Chương 1: Cơ sở lý luận 1. So lược lich sử nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp Vấn để ĐHNN lả một trong những vấn đề được nhiều nha khoa học trong và ngoai nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu: 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài 1.
Những nghiên cứu ở Phương Tây Tư tưởng ĐHNN cho thế hệ trẻ đã có từ thời cổ đại dưới dạng rất sơ khai và biểu hiện thông qua việc phân chia lao động theo địa vị và xuất thân của mỗi người trong xã hội. Đến thé ky XIX khi nén sản xuất phát triển cùng với những tư tưởng tích cực về giải phóng con người diễn ra trên khắp thế giới thì khoa học hướng nghiệp hay DHNN mới thực sự trở thành một khoa học độc lập. Năm 1908, Giáo sư đại học Pensylvania, Frank Parson là người đặt nền móng các khái niệm cơ bản cho hoạt động tư vấn hướng nghiệp (career counseling) hay tư vấn nghề (vocational guidance) ngày nay. Đông thời năm 1908, ông cũng đã thành lập hội đồng hướng nghiệp ở Boston (Mỹ) với nhiệm vụ nghiên cứu các yêu cầu của nghé đối với con người, tìm hiểu chỉ tiết về năng lực của người học dé giúp họ có được sự DHNN phù hợp với năng lực và hứng thú cá nhân [41, tr.
Một năm sau, cũng chính Frank Parsons là người đầu tiên, trình bày khái niệm hướng nghiệp trong cuỗn sách “Lua chọn một nghề nghiệp" (Choosing a Vocation, 1909). Những khái niệm này đã trở thành lý luận cơ sở cho những lý thuyết có liên quan đến đặc điểm tính cách con người (trait) và yếu tổ nghề (factor) - (Trait and factor theory: lý thuyết đặc điểm ngudi/nghé). Nhìn chung, cuốn sách là công trình nên tảng trình bay 15 cơ sở TLH của hướng nghiệp va chọn nghẻ, cũng như các tiêu chí vé sự phù hợp nghề của mỗi cá nhân dé từ đó lựa chọn nghề cho phù hợp [10]. Vào những năm 1940, nhà TLH người Mỹ J.L Holland (1919 — 2008) đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách vả sở thích nghề nghiệp.
Tác giả đã chi ra tương ứng với mỗi kiểu nhân cách là một số những nghề nghiệp tương xứng có thé chon đề đạt được kết quả làm việc và thảnh công nghé nghiệp cao nhất. Lý thuyết nay của J. L Holland đã được sử dụng rộng rãi nhất trong thực tiễn hướng nghiệp trên thế giới [90]. Đến năm 1948, cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề" xuất bản ở Pháp được xem là cuốn sách đầu tiên nói về DHNN.
Nội dung của cuốn sách dé cập đến sự phát triển đa dạng của các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của công nghiệp. Từ đó rút ra những kết luận coi giáo dục hướng nghiệp là một van dé quan trọng không thẻ thiếu khi xã hội loải người càng ngày có những bước tiến vượt bậc [9]. Tiếp tục phát triển đến năm 1970, 1980 ở Mỹ đã kết hợp chặt chẽ việc tư vấn nghé với chương trình công nghệ và dạy nghề. Những nhà nghiên cứu ở đây cũng đã đưa môn “Hướng dẫn chọn nghề - Career Guidance” vào giảng dạy ở trường Trung học.
Sau đó là từ bậc Trung học đến DH đều có các có van học tập hay cố van tâm lý lam việc. Day cũng la những cơ sở ban đầu rat quan trọng của việc tham vấn hướng nghiệp như: tim hiểu bản thân, xác định khả năng, tìm hiểu về nghề dé tìm ra những định hướng chon nghe trong tương lai sao cho thật phù hợp [84]. Nam 1974, cuốn sách “Nghiên cứu định hướng” của nha TLH người Mỹ John L. Holland lại tiếp tục bàn về ĐHNN với dụng cụ tư van, những đặc điểm môi trường và con người dẫn đến việc chọn nghệ, học nghề, gắn bó và thành công với nghé nghiệp của con người được xuất ban lần dau tiên, đến nay nó đã được sửa đổi nhiều lần va 16 trong mỗi lần xuất bản mới, đều được Holland sửa đôi theo quan điểm mới của ông và theo dé xuất của khách hàng hay của các nhà phê bình { 10, tr.
