Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự chuyển dịch nhanh chóng của nền kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế tại Việt Nam đã tác động toàn diện đến hệ thống giá trị xã hội, kéo theo sự thay đổi sâu sắc trong định hướng giá trị nghề nghiệp của cá nhân. Đối với các ngành nghề đặc thù làm việc trực tiếp với con người, đặc biệt là ngành Tâm lý học, định hướng giá trị nghề nghiệp giữ vai trò là cơ sở bên trong điều chỉnh hành vi, hình thành động cơ phấn đấu và xây dựng sự gắn bó bền vững với hoạt động nghề nghiệp.
Dưới góc độ tâm lý học phát triển, lứa tuổi sinh viên (từ 18 đến khoảng 24-25 tuổi) là giai đoạn trưởng thành về mặt nhận thức, thể chất và bắt đầu quá trình xã hội hóa nghề nghiệp. Đây là thời kỳ hình thành cấu trúc nhân cách ổn định, tích lũy tri thức chuyên môn và kiến tạo kỳ vọng nghề nghiệp tương lai. Tuy nhiên, do quy luật phát triển tâm lý không đồng đều, kết hợp với sự chi phối từ điều kiện sống và hoàn cảnh giáo dục khác nhau, một bộ phận không nhỏ sinh viên vẫn còn mơ hồ, ảo tưởng hoặc chưa định hình được phương hướng, mục đích học tập cụ thể.
Khóa luận chỉ ra rằng, dù vấn đề giá trị và định hướng giá trị đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm, nhưng tại thời điểm năm 2015, chưa có công trình khoa học nào khảo sát trực tiếp về định hướng giá trị nghề nghiệp trên nhóm khách thể sinh viên chuyên ngành Tâm lý học tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Việc nghiên cứu thực trạng này là cơ sở thực tiễn để tìm kiếm các biện pháp hỗ trợ người học xây dựng thang giá trị nghề nghiệp chuẩn mực.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu thực trạng định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên chuyên ngành Tâm lý học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số biện pháp định hướng giá trị nghề nghiệp phù hợp. Để hiện thực hóa mục đích này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khái quát các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài: khái niệm giá trị, định hướng giá trị, nghề tham vấn tâm lý và định hướng giá trị nghề tham vấn tâm lý.
- Khảo sát thực trạng định hướng giá trị nghề tham vấn tâm lý của sinh viên chuyên ngành Tâm lý học.
- Phân tích nguyên nhân dẫn đến thực trạng định hướng giá trị nghề tham vấn tâm lý ở sinh viên.
- Đề xuất một số biện pháp định hướng giá trị nghề nghiệp cho sinh viên chuyên ngành Tâm lý học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Giả thuyết nghiên cứu
Khóa luận thiết lập hệ thống gồm 4 giả thuyết khoa học:
- Đa số sinh viên lựa chọn hướng làm nghề tham vấn tâm lý sau khi ra trường nhưng chưa định hướng đúng đắn về giá trị của nghề.
- Sinh viên còn khá thụ động trong việc trau dồi các phẩm chất và năng lực nghề nghiệp cần thiết cho nghề tham vấn tâm lý.
- Các yếu tố bên ngoài không ảnh hưởng nhiều đến định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên, mà chính bản thân sinh viên là chủ thể quyết định giá trị mà mình muốn chiếm lĩnh.
- Có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các tham số nghiên cứu như năm học, giới tính, quê quán và hoàn cảnh gia đình với định hướng nghề tham vấn tâm lý của sinh viên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên chuyên ngành Tâm lý học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Khách thể nghiên cứu: 180 sinh viên thuộc các khóa năm thứ nhất, năm thứ hai, năm thứ ba và năm thứ tư chuyên ngành Tâm lý học, Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Giới hạn đề tài: Tập trung nghiên cứu thực trạng định hướng giá trị nghề tham vấn tâm lý của sinh viên tại đơn vị khảo sát nêu trên vào năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên việc kế thừa các quan điểm tâm lý học Mác-xít và tâm lý học hiện đại trong và ngoài nước. Tác giả tiếp cận vấn đề định hướng giá trị thông qua lý luận về xu hướng nhân cách của các nhà tâm lý học Xô Viết, tiêu biểu như khái niệm "Động cơ tạo ý" của A. N. Leontiev, "Xu thế năng động" của S. L. Rubinstein, "Quan hệ chiếm ưu thế" của V. N. Miaxishev, "Tổ chức động cơ các sức mạnh bản chất của con người" của A. S. Pranghishvili và "Xu hướng sống cơ bản" của B. G. Ananhev.
