Chương 1: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định lựa chọn việc làm của sinh viên sau khi ra trường 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu định hướng lựa chọn việc làm của sinh viên sau ra trường luôn là một dé tài nhận được sự chú ý của các nhà nghiên cứu và được giới nghiên cứu quan tâm trong suôt những năm vừa qua. Cho đên nay, trên thê giới đã có rât nhiêu công trình nghiên cứu tiêu biêu cho đê tài này, điên hình như: Trong nghiên cứu “Factors Influencing High School Students’ Career Aspirations” của minh năm 2008, nhóm tac gia Mei Tang, Wei Pan va Mark D.Newmeyer đã tìm hiểu các yêu tố ảnh hưởng đến nguyện vọng nghề nghiệp của học sinh trung học với một nghiên cứu phân tích 141 học sinh trung học.
Mô hình phát triển nghề nghiệp nhận thức xã hội được sử dụng dé kiểm tra các mỗi quan hệ tương tác giữa kinh nghiệm học tập, hiệu quả nghè nghiệp của bản thân, kỳ vọng kết quả, sở thích nghề nghiệp va lựa chọn nghề nghiệp. Nghiên cứu đã khám phá ra rằng các biến dự đoán đối với nguyện vọng nghề nghiệp giữa học sinh trung học nữ và học sinh trung học nam được cho là khác nhau H.Meddour cùng cộng sự (2016) nghiên cứu đề tài “Factors affecting career choice among undergraduate students in universitas Indonesia”( tạm dich: các yếu tố anh hưởng đến sự lựa chon nghề nghiệp của sinh viên dai học tai Dai học Indonesia). Sinh viên đại học được chọn đặc biệt trong nghiên cứu này vì họ phải đối mặt với sự lựa chọn nghề nghiệp ngay khi tốt nghiệp. Bằng phương pháp định lượng sử dụng số liệu sơ cấp, nghiên cứu cho thấy với số mẫu n= 298 thì ảnh hưởng của hiệu quả bản thân (1), gia đình (2), lợi ích cá nhân (3), và cân nhắc kinh tế (4) có mối quan hệ tích cực với sự lựa chọn nghề nghiệp.
Hơn nữa, kết quả phân tích hồi quy cho thấy các yếu tô gia đình, hiệu quả bản thân, sở thích cá nhân va cân nhắc kinh tế có ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn nghề nghiệp. Trong nghiên cứu, sự lựa chọn nghề nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ cha mẹ, tiếp theo là giáo viên. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt giới tính trong lựa chọn việc làm. Nhìn chung, động lực làm việc được tìm thấy chủ yếu là liên quan đến tiền bạc và yêu thích công việc.
Rất thấp trong danh sách là các mục tiêu dai han, chăng hạn như phát triển cá nhân, thăng tiến nghề nghiệp hoặc lương hưu. Đáng chú ý nhất, các sinh viên coi tình trạng đó xuât phát từ tài sản hơn là việc làm. Mingming Zhou và Yabo Xu (2013) trong nghiên cứu “University Students’ Career Choice and Emotional Well-Being” đã tổng hợp va cho thay tac động của tình cam hạnh phúc đối với sự lựa chọn nghề nghiệp của một người chưa được quan tâm đúng mức. Nghiên cứu này đã khảo sát 137 sinh viên đại học Trung Quốc về hạnh phúc, sự hài lòng và hy vọng trong cuộc sống cũng như quá trình ra quyết định nghề nghiệp của họ.
Kết quả cho thấy những sinh viên hài lòng hơn và hy vọng hơn vào cuộc sống nói chung là những người chủ động quyết định trong việc lựa chọn nghề nghiệp của họ, nhận thức rõ hơn về điểm mạnh và điểm yếu của mình, hiểu biết hơn về nghề nghiệp tương lai của họ và thừa nhận tầm quan trọng của nghề nghiệp của họ. Gurcan Seker (2020) “Well-Being and Career Anxiety as Predictors of Career Indecision” da thuc hién danh gia mối quan hệ giữa mức độ hạnh phúc của học sinh trung học với mức độ lo lang nghề nghiệp va sự thiếu quyết đoán trong nghề nghiệp. Nghiên cứu khảo sát 663 học sinh (398 nữ sinh, 265 nam sinh) đang học tại các trường trung học phô thông và trung học dạy nghề ở Anatolia. Kết quả nghiên cứu cho thấy hạnh phúc và sự lo lắng nghề nghiệp là những yếu tố dự báo đáng kể về sự thiếu quyết đoán trong nghề nghiệp.
Các biến số về hạnh phúc và lo lắng về nghề nghiệp (lo lắng về ảnh hưởng gia đình, lo lắng về lựa chọn nghề nghiệp) giải thích 43% tông phương sai cho sự do dự trong nghề nghiệp. Tansu Mutlu và Fidan Korkut (2021) với nghiên cứu “Testing a model of career decision-making difficulties among adolescents” đã nghiên cứu các mối quan hệ cau trúc giữa sự tự tin vào việc ra quyết định nghề nghiệp, sức khỏe chủ quan, trình độ kinh tế xã hội và những khó khăn trong việc ra quyết định nghề nghiệp của thanh thiếu niên. Nghiên cứu sử dụng 680 mẫu khảo sát từ đối tượng là học sinh lớp 9. Kết quả phân tích SEM của nghiên cứu chỉ ra rằng năng lực tự quyết định nghề nghiệp, sức khỏe chủ quan và mức độ kinh tế xã hội tiêu cực dự đoán đáng ké những khó khăn trong việc ra quyết định nghề nghiệp của thanh thiếu niên.