Tiếp theo đó, hang loạt các bài phê bình vẻ công trình nghiên cứu DHNN của John Holland như: các bai phê bình của Bodden (1987). Danicls (1989, 1994) và của Manuelle — Adkins (1989) nhận xét và cho rằng J. Holland đã đạt được mục dich nghiên cứu về DHNN với: Dụng cụ tư van được nhiều người lớn và thanh niên sử dụng dé tư vấn và ĐHNN; Cơ cấu tổ chức thông tin nghề nghiệp va con người nhằm hỗ trợ quyết định nghề nghiệp: Dụng cụ đo nghiệm tinh than hoàn chỉnh cho người nghiên cứu trong điều tra tính cơ sở và tính hợp lý của lý thuyết 6 tính cách, thưởng gọi tắt là RIASEC [9]. Năm 1995, Meir, Melamed & Dinur nghiên cứu sự phù hợp giữa nghẻ nghiệp và những kỳ năng có tương quan tích cực dy báo thành công trong công việc vả nghề nghiệp.
Cho đến khi cuén “Ap dụng lý thuyết phát triển nghẻ nghiệp trong tư vấn” (Applying Career Development Theory to Counseling) của Richard S. Sharf ra đời, đã mở rộng phạm vi tư vẫn tâm lý sang lĩnh vực mới - tư vẫn ĐHNN cho các đối tượng có nhu cầu trong xã hội {I0]. Ngoài những nghiên cứu ở các nước Mỹ, Pháp, Đức. các nhà nghiên cứu ở các nước Phương Tây khác cũng đặc biệt quan tầm đến DHNN cho thể hệ trẻ, cụ thẻ như: H.
Perho, nha TLH người Phan Lan đã tiến hành nghiên cứu “DHNN và nghệ thuật sư phạm trong dao tạo giáo viên phỏ thông”. Kết qua cho thấy, trong động cơ học tập của SV, ước muốn nhận được điểm cao mạnh hơn ước muốn trở thành thầy giáo giỏi. Qua đó, ông cảnh báo và kêu gọi tổ chức lại hệ thống (quy trinh) tuyển sinh ngành Sư phạm. Một nhà TLH Phần Lan khác, M.
Volanen cũng nghiên cứu về DHNN và thích ứng việc làm ở thanh niên. Kết quả cho thấy, những đánh giá chủ quan của thời kỷ học nghệ ảnh hưởng mạnh mẽ đến DHNN của thanh niên nhiều hơn so với thời kỳ làm việc đầu tiên và phụ thuộc vào quá trình thích ứng nghê nghiệp của thanh niên. Ransenbakh cũng nghiên cứu về DHNN gắn với định hướng giá trị và các kế hoạch cuộc sóng của SV. Những công trình đó cho chúng ta góc nhìn cận cảnh hơn về DHNN của thanh niên, SV trong giai đoạn lúc bấy giờ ở Phan Lan [18, tr.
Như vậy, nhìn chung trọng tâm các nghiên cứu ĐHNN ở các nước phương Tây chủ yếu sử dụng các phương tiện, thiết bị, công cụ chuyên môn nhằm tham vin chuyên sâu từng đối tượng với mục đích xác định xu hướng và sự phù hợp nghề nghiệp của thanh niên đối với nghề này hay nghề khác, giúp đỡ thanh niên lựa chọn và quyết định nghẻ nghiệp phù hợp. Những nghiên cứu ở Liên Xô Ở Liên Xô (cũ) vào những năm 29, 30 của thé ky XX, van dé hướng nghiệp cho HS cũng được các nhà khoa học va lãnh đạo chính quyền Xô Viết đặc biệt quan tâm. Nhà giáo dục học lỗi lạc N. K Crupxkaia đã từng nêu lên luận điểm “Ty do chọn nghề” cho mỗi thanh thiếu niên.