Về bản chất của giá trị học, tác giả vận dụng bộ 4 khái niệm công cụ cơ bản được phân tích bởi các học giả như M. Rozental, Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Thái Duy Tuyên:
- Hệ giá trị: Tổ hợp các giá trị khác nhau được sắp xếp theo các nguyên tắc nhất định, tạo thành một tập hợp toàn vẹn mang tính hệ thống.
- Thang giá trị: Tổ hợp các giá trị được sắp xếp theo một trật tự ưu tiên nhất định tùy thuộc vào chủ thể và bối cảnh lịch sử - xã hội.
- Chuẩn giá trị: Những giá trị giữ vị trí cốt lõi, then chốt, đóng vai trò khuôn mẫu chuẩn mực chung cho đại đa số thành viên trong cộng đồng.
- Thước đo giá trị: Thang giá trị được một chủ thể cụ thể vận dụng để đánh giá hoặc tự đánh giá các hiện tượng xã hội và hành vi.
Khóa luận nhấn mạnh luận điểm của Edmund Husserl và quan điểm triết học Mác-xít: trải nghiệm thông qua hoạt động thực tiễn và giao tiếp chính là "giá đỡ" để hình thành giá trị.
| Nhóm lý thuyết / Khái niệm |
Tác giả tiêu biểu trong văn bản |
Nội dung tiếp cận chính |
| Xu hướng nhân cách & ĐHGT |
A. N. Leontiev, S. L. Rubinstein, V. Yadov, Phạm Minh Hạc |
Xu hướng là thuộc tính chỉ đạo nhân cách; định hướng giá trị là cơ sở bên trong điều chỉnh hành vi và lối sống. |
| Phân loại thang bậc giá trị |
M. Rokeach, UNESCO, Thái Duy Tuyên |
Phân loại theo giá trị mục đích - công cụ; hệ thống 4 nhóm giá trị UNESCO; phân chia giá trị cá nhân và giá trị xã hội. |
| Mô hình nghề tham vấn tâm lý |
C. Rogers, Frank Parsons, Hiệp hội Tham vấn Hoa Kỳ (ACA) |
Tiến trình tương tác trợ giúp; các tiếp cận tâm lý trị liệu; các tiêu chuẩn đạo đức và phẩm chất hành nghề. |
| Mô hình bản chất tham vấn "4 chữ T" |
ThS. Trần Thị Giồng |
4 thuộc tính cốt lõi của hoạt động tham vấn: Tiến trình - Tương tác - Tìm tiềm năng - Tự quyết. |
| Hệ thống giá trị nghề TLH đường |
ThS. Nguyễn Hoàng Khắc Hiểu, ThS. Nguyễn Hồng Phan (2012) |
3 nhóm giá trị nghề: Kết quả/mục đích lao động; Phẩm chất/năng lực nghề nghiệp; Đem lại cho cá nhân và xã hội. |
| Đặc điểm lứa tuổi sinh viên |
B. G. Ananhev, Vũ Thị Nho |
Sự hoàn thiện sinh học (não bộ 1.400g, 100 tỷ nơ-ron); hoạt động học tập mang tính độc lập; năng lực tự ý thức, tự đánh giá. |
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn được triển khai bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích và tổng hợp các công trình lý luận trong nước và quốc tế để xây dựng khung khái niệm.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Công cụ thu thập dữ liệu định lượng và định tính chính, xây dựng các câu hỏi đo lường nhận thức, thái độ, hành vi và các yếu tố ảnh hưởng.