Bài nghiên cứu “Fragmented career orientation: the formation of career importance, decidedness and aspirations among students” cua tac gia Nabil Khattab cùng cộng su (2022) đã kiểm định sự hình thành và mối quan hệ lẫn nhau giữa tầm quan trọng nghề nghiệp, tính quyết định và nguyện vọng của những học sinh. Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu được lấy từ cuộc khảo sát 'Trải nghiệm trường học, nguyện vọng giáo dục và thành tích học tập ở Qatar' 2018-2020. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy định hướng nghề nghiệp trong tương lai của giới trẻ có xu hướng rời rạc và thiếu mạch lac. Tin tưởng vào vi trí trung tâm của công việc và việc làm trong cuộc sống của một người không nhất thiết giúp những người trẻ tuôi chắc chắn hơn về nghè nghiệp tương lai của họ hoặc thúc đây khát vọng nghề nghiệp của họ.
Kết quả cũng cho thấy tầm quan trọng, quyết định và nguyện vọng nghè nghiệp 8 được định hình bởi các yếu tố khác nhau, cung cấp thêm bằng chứng cho sự thiếu nhất quán trong định hướng nghè nghiệp tương lai của thanh niên trong thời kỳ bất an và bất ôn lớn hơn. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Bên cạnh những nghiên cứu quốc tế về các yếu tố ảnh hưởng tới ý định lựa chọn việc làm của sinh viên sau ra trường, tại Việt Nam, các đề tài liên quan đến định hướng nghề nghiệp, quyết định lựa chọn việc làm của sinh viên sau ra trường cũng nhận được sự quan tâm rất lớn của các nhà nghiên cứu trong nước. Một sé nghién cứu dién hình về các yếu tố ảnh hưởng tới ý định lựa chọn việc làm của sinh viên sau ra trường được nghiên cứu ở Việt Nam có thê kê đên như: Nghiên cứu “Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp của học sinh trung học phô thông tại Nghệ An” của Nguyễn Thị Kim Nhung và Lương Thị Thanh Vinh năm 2018 đã chỉ ra hai yếu t6 là bản thân cá nhân người học (1) và gia đình (2) có ảnh hưởng tới quyết định nghề nghiệp. Nghiên cứu cũng chỉ rõ việc lựa chọn nghé của học sinh phần lớn không xuất phát từ năng lực, sở thích hay lý tưởng của họ mà chủ yếu là do nhận thức của người học về sự tác động của học lực đến lựa chọn nghề cũng.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra học lực của cha mẹ sẽ có tác động thuận chiều đến mức độ can thiệp vào quyết định nghề nghiệp của con cái. Kết quả nghiên cứu “Nghiên cứu các yếu tô ảnh hưởng tới việc quyết định lựa chọn việc làm sau khi ra trường của sinh viên khối ngành kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh” của Hồ Quốc Nam và cộng sự (2017) cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn việc làm của sinh viên khối ngành kinh tế sau khi ra trường gồm các yếu tô là Cá nhân (1), Kỳ vọng (2) với hệ số beta lần lượt là 0,435 và 0,423. Ngoài ra, với việc sử dụng phân tích ANOVA, nghiên cứu khăng định không có sự khác biệt giữa yếu tố nhân khâu học đối với quyết định lựa chọn việc làm sau khi ra trường của sinh viên. Trước đó, với đề tài “Dinh hướng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp” năm 2012 được thực hiện với sinh viên của các trường đại học tại thành phố Cần Thơ, Võ Tan Đạt đã phân tích các vẫn đề có liên quan đến việc định hướng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Nghiên cứu cũng chỉ ra 7 yêu tô tác động đến việc định hướng việc làm của sinh viên bao gồm: Năng lực bản thân (1), Môi trường làm việc (2), Thị trường lao động (3), Sự hấp dẫn của địa phương(4), Đặc điểm công ty (5), Điều kiện gia đình (6), Chính sách ưu đãi(7). Hơn nữa nghiên cứu cũng chỉ ra rằng yếu tố Năng lực bản thân đóng một vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định nghê của sinh viên. Ngô Quynh An (2012) “Tang cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên Việt Nam” thực hiện khảo sát với nhóm đối tượng có độ tuổi từ 15 tudi — 29 tuổi. Nghiên cứu đã phát hiện những yếu té thúc đây hoặc kim hãm khả năng tự tạo việc làm của thanh niên cùng với đó là chỉ ra vai trò của vốn con người và vốn xã hội đối với khả năng tự tạo việc làm.
Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ dừng ở việc tìm hiểu sự tác động của các nguồn vốn đến khả năng tìm kiếm cơ hội việc làm chứ chưa đề cập sâu về thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên Việt Nam hiện nay. Vũ Thị Huệ (2014) với nghiên cứu “Việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên ngành xã hội học, thực trạng và giải pháp” đã chi ra thực trạng việc làm của sinh viên ngành xã hội học sau khi tốt nghiệp ra trường. Nghiên cứu đã phân tích, đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng trong quá trình xin việc và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tìm kiếm việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp như các khóa dao tạo bên ngoài nhà trường, kiến thức chuyên môn và kỹ năng mềm, hoạt động làm 10 thêm.Cuôi cùng, nghiên cứu có đóng góp một sô ý kiên nhăm nâng cao khả năng tìm kiếm việc làm cho sinh viên tốt nghiệp khoa Xã hội học trong tương lai. Nguyễn Ngọc Hà Trân (2022) với nghiên cứu “Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến quyết định làm việc trái ngành và trái trình độ: Trường hợp nghiên cứu tại Việt Nam” đã nhận định rằng sự bùng nd số lượng các trường đại học, cao đăng ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã dẫn đến sự mat cân đối trên thị trường lao động.