Theo bà, công tác hướng nghiệp giúp cho trẻ phát triển được hứng thú và năng lực nghẻ nghiệp, giáo dục cho các em thái độ lao động đúng đắn, động cơ chọn nghề trong sáng. Từ đó các em có thai độ tự giác trong việc chọn nghé [10. Dựa trên cơ sở các luận điểm về hướng nghiệp của C.I Lênin các nha giáo dục Liên Xô như B.A Pôliacôp trong các tác phẩm và công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra tam quan trọng của giáo dục hướng nghiệp và ĐHNN cho thế hệ trẻ sẽ là cơ sở để họ chọn nghẻ đúng đắn, phù hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân với nhu cau xã hội [70]. Trong những năm 1970, nhà TLH lao động người Liên Xô E.Kalimốp đã đưa ra trắc nghiệm “Xác định kiểu nghệ can chọn trên cở sở tự đánh giá" với 30 câu hỏi.
Cùng thời gian đó, A.Côlômtốc cũng đưa ra trắc nghiệm đo hứng thú nghề nghiệp với 78 18 câu hỏi. Cùng thời điểm, nhiều nha khoa học ở Liên Xô cũ xem “Tam giác hướng nghiệp” của K. Platonov là yêu câu chuẩn xác cho việc chọn ngành nghề. Tác giả của quan điểm “tam giác hướng nghiệp” vạch ra ba yếu tổ cơ bản của việc chọn nghề la: đặc điểm cá nhân, tính chất nghệ nghiệp va nhu cau xã hội, Thực tế cho thay tam giác nay khá quan trọng nhưng chưa thực sy lả những co sử hoan toan nhủ hgp va thỏa dang dé học sinh chọn nghề vì con những điều kiện khác như: kha năng học tập, thời gian học tập.
cũng ảnh hưởng nhiều đến việc chon nghé, học nghề va làm nghề [ L0, tr. Ngoài ra, có thé dé cập thêm một số công trình nghiên cứu vẻ hứng thủ và ĐHNN của các tác gia: V. Barbinova cũng phan ánh phần nao xu hướng nghé nghiện của học sinh. HS ở một vai quốc gia mà nhiều nhất là ở Liên Xô cũ thường có dự định tiến thu nên học van cao hơn và không muốn đi làm ngay.
Những tang kết cho thay những năm 1970, HS cỏ xu hướng với những nghẻ thuộc lĩnh vực sản xuất. Nhưng đến những năm 1985, HS lại thích thú với các nghe lĩnh vực xã hội. Đặc biệt, giữa hoc HS nữ va HS nam có sự khác biệt khi HS nam quan tâm nhiễu đến lĩnh vực kỹ thuật trong khi HS nữ lại quan tim hơn với các nghề như: y tế, giáo dục, nghệ thuật [64, tr. Nhu vậy, các công trình nghiên cửu ĐHNN ở Liên X6 đã vạch ra các yếu tố cơ bản (đặc điểm cá nhắn, tinh chất ngành học, nghề nghiệp, nhu cau xã hội) ảnh hưởng đến quá trình DHNN.
Đẳng thời đưa ra những cơ sở, những luận cir khoa hoc giún cho việc ĐHNN của thé hệ trẻ được chuẩn xác hơn. Qua đó, để cao vai trò quan trọng của công tác ĐHNN đổi với xã hội nói chung vả thé hệ trẻ nói riêng. Những oghién cứu ở Việt Nam Nghiên cứu hướng nghiệp và DHNN ở Việt Nam, theo các chuyển gia đã có những bước phát triển mạnh mẽ vào những năm 1970, 1980. Tiếp thu những thành tựu của = 19 | THU VIEN Trang Đại-Học Su-Pham TP MO CAEN các nước trên thể giới và thực tiễn nghiên cứu trong nước.
Thời gian gan đây giáo dục hưởng nghiệp va DHNN ở Việt Nam đã có rat nhiều các công trình nghiên cửu với các cách tiếp cận khác nhau. Điều đó tạo nên một giai đoạn mới với sự đa dang trong nghiên cửu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam. Pau tiên phải ké đến những nha khoa học đi tiền phong trong lĩnh vực nảy như GS.