- Phương pháp thống kê toán học: Dữ liệu thu thập từ 180 khách thể được mã hóa, xử lý và phân tích trên phần mềm SPSS for Windows phiên bản 13.0, sử dụng các chỉ số: điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC) và các phép kiểm định sai khác thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về định hướng giá trị nghề tham vấn tâm lý của sinh viên
Chương 1 tập trung hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu và các khái niệm nền tảng về giá trị, nghề tham vấn và tâm lý học lứa tuổi sinh viên:
- Lịch sử nghiên cứu vấn đề: Điểm lại các mốc phát triển trên thế giới từ cuốn sách "Hướng dẫn chọn nghề" (Pháp, 1849), Frank Parsons với "Cẩm nang hướng nghiệp" (1908), Jesse Davis (1907), đến các nghiên cứu quy mô quốc tế của Viện nghiên cứu thế giới của Nhật Bản (11 quốc gia), Viện khảo sát xã hội Châu Âu (EVS trên 10 nước), UNESCO và Chương trình giáo dục các giá trị sống (LVEP với 12 giá trị cốt lõi). Tại Việt Nam, tác giả tổng thuật các đề tài cấp Nhà nước thuộc chương trình KX-07 (chủ nhiệm bởi Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Quang Liên), các luận án của Dương Tự Đam, Nguyễn Thị Khoa, Đỗ Ngọc Hà, Cấn Hữu Hải và các bài báo chuyên ngành của Đặng Vũ Cảnh Linh.
- Tổng quan về nghề tham vấn tâm lý: Khái quát các giai đoạn phát triển của tham vấn từ trường phái phân tâm học, tiếp cận đặc điểm và nhân tố (Williamson), liệu pháp thân chủ trọng tâm (Carl Rogers) đến tham vấn đa văn hóa/xuyên văn hóa. Phân tích lịch sử du nhập hoạt động tham vấn vào Việt Nam từ cuối thập niên 1980 với dấu mốc "Phòng Tư vấn tâm lý" đầu tiên do TS. Tô Thị Anh phụ trách năm 1988 tại TP.HCM, qua đánh giá của ThS. Nguyễn Thị Oanh.
- Xây dựng khung định hướng giá trị nghề tham vấn: Khóa luận xác lập định nghĩa giá trị nghề tham vấn tâm lý dựa trên mô hình của Nguyễn Hoàng Khắc Hiểu và Nguyễn Hồng Phan (2012), phân định theo hai trục: giá trị hướng vào cá nhân (công việc tốt, thu nhập cao, nâng cao chuyên môn, uy tín, hạnh phúc tự thân) và giá trị hướng vào xã hội (khẳng định vị thế nghề, phục vụ cộng đồng, tính nhân văn). Đồng thời, tác giả viện dẫn mô hình "4 chữ T" của ThS. Trần Thị Giồng nhằm khẳng định người hành nghề phải tôn trọng tính "Tiến trình", tính "Tương tác", khơi gợi "Tiềm năng" và tuyệt đối đảm bảo quyền "Tự quyết" của thân chủ.
- Đặc điểm tâm lý sinh viên và các yếu tố ảnh hưởng: Phân tích đặc thù lứa tuổi sinh viên trên các mặt: hoạt động nhận thức chuyên sâu, động cơ học tập, đời sống tình cảm xã hội và năng lực tự ý thức, tự đánh giá. Phân tích ba nhóm môi trường tác động chính đến sự hình thành định hướng giá trị nghề nghiệp gồm: Gia đình (truyền thống, lối sống, nghề nghiệp của cha mẹ), Nhà trường (chương trình đào tạo, tấm gương giảng viên, môi trường sư phạm) và Xã hội (biến động thị trường lao động, thang giá trị thời kỳ hội nhập).
Chương 2: Kết quả khảo sát thực trạng về định hướng giá trị nghề tham vấn tâm lý của sinh viên chuyên ngành Tâm lý học Trường Đại học Sư phạm TP.HCM
Chương 2 trình bày toàn bộ các phát hiện định lượng rút ra từ cuộc khảo sát 180 sinh viên chuyên ngành Tâm lý học tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM. Cấu trúc nội dung chương được tổ chức qua các chủ đề và danh mục bảng số liệu thực chứng:
Chương 2: Khảo sát thực trạng
Nội dung trọng tâm của chương phản ánh chi tiết các khía cạnh:
- Đặc điểm mẫu khảo sát: Thống kê khách thể nghiên cứu đa dạng theo các biến nhân khẩu: giới tính, năm học (năm 1 đến năm 4), tôn giáo, nơi đăng ký hộ khẩu, nghề nghiệp của cha, nghề nghiệp của mẹ, điểm học tập học kỳ gần nhất và vị trí thực tập (Bảng 2.1).
- Mức độ hiểu biết và định hướng công việc: Đánh giá lý do sinh viên chọn theo học ngành Tâm lý học (Bảng 2.3), mức độ nhận thức về đặc thù chuyên môn ngành nghề (Bảng 2.4, Biểu đồ 2.1) và khuynh hướng dự kiến việc làm sau khi ra trường (Bảng 2.5, Biểu đồ 2.2).
