khi mối liên hệ bị phá vỡ.
Những cá nhân đặt mối quan hệ lên hàng đầu sẽ bị căng thẳng tinh thần nhiều hơn như ám ảnh về người yêu cũ, nguy cơ tổn thương đến bản thân và có những cách thức giải quyết không phù hợp (Park, Sanchez, & Brynildsen, 2011). Nghiên cứu giá trị bản thân trong các mối quan hệ Đề tài về giá trị bản thân của cá nhân và những tác động qua lại với yếu tố môi trường sinh sống đã được nghiên cứu trên nhiều đối tượng khác nhau. Gia đình Trong mối quan hệ với gia đình, giá trị bản thân được tìm hiểu qua những nghiên cứu như “Những mối quan hệ khác biệt của sự hỗ trợ và kiểm soát từ cha và mẹ đến năng lực xã hội, giá trị bản thân và tính cảm thông của thanh thiếu niên” (The differential relations of maternal and paternal support and control to adolescent social competence, self-worth, and sympathy) của tác giả Deborah J. Laible và Gustavo Carlo, “Những mối liên hệ lẫn nhau giữa các kiểu phong cách cha mẹ, nhận thức về sự thiên vị và giá trị bản thân: Một nghiên cứu 3 mặt theo chiều dọc” (Reciprocal links among differential parenting, perceived partiality, 7 Luan van and self-worth: A three-wave longitudinal study) của Barbara Shebloski và cộng sự, “Phong cách cha mẹ và sự trì hoãn: khác biệt giới trong mối quan hệ giữa sự trì hoãn, phong cách cha mẹ và giá trị bản thân của thiếu niên” (Parenting and procrastination: gender differences in the relations between procrastination, parenting style and self-worth in early adolescence) của Timothy A.
Pychyl và cộng sự. Qua những nghiên cứu, có thể thấy được ảnh hưởng khác nhau của giá trị bản thân kết hợp với các đặc điểm nhân cách đến các yếu tố như sự hỗ trợ, phong cách làm cha mẹ hay sự bất công trong cách cư xử với con cái. Đặc biệt, ở giai đoạn lứa tuổi vị thành niên, ảnh hưởng từ gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển đặc điểm nhân cách cá nhân. Lòng tự trọng được xem như một yếu tố dự báo chất lượng của mối quan hệ với cha mẹ của trẻ vị thành niên.
Phong cách của cha mẹ có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của con cái, đặc biệt ở nữ giới (Pychyl, Coplan, & Reid, 2002). Mặc dù có vai trò khác nhau, sự ảnh hưởng này còn phụ thuộc vào nhận thức của con cái về sự hỗ trợ của cha mẹ. Nhìn chung, thanh thiếu niên quan tâm nhiều hơn đến sự hỗ trợ và kiểm soát của người mẹ. Sự hỗ trợ được đánh giá có liên quan đến sự thông cảm và giá trị bản thân mức độ cao, ngược lại sự kiểm soát quá chặt chẽ lại liên quan đến giá trị bản thân và sự nhận thức về năng lực xã hội thấp (Laible & Carlo, 2004).
Ngoài ra, thứ tự con cái trong gia đình và cách đứa trẻ nhận thức về sự khác biệt trong cách đối xử của cha mẹ có tương quan với giá trị bản thân trẻ. Những trẻ là con đầu thể hiện giá trị bản thân mạnh mẽ, khác biệt so với những người em. Trong khi đó, những cá nhân nhận thức được sự thiên vị của cha mẹ đối với anh chị của mình sẽ ảnh hưởng đến tự đánh giá bản thân, dẫn đến sự sụt giảm mức độ giá trị bản thân. Tuy nhiên, theo thời gian, cá nhân sẽ tìm ra cách tự đánh giá bản thân dựa trên những mối quan hệ chủ động khác ngoài gia đình (Shebloski, Conger, & Widaman, 2005).
Nhà trường Không chỉ đóng vai trò quan trọng trong môi trường gia đình, giá trị bản thân còn ảnh hưởng đến hoạt động và giao tiếp của cá nhân trong bối cảnh học đường. Các nghiên cứu từ năm 1997 đến 2010 không chỉ giới hạn tại các nước phương Tây mà còn được thực hiện tại một nước Châu Á như Trung Quốc đã giúp cho việc so sánh các quan điểm về giá trị bản thân và ảnh hưởng của nó được thuận tiện hơn. Nghiên cứu “Ngữ dụng học tâm lí ở trẻ vị thành niên: sự hiểu biết xã hội, giá trị bản thân và hành vi tại trường học” (Psychological pragmatics in preadolescents: Sociomoral understanding, self-worth, and school behavior) thực hiện trên 239 thiếu niên của Sandra Leanne Bosacki đã chỉ ra sự liên hệ giữa những chiều kích đa dạng của cái tôi với sự đánh giá của giáo viên về năng lực học tập, tính hiếu chiến cá nhân trong nhóm bạn, những hành vi phù hợp với yêu cầu xã hội và năng lực ngôn ngữ (Bosacki, 2003).