- Hệ thống định hướng giá trị nghề tham vấn: Khảo sát mức độ ưu tiên giữa các giá trị nghề nghiệp (Bảng 2.6), xác định các giá trị cốt lõi (Bảng 2.7, Biểu đồ 2.3) và kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa định hướng giá trị nghề nghiệp với biến số giới tính (Bảng 2.8).
- Nhận thức về phẩm chất và kỹ năng: Đo lường đánh giá của người học về hệ thống yêu cầu chuyên môn của một nhà tham vấn chuyên nghiệp, đối chiếu giữa tiêu chuẩn lý luận (ba phẩm chất của Carl Rogers: trung thực, tôn trọng vô điều kiện, thấu hiểu trọn vẹn) với thực tế nhận thức sinh viên (Bảng 2.9).
- Thái độ và hành động thực tế: Đối chiếu giữa mức độ quan tâm về mặt thái độ (Bảng 2.10) với những việc làm hành vi cụ thể mà sinh viên đã thực hiện trong quá trình học tập để tích lũy giá trị nghề nghiệp (Bảng 2.11).
- Phân tích các yếu tố tác động: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các tác nhân bên trong và bên ngoài (Bảng 2.12), đặc biệt phân tích tương quan giữa nghề nghiệp của cha/mẹ với sự định hướng thang giá trị của con cái (Bảng 2.13).
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
Dựa trên kết quả khảo sát và xử lý dữ liệu bằng SPSS 13.0, tác giả rút ra các kết luận thực tiễn:
| Khía cạnh khảo sát |
Kết quả ghi nhận từ dữ liệu thực chứng của khóa luận |
| Khuynh hướng chọn nghề |
Tỷ lệ lớn sinh viên ngành Tâm lý học hướng tới làm việc trong lĩnh vực tham vấn tâm lý sau tốt nghiệp, tuy nhiên mức độ thấu hiểu đầy đủ về bản chất và giá trị nghề nghiệp còn có sự chênh lệch giữa các khóa học. |
| Định hướng giá trị cốt lõi |
Sinh viên có xu hướng đánh giá cao các giá trị nhân văn và giá trị xã hội của nghề (trợ giúp thân chủ, đóng góp cộng đồng), song còn bộc lộ sự lúng túng trong việc dung hòa các giá trị cá nhân (thu nhập, vị thế, cơ hội thăng tiến). |
| Nhận thức về phẩm chất |
Sinh viên nhận thức rõ tầm quan trọng của các yêu cầu đạo đức và kỹ năng tham vấn (tôn trọng thân chủ, tính bảo mật, thấu cảm), nhưng mức độ nhận diện các giới hạn năng lực chuyên môn bản thân chưa thực sự sâu sắc. |
| Khoảng cách giữa thái độ và hành vi |
Tồn tại khoảng cách rõ rệt: đa số sinh viên bày tỏ thái độ tích cực đối với việc rèn luyện nghề, song mức độ tham gia vào các hành vi chủ động trau dồi (tự học, thực hành kỹ năng, nghiên cứu tài liệu chuyên môn) còn ở mức thụ động. |
| Yếu tố tác động chi phối |
Tính tự quyết và động cơ nội tại của bản thân sinh viên giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng giá trị nghề; bên cạnh đó, các yếu tố môi trường (đặc biệt là nghề nghiệp của cha mẹ và môi trường giáo dục của trường đại học) có tác động điều tiết đáng kể. |
Các giải pháp và kiến nghị của tác giả
Nhằm nâng cao hiệu quả định hướng giá trị nghề nghiệp cho người học, tác giả đưa ra một số nhóm biện pháp:
- Đối với Khoa Tâm lý - Giáo dục và Nhà trường: Tăng cường thời lượng thực hành nghề nghiệp, tổ chức các hội thảo chuyên đề kết nối sinh viên với các nhà tham vấn tâm lý thực địa; cập nhật giáo trình theo hướng tiếp cận tham vấn hiện đại; tạo dựng môi trường rèn luyện các giá trị đạo đức nghề nghiệp ngay trong khuôn viên sư phạm.
- Đối với đội ngũ giảng viên: Đổi mới phương pháp giảng dạy, lồng ghép giáo dục đạo đức và chuẩn mực nghề tham vấn trong từng bài giảng lý thuyết; đóng vai trò là hình mẫu nghề nghiệp (role model) chuẩn mực về tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nghề để sinh viên noi theo.
- Đối với sinh viên chuyên ngành: Chuyển hóa nhận thức thành hành động cụ thể; chủ động tìm kiếm các cơ hội thực tập, trải nghiệm thực tế; tự rèn luyện các phẩm chất cốt lõi của nhà tham vấn (lắng nghe không phán xét, thấu cảm trọn vẹn, trung thực và bảo mật thông tin).
Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận: Khóa luận hệ thống hóa một cách toàn diện khung lý thuyết về định hướng giá trị nghề nghiệp nói chung và nghề tham vấn tâm lý nói riêng trong bối cảnh giáo dục đại học tại Việt Nam, kết hợp lý thuyết tâm lý học Xô Viết, các mô hình tham vấn phương Tây và các đúc kết thực tiễn của các nhà tâm lý học trong nước.
- Về mặt thực tiễn: Đây là công trình thực chứng tiên phong khảo sát cụ thể trên 180 sinh viên chuyên ngành Tâm lý học Trường Đại học Sư phạm TP.HCM. Bộ dữ liệu cung cấp bức tranh chân thực về khuynh hướng nghề nghiệp, nhận thức phẩm chất và hành vi thực tế của sinh viên sư phạm, đóng vai trò là tư liệu tham khảo xác thực cho công tác quản lý đào tạo và hướng nghiệp tại nhà trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Do là công trình nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp đầu tay của tác giả, nghiên cứu còn gặp hạn chế về kinh nghiệm thực địa và kiến thức chuyên sâu; quá trình thu thập và xử lý dữ liệu có giai đoạn bị chậm tiến độ vì lý do cá nhân. Về phạm vi mẫu, đề tài chỉ giới hạn khảo sát 180 sinh viên tại một cơ sở đào tạo duy nhất (Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM), do đó tính khái quát hóa cho toàn bộ sinh viên ngành Tâm lý học trên cả nước còn bị giới hạn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng quy mô chọn mẫu sang các trường đại học khác có đào tạo ngành Tâm lý học (như Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn); triển khai các nghiên cứu theo chiều dọc (longitudinal study) theo dõi sự biến đổi thang giá trị của sinh viên từ năm thứ nhất đến sau khi tốt nghiệp đi làm; đồng thời thử nghiệm các mô hình can thiệp tâm lý - giáo dục nhằm định hướng giá trị nghề nghiệp cụ thể cho sinh viên.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này mang lại giá trị tham khảo học thuật hữu ích cho:
- Sinh viên ngành Tâm lý học, Giáo dục học và Công tác xã hội: Nguồn tài liệu tham khảo tốt về phương pháp xây dựng đề cương khóa luận tốt nghiệp, cách thức thiết kế bảng hỏi khảo sát định lượng và quy trình xử lý dữ liệu thống kê mô tả bằng phần mềm SPSS.
- Giảng viên và nhà quản lý giáo dục đại học: Dữ liệu thực chứng giúp các nhà quản lý nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, nhận thức và sự thụ động trong hành vi rèn nghề của sinh viên, từ đó điều chỉnh chương trình đào tạo và tăng cường hoạt động cố vấn nghề nghiệp.
- Các nhà nghiên cứu về Giá trị học và Tâm lý học nghề nghiệp: Tham khảo việc vận dụng hệ thống lý luận (bộ 4 khái niệm công cụ: hệ giá trị, thang giá trị, chuẩn giá trị, thước đo giá trị) và các khung phân loại giá trị nghề nghiệp tham vấn (đặc biệt là mô hình 4 chữ T và hệ thống giá trị nghề nghiệp của Nguyễn Hoàng Khắc Hiểu - Nguyễn Hồng Phan).
Câu hỏi thường gặp
1. Khách thể nghiên cứu trong khóa luận được chọn với quy mô bao nhiêu và phân bổ theo các tiêu chí nào?
Nghiên cứu được thực hiện trên khách thể gồm 180 sinh viên chuyên ngành Tâm lý học thuộc Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM. Mẫu khảo sát phân bổ đều từ sinh viên năm thứ nhất đến năm thứ tư và được phân tích theo 8 biến nhân khẩu học chính: giới tính, năm học, tôn giáo, hộ khẩu thường trú, nghề nghiệp của cha, nghề nghiệp của mẹ, kết quả học tập học kỳ gần nhất và vị trí thực tập (theo Bảng 2.1 của khóa luận).
2. Mô hình "4 chữ T" của ThS. Trần Thị Giồng được tác giả trích dẫn để định nghĩa nghề tham vấn tâm lý gồm những yếu tố nào?
Tác giả tiếp cận nghề tham vấn thông qua khái niệm gói gọn trong "4 chữ T" của ThS. Trần Thị Giồng:
- Tiến trình: Tham vấn là tiến trình có mở đầu, diễn biến và kết thúc, hướng tới mở ra tiềm năng và đòi hỏi sự trưởng thành của cả thân chủ lẫn nhà tham vấn.
- Tương tác: Sự trò chuyện, chia sẻ hai chiều trung thực, tích cực giữa nhà tham vấn và thân chủ dựa trên năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp.
- Tìm tiềm năng: Nhà tham vấn tin tưởng vào sức mạnh của thân chủ, khơi gợi những điểm mạnh còn ẩn giấu trong vô thức để họ tự giải quyết vấn đề.
- Tự quyết: Tôn trọng quyền tự định đoạt và tự chịu trách nhiệm của thân chủ; nhà tham vấn chỉ hỗ trợ thông tin, không làm thay hoặc áp đặt lời khuyên chủ quan.
3. Khung phân loại giá trị nghề tham vấn tâm lý trong khóa luận được xây dựng dựa trên công trình nghiên cứu nào?
Tác giả kế thừa trực tiếp khung phân loại giá trị nghề tham vấn từ công trình nghiên cứu của ThS. Nguyễn Hoàng Khắc Hiểu và ThS. Nguyễn Hồng Phan (báo cáo tại Hội thảo Khoa học Quốc tế Tâm lý học đường lần thứ 3, năm 2012). Khung này chia hệ giá trị nghề tham vấn thành 3 nhóm:
- Nhóm giá trị về kết quả và mục đích lao động (trợ giúp thân chủ, tạo sự tin tưởng, hiệu quả tham vấn).
- Nhóm giá trị về phẩm chất và năng lực nghề nghiệp (đạo đức nghề nghiệp, tính kín đáo bảo mật, uy tín chuyên môn, trau dồi nghiệp vụ).
- Nhóm giá trị đem lại cho cá nhân và xã hội (thu nhập, việc làm phù hợp, cơ hội giúp đỡ mọi người, khẳng định vị thế nghề nghiệp).
4. Phần mềm và phương pháp xử lý dữ liệu định lượng nào được tác giả sử dụng trong nghiên cứu?
Để xử lý dữ liệu thu được từ bảng hỏi khảo sát trên 180 sinh viên, tác giả sử dụng phương pháp thống kê toán học thông qua phần mềm SPSS for Windows phiên bản 13.0. Các tham số chính được tính toán và kiểm định gồm có: điểm trung bình (viết tắt là PTB trong văn bản), độ lệch chuẩn (viết tắt là PLC) và các phép so sánh kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các biến nhân khẩu học.
5. Nghiên cứu kiểm tra giả thuyết nào liên quan đến yếu tố bên ngoài và tính tự quyết của sinh viên?
Đề tài đặt ra giả thuyết khoa học số 3: "Các yếu tố bên ngoài không ảnh hưởng nhiều đến định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên, mà chính bản thân sinh viên là người quyết định giá trị mà mình muốn chiếm lĩnh là gì". Kết quả khảo sát tại Chương 2 (Bảng 2.12 và Bảng 2.13) đã tiến hành đo lường mức độ tác động của gia đình, nhà trường, xã hội so với vai trò tự ý thức, tự đánh giá của bản thân sinh viên để kiểm chứng giả thuyết này.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Xuyến là một công trình nghiên cứu thực nghiệm tâm lý học nghiêm túc, giải quyết bài bản vấn đề định hướng giá trị nghề tham vấn tâm lý của 180 sinh viên Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM. Tác giả đã kết nối thành công hệ thống lý luận giá trị học kinh điển với các tiêu chuẩn nghề nghiệp tham vấn hiện đại thông qua phương pháp điều tra bảng hỏi và xử lý dữ liệu định lượng bằng SPSS 13.0. Những phát hiện về khoảng cách giữa nhận thức và hành vi rèn nghề của sinh viên là cơ sở thực tế quan trọng để nhà trường và khoa chuyên môn đưa ra các biện pháp đào tạo, bồi dưỡng phù hợp cho nguồn nhân lực tâm lý học tương